ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TẠ ANH TUẤN
“QUAN HỆ THƢƠNG MẠI VIỆT NAM - NHẬT BẢN
TỪ SAU KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH CHÂU Á 1997 - 1998”
Chuyên ngành: Quan hệ Quốc tế
Mã số: 60 31 02 06
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TẠ ANH TUẤN
Chuyên ngành: Quan hệ Quốc tế
Mã số: 60 31 02 06
“QUAN HỆ THƢƠNG MẠI VIỆT NAM - NHẬT BẢN
TỪ SAU KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH CHÂU Á 1997 - 1998”
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Vũ Văn Hà
Hà Nội - 2014
1.1.2.
Giai đoạn những năm 1990 (đến trước khủn
1. 2. Ảnh hƣởng của cuộc khủng hoảng tài chính tới kinh tế, thƣơng mại
Việt Nam và Nhật Bản ...................................................................................
1.2.1. Vài nét về cuộc khủng hoảng .................................................................
1.2.2. Tác động khủng hoảng tới nền kinh tế-thương mại Việt Nam và Nhật
Bản....................................................................................................................
1.3. Nhu cầu thực tế của sự phát triển hợp tác kinh tế, thƣơng mại song
phƣơng sau khủng hoảng ..............................................................................
1.3.1. Sự cần thiết của việc thúc đẩy quan hệ từ phía Việt Nam .....................
1.3.2. Sự cần thiết của việc thúc đẩy quan hệ từ phía Nhật Bản .....................
-1-
1.4. Quan điểm, chính sách của hai nƣớc trong việc thúc đẩy quan hệ
song phƣơng Việt Nam - Nhật Bản ...............................................................
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƢƠNG MẠI VIỆT NAM NHẬT BẢN TỪ SAU KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH KHU VỰC CHÂU
Á 1997 - 1998...................................................................................................
2.1.
Sự biến động tổng lƣợng kim ngạch hàng hóa ..................
2.2.
Đặc trƣng cơ cấu hàng hóa hai chiều .................................
2.3.
ODA
ASEAN
MOF
FDI
GDP
BTA
VJEPA
VASEP
MFN
GSP
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Danh sách 5 bạn hàng nhập khẩu lớn nhất ........................................
từ Việt Nam (1976 - 1990) ..............................................................................
Bảng 2: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Nhật Bản .............................
giai đoạn 1990-2000 (Đơn vị tính: triệu USD) ...............................................
Bảng 3: Sự mất giá của một số đồng nội tệ khu vực ......................................
Châu Á năm 1996 - 1997 ................................................................................
Biểu đồ 4: Cam kết vốn ODA của các nhà tài trợ thời kỳ 1993-2012 cho Việt
Nam (đơn vị tính: tỷ USD) ..............................................................................
Bảng 5: Thống kê kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Nhật Bản .............
giai đoạn 1997 - 2013 (Đơn vị tính: triệu USD) .............................................
Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, nhu cầu nhập khẩu mặt hàng công nghệ hiện đại ngày càng cao, nhất là
trong điều kiện ta chƣa chủ động tạo đƣợc công nghệ nguồn. Việc gia tăng
quan hệ với các đối tác phát triển, đặc biệt các đối tác có quan hệ tƣơng đồng
là rất cần thiết và quan trọng. Nhật Bản chính là một trong đầu nguồn công
nghệ cho phát triển và hiện đại hóa nền kinh tế nƣớc nhà. Do vậy, việc đẩy
mạnh, phát triển sâu rộng quan hệ kinh tế với Nhật, trong đó có quan hệ
thƣơng mại, chính là hƣớng quan trọng đồng thời còn là yêu cầu của sự phát
triển.
Cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ Châu Á 1997-1998 đã có những tác
động mạnh đến quan hệ thƣơng mại song phƣơng. Đây cũng là dịp để Việt
Nam và Nhật Bản nhìn nhận, đánh giá lại hiệu quả hợp tác và có điều chỉnh
cho phù hợp. Kể từ sau khủng hoảng, mối quan hệ song phƣơng tiếp tục có
bƣớc phát triển, song cũng đặt ra không ít vấn đề cần có nghiên cứu đánh giá
chuyên sâu, hệ thống để đảm bảo sự phát triển hiệu quả, bền vững. Đó là các
vấn đề về cơ cấu hàng hóa, về cơ chế hợp tác, về phát triển và bảo vệ môi
trƣờng… Ngoài ra, nếu phát triển quan hệ kinh tế mà chỉ hƣớng tới hiệu quả
kinh tế, không chú ý tác động về môi trƣờng và các khía cạnh xã hội khác
cũng sẽ gây ra hậu quả khôn lƣờng.
Rõ ràng là, với đƣờng lối mở rộng, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, việc
gia tăng quan hệ với Nhật Bản là rất cần thiết. Đặc biệt, trong bối cảnh “xoay
trục” của Mỹ sang Châu Á và bùng nổ, bành trƣớng kinh tế của Trung Quốc
đang tác động mạnh tới các quốc gia khu vực, trong đó có Việt Nam, thì việc
thúc đẩy quan hệ với Nhật Bản nhằm giảm sự phụ thuộc vào thị trƣờng Trung
Quốc, bảo đảm cho sự phát triển ổn định của nền kinh tế nói chung, thƣơng
mại nói riêng càng quan trọng hơn bao giờ hết.
Với tất cả các ý nghĩa đó, em đã lựa chọn đề tài: “Quan hệ thƣơng mại
Việt Nam - Nhật Bản từ sau khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 - 1998” để
kinh tế, thƣơng mại, văn hóa, giáo dục, xã hội... mà Chính phủ và nhân dân
hai nƣớc đã đạt đƣợc trong khoảng thời gian này.
* Cuốn sách “Thương mại Việt Nam - Nhật Bản trong tiến trình phát triển
quan hệ hai nước” của tác giả Trần Anh Phƣơng, xuất bản năm 2009. Nội
dung của nó không chỉ góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho Đảng
và Nhà nƣớc ta trong việc hoạch định chính sách phát triển thƣơng mại Việt
Nam - Nhật Bản mà còn là những kiến giải góp phần thúc đẩy mạnh hơn nữa
quan hệ hợp tác phát triển và hữu nghị giữa hai nƣớc trong bối cảnh khu vực
hóa, toàn cầu hóa nhƣ hiện nay.
* Cuốn sách "Quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản trong bối cảnh quốc tế
mới” của GS. TS Dƣơng Phú Hiệp - TS Vũ Văn Hà (xuất bản năm 2003), tập
trung phân tích tác động của bối cảnh quốc tế và khu vực đến quan hệ song
phƣơng giữa hai quốc gia; khảo sát, đánh giá thực tiễn hợp tác trên các mặt
thƣơng mại, đầu tƣ và ODA từ sau cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu
vực Châu Á 1997-1998; phân tích các quan điểm hợp tác, dự báo triển vọng
cũng nhƣ đề xuất các giải pháp để thúc đẩy và nâng cao hiệu quả hợp tác
trong thời gian tới.
* Khóa luận tốt nghiệp đại học của sinh viên Dƣơng Đức Hùng, Khoa Kinh
tế, Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2002) với đề tài “Quan hệ thương mại Việt
Nam - Nhật Bản giai đoạn Đổi mới ở Việt Nam”, tập trung vào mối quan hệ
này trong thời kỳ Đổi mới bằng với việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá đúng
thực trạng quan hệ thƣơng mại Việt Nam - Nhật Bản từ năm 1986 tới năm
2002 và những tác động của nó đối với phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam.
Tuy nhiên, chƣa có công trình nghiên cứu có tính hệ thống quan hệ
thƣơng mại từ sau khủng hoảng tài chính khu vực Châu Á 1997-1998 đến
nay. Trong khi đó, bản thân quan hệ Việt Nam - Nhật Bản nói chung, quan hệ
thƣơng mại nói riêng đang đặt ra không ít vấn đề cần có sự đầu tƣ nghiên cứu
công phu làm cơ sở cho điều chỉnh và xây dựng cơ sở cho việc phát triển bền
Làm rõ cơ hội và hiện nay tới phát triển quan hệ thƣơng mại song
phƣơng Việt Nam - Nhật Bản
-
Đề xuất các giải pháp chủ yếu thúc đẩy quan hệ thƣơng mại song
phƣơng Việt Nam - Nhật Bản trong thập niên tới
4.
-
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là quan hệ thƣơng mại hai chiều Việt
Nam - Nhật Bản
-
Phạm vi nghiên cứu: tập trung khảo sát quan hệ xuất nhập khẩu hàng
hóa hữu hình từ năm 1998 tới nay
5.
Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
cái
Sử dụng phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, đi từ cái chung đến
riêng
-
Về mặt thực tiễn: cố gắng nghiên cứu một cách hệ thống và tƣơng đối
chuyên sâu đầy đủ về sự phát triển quan hệ thƣơng mại Việt Nam - Nhật Bản
từ sau khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 - 1998 trên cơ sở so sánh sự tăng
giảm các mặt hàng, ngành hàng, tổng kim ngạch.
Thông qua tìm hiểu thực tế mối quan hệ thƣơng mại hai nƣớc Việt
Nam - Nhật Bản từ sau khủng hoảng tài chính khu vực Châu Á 1997 - 1998,
đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy, gia tăng cả về chất và lƣợng của mối
quan hệ này, tạo thêm động lực cho sự mối quan hệ hai nƣớc ở tầm cao mới:
Quan hệ đối tác chiến lƣợc sâu rộng vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á.
7.
Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở bài và kết luận, danh mục bảng biểu số liệu, một số
hình ảnh về quan hệ Việt Nam- Nhật Bản nói chung, tài liệu tham khảo, luận
văn đƣợc chia làm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở thúc đẩy quan hệ thƣơng mại Việt Nam - Nhật Bản từ
sau khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 - 1998
Chƣơng 2: Thực trạng quan hệ thƣơng mại Việt Nam - Nhật Bản từ sau
khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 - 1998
Chƣơng 3: Giải pháp thúc đẩy quan hệ thƣơng mại hai chiều Việt Nam Nhật Bản trong thời gian tới
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƢƠNG MẠI VIỆT NAM – NHẬT BẢN
TỪ SAU KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH CHÂU Á 1997-1998
1.1. Vài nét về quan hệ thƣơng mại song phƣơng Việt Nam - Nhật Bản
trƣớc cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 -1998
từ Việt Nam (1976 - 1990)
Nƣ
N
S
H
(Nguồn: sđd [20] tr 31-32)
Đƣơng nhiên, kết quả trên có đƣợc là do tác động của tổng hoà các yếu
tố kinh tế - chính trị không chỉ về phía Việt Nam, Nhật Bản mà kể cả khu vực
và thế giới. Có thể kể ra 3 yếu tố cơ bản sau:
-
Thứ nhất: Thế giới và khu vực Châu Á- Thái Bình Dƣơng khi đó tuy
còn tồn tại cuộc chiến tranh lạnh giữa hai hệ thống CNXH và CNTB, song sự
tiến triển đã có xu thế khác trƣớc. Thay cho trạng thái chạy đua vũ trang, đối
đầu căng thẳng quân sự là trạng thái mong muốn hoà hoãn, tìm kiếm con
đƣờng hợp tác phát triển kinh tế cùng có lợi.
-
Thứ hai: Hoàn cảnh quốc tế và khu vực nhƣ vậy, trong khi đó Việt
Nam vẫn là nƣớc nghèo nàn, lạc hậu về kinh tế. Ngoài các quan hệ hợp tác
kinh tế, thƣơng mại với Liên Xô và các nƣớc XHCN khác (khi đó đã có
những dấu hiệu khó khăn, khủng hoảng về kinh tế và chính trị...), Việt Nam
Việt Nam - Nhật Bản ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn. Nhiều cơ quan chính
phủ và phi chính phủ phụ trách về hợp tác kinh tế đối ngoại của Nhật Bản đã
đến Việt Nam để xúc tiến dần các hoạt động hợp tác kinh tế. Có thể kể ra nhƣ
Tổ chức xúc tiến mậu dịch Nhật Bản (JETRO), Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật
Bản (JICA), Quỹ hợp tác kinh tế với nƣớc ngoài (OECF), Liên đoàn các tổ
chức kinh tế Nhật Bản (KEIDANREN), Hội mậu dịch Nhật Bản - Việt Nam
(JVTA)... Để chuẩn bị cho quá trình này, phía Nhật Bản đã tổ chức diễn đàn
“Kinh tế và văn hoá Nhật Bản” vào tháng 6/1989 tại Tokyo và đến tháng
9/1989 hai bên phối hợp tổ chức Hội thảo “Giao lƣu kinh tế Nhật - Việt” tại
Hà Nội.
Cùng với các sự kiện trên, nếu điểm lại lịch sử tiến triển quan hệ hợp
tác kinh tế nói chung và thƣơng mại nói riêng giữa hai nƣớc thời gian này
còn có một số sự kiện đáng lƣu ý nhƣ :
*
Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam ban hành ngày 29/12/1987 và
chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/1988. Năm 1989 ghi nhận dự án đầu tiên của
Nhật vào Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ với số vốn 0,6 triệu USD khẳng định
thêm một bƣớc thiện chí hợp tác phát triển kinh tế thƣơng mại với
ta
*
Tháng 10/1990, lần đầu tiên trong quan hệ ngoại giao, Phó Thủ tƣớng
kiêm Bộ trƣởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch sang thăm Nhật Bản, mở ra
một thời kỳ mới trong quan hệ hai nƣớc. Sau đó thời gian ngắn, tháng 6/1991,
Quan hệ hợp tác kinh tế, thƣơng mại Việt Nam - Nhật Bản từ đầu thập
niên 1990 đến năm 1997 đã phát triển mạnh mẽ cả về chiều sâu và chiều rộng.
Chúng ta bƣớc đầu tận dụng và ngày càng phát huy có hiệu quả hơn các lợi
thế so sánh sẵn có về nhân công dồi dào giá rẻ, cùng với đó là một số mặt
hàng xuất khẩu chủ lực mang lại nguồn lợi nhanh về giá trị xuất khẩu nhƣ dầu
thô, may mặc, thuỷ hải sản... nên đã đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trƣờng này.
Thực trạng này càng khả quan hơn kể từ tháng 11/1992 khi Nhật tuyên
bố chính thức nối lại viện trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam, và
đặc biệt sau một số sự kiện chính trị quan trọng nhƣ Mỹ dỡ bỏ chính sách
cấm vận thƣơng mại chống Việt Nam (tháng 2/1994), Mỹ tuyên bố bình
thƣờng hoá quan hệ với Việt Nam (tháng 7/1995) và Việt Nam gia nhập Hiệp
hội các quốc gia Đông Nam Á - ASEAN (ngày 28/7/1995).
Bảng 2: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Nhật Bản
giai đoạn 1990-2000 (Đơn vị tính: triệu USD)
Năm
1990
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
xuất sang Nhật Bản trên tổng số 3.262 triệu USD kim ngạch hai chiều, tƣơng
ứng với mức giảm 40,48% so với năm 1998 (trong khi nhập khẩu từ Nhật hầu
nhƣ không đổi).
Và ngay sau đó, chúng ta lại chứng kiến sự bứt phá mạnh trở lại với giá
trị kim ngạch xuất khẩu từ Việt Nam sang Nhật là 2.621 triệu USD trên tổng
kim ngạch song phƣơng gần 4.900 triệu USD (4.871 triệu USD) vào năm
2000.
Nếu nhƣ năm 1991, thống kê tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều
mới đạt 879 triệu USD thì đến năm 1997 con số này đã vọt tới mức 3.481
triệu USD, tăng gần 4 lần so với năm 1992, và so với năm 1986 đã tăng 12,5
lần. Trong khi đó, quy mô buôn bán song phƣơng chỉ tăng 1,25 lần trong giai
đoạn 1976 - 1986 (từ mức 216 triệu USD lên 272 triệu USD).
Cùng với đó, ta thấy rõ sự khác biệt cả về tốc độ tăng trƣởng và quy
mô kim ngạch trong xuất nhập khẩu hàng hoá Việt Nam - Nhật Bản đối với
các giai đoạn trƣớc và sau thời kỳ Đổi mới của Việt Nam, và ngay cả trong
cùng thời kỳ Việt Nam đã thực hiện Đổi mới. Cụ thể là, từ năm 1987 trở về
trƣớc, Việt Nam chủ yếu nhập khẩu, và ngƣợc lại phía Nhật Bản là giá trị
xuất khẩu (loại trừ hai năm 1973 và 1974; song giá trị xuất siêu của Việt Nam
không đáng kể - năm 1973 là 3 triệu USD và năm 1974 là 9 triệu USD).
Trong khi đó, diễn biến của động thái cấu thành giá trị xuất nhập khẩu
Việt Nam - Nhật Bản từ năm 1988 đến năm 1997 lại xảy ra theo chiều ngƣợc
lại tức là ngày càng xuất siêu lớn hơn về phía Việt Nam.
Chúng ta đã lần đầu tiên xuất siêu sang thị trƣờng Nhật Bản, với con số
còn khá khiêm tốn 2 triệu USD vào năm 1988. Và ngay năm sau, giá trị này
tăng 89 lần, đạt 178 triệu USD. Các năm tiếp theo cũng đều ghi nhận sự tăng
liên tục, năm 1990 là 381 triệu USD, năm 1992 là 419 triệu USD.... năm 1995
là 795 triệu USD. Khi cuộc khủng hoảng tài chính khu vực Châu Á bắt đầu
xảy ra, Việt Nam vẫn xuất siêu 915 triệu USD sang Nhật, gấp 2,2 lần so với
năm 1990 đến thời điểm xảy ra khủng hoảng tài chính khu vực Châu Á 19971998 đều đã tăng nhanh và tƣơng đối ổn định trong xu thế khả quan, năm sau
đều cao hơn năm trƣớc. Xu hƣớng chính là Việt Nam luôn xuất siêu sang
Nhật Bản.
Ngoài ra, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam đối với các hàng hoá từ
Nhật cũng đã tăng nhanh và tƣơng đối ổn định, chủ yếu phục vụ cho quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc.
1. 2. Ảnh hƣởng của cuộc khủng hoảng tài chính tới kinh tế, thƣơng mại
Việt Nam và Nhật Bản
1.2.1. Vài nét về cuộc khủng hoảng
Khủng hoảng tài chính (Financial crisis) là tình trạng tài chính mất cân
đối nghiêm trọng có thể dẫn đến sụp đổ quỹ. Đặc trƣng của mỗi quỹ cấu
thành nên hệ thống tài chính là các dòng tiền vào/ra, nhận/thanh toán, hình
thành tài sản có/tài sản nợ. Khi xảy ra hiện tƣợng mất cân đối nghiêm trọng
giữa tài sản có và nghĩa vụ phải thanh toán về số lƣợng, thời hạn, chủng loại
tiền thì có thể xảy ra khủng hoảng tài chính.
Nhƣ vậy, khủng hoảng tài chính là khái niệm bao trùm đƣợc sử dụng
chung cho mọi loại khủng hoảng gắn với mất cân đối về tài chính và thƣờng
gắn với nghĩa vụ phải thanh toán lớn hơn nhiều phƣơng tiện dùng để thanh
toán tại một thời điểm nào đó. Chính vì vậy, khủng hoảng tài chính có đặc
điểm của khủng hoảng “thiếu” chứ không giống khủng hoảng “thừa” diễn ra
trong nền kinh tế thị trƣờng.
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á nổ ra năm 1997 trƣớc hết xuất
phát từ Thái Lan. Ngày 2/7/1997, Ngân hàng Trung ƣơng Thái Lan tuyên bố thả
nổi đồng Baht, chấm dứt một thời kỳ dài duy trì tỷ giá hối đoái gần nhƣ cố định
so với đồng USD (năm 1991 là 25,28; năm 1992 là 25,19 và năm
1996 là 25,61). Ngay sau đó, đồng Baht đã mất giá 20%. Tháng 1/1998 tỷ giá