ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN THU VÂN
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG CÔNG TÁC
VẬN ĐỘNG CÁC TÔN GIÁO THAM GIA BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG VÀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC
Hà Nội - 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN THU VÂN
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG CÔNG TÁC
VẬN ĐỘNG CÁC TÔN GIÁO THAM GIA BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG VÀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Tôn giáo học định hƣớng ứng dụng Mã
số: 60.22.03.09 (UD)
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS, TS. Ngô Hữu Thảo
3.1. Vấn đề đặt ra từ công tác vận động tôn giáo bảo vệ môi trƣờng và ứng phó
với biến đổi khí hậu đối với công tác tôn giáo của hệ thống chính trị Hà Nội70
3.2. Khuyến nghị nhằm tăng cƣờng công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam thành phố Hà Nội trong bảo vệ môi trƣờng, ứng phó với biến đổi khí hậu
............................................................................................................................. 74
1
Tiểu kết chương 3......................................................................................83
KẾT LUẬN.................................................................................................... 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................ 86
PHỤ LỤC.......................................................................................................91
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Việt Nam là một quốc gia có nhiều hình thức tín ngƣỡng, tôn giáo và
các tôn giáo đang có xu hƣớng phát triển, ảnh hƣởng mạnh đến các lĩnh vực
của đời sống xã hội, từ chính trị, văn hóa, phong tục tập quán, cho đến đạo
đức, lối sống của nhân dân. Đảng và Nhà nƣớc ta luôn xác định công tác tôn
giáo là vấn đề chiến lƣợc có ý nghĩa rất quan trọng.
Từ Đại hội VI của Đảng, năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện công
cuộc đổi mới đất nƣớc. Đến năm 1990, với Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày
16/10/1990, của Bộ Chính trị, đã đánh dấu bƣớc tiến quan trọng về sự nhận
nghiên cứu cơ bản, có hệ thống, để đóng góp vào việc phát triển nhận thức,
tăng cƣờng hiệu quả, hiệu lực tổ chức thực hiện công tác phối hợp bảo vệ môi
trƣờng và ứng phó với biến đổi khí hậu ở Thủ đô. Ý thức về vấn đề đó, tôi
chọn đề tài: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội trong công tác
vận động các tôn giáo tham gia bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi
khí hậu”, làm luận văn cao học, chuyên ngành tôn giáo học của mình.
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:
Nghiên cứu liên quan tới công tác vận động các tôn giáo của Mặt trận Tổ
quốc nói chung, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội nói
riêng, có một số công trình tiêu biểu sau:
-
Thích Thánh Nghiêm chủ trì (1990), Giai đoạn đầu của nghiên cứu Phật
giáo quốc tế Trung Quốc: Lý luận Phật giáo và xã hội hiện đại, Hội thảo khoa
học, Đài Loan. Một số bài viết tham dự hội thảo này đã đề cập đến giới luật Phật
giáo và vấn đề bảo vệ môi trƣờng nhƣ: “Sự đóng góp của Phật giáo Trung Quốc
đối với vấn đề sinh thái” của Vu Quân Phƣơng; “Lý luận Phật giáo và xu hƣớng
hiện đại” của Thích Tuệ Nghiêm; “Lý luận Phật giáo Đại thừa và xã hội hiện
đại” của Dƣơng Tằng Văn; “Nghiên cứu về sự tái thiết của lý luận Đại
4
Thừa hiện đại” của Phó Vĩ Huân.
-
Tập đoàn Văn hóa Giáo dục Tài chính Đài Loan (2003), Giai đoạn ba
của lý thuyết nhằm thẳng vào thực tế và cuộc đối thoại của giới Phật giáo thực
của Phật giáo về thiên nhiên môi trƣờng, sự đóng góp của thuyết Duy thức
trong tâm lý học Phật giáo để giải quyết những vấn đề môi trƣờng hiện nay.
-
TT.TS. Thích Nhật Từ, TT.TS. Thích Đức Thiện (chủ biên) (2014),
Phật giáo góp phần bảo vệ môi trƣờng, Nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội.
Công trình tập hợp các tham luận đƣợc trình bày tại hội thảo quốc tế “Quan
điểm Phật giáo hƣớng đến thành tựu đạt đƣợc những mục tiêu phát triển thiên
niên kỷ của Liên Hợp Quốc” tổ chức nhân Đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc
năm 2014 tại Ninh Bình, Việt Nam. Trong đó, các tác giả nƣớc ngoài và Việt
Nam đã đề cập đến lĩnh vực Phật giáo bảo vệ môi trƣờng. Các bài viết đã đi
từ nhiều góc độ, nhƣ triết lý Phật giáo bảo vệ môi trƣờng, tấm gƣơng Đức
Phật với môi trƣờng, con ngƣời Phật giáo với hành vi bảo vệ môi trƣờng, cho
đến trách nhiệm xã hội - chính trị của Phật giáo với bảo vệ môi trƣờng. Nó đã
giúp ngƣời đọc hiểu sâu, toàn diện về thực thể Phật giáo với môi trƣờng.
-
GS, TS. Đỗ Quang Hƣng (2005), Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt
Nam - lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Cuốn
sách đã giới thiệu những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và làm rõ nhận thức về vấn đề tôn giáo của
Đảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ. Theo tác giả, những vấn đề đó là
cái gốc để giải quyết các vấn để tín ngƣỡng, tôn giáo hiện nay. Tác giả cũng
đã làm rõ quá trình hình thành, phát triển của chính sách tôn giáo ở Việt Nam,
nhất là phƣơng diện quản lý nhà nƣớc về tôn giáo; đồng thời vạch ra những
thu hút, vận động tín đồ, chức sắc các tôn giáo cùng tham gia.
ở
PGS,TS. Nguyễn Thanh Xuân (2015), Tôn giáo và chính sách tôn giáo
Việt Nam, Nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội. Cuốn sách đã giới thiệu về tín
ngƣỡng, tôn giáo ở Việt Nam, trong đó nhấn mạnh về Phật giáo, Công giáo, Tin
lành, Hồi Giáo, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo… Đồng thời phân tích chính sách
tôn giáo của Đảng, Nhà nƣớc Việt Nam qua các thời kỳ và việc thực hiện
7
chính sách tôn giáo, nhất là từ khi đất nƣớc đổi mới đến nay.
-
Ủy ban Trung ƣơng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2010), Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam với công tác tôn giáo. Cuốn sách có mục đích nâng cao nhận
thức về tôn giáo và công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc các cấp. Theo đó,
cuốn sách đã cung cấp cho ngƣời đọc những kiến thức cơ bản về tôn giáo ở
Việt Nam; chủ trƣơng, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nƣớc ta về tôn
giáo và công tác tôn giáo; nội dung, phƣơng thức của Mặt trận trong công tác
vận động tín đồ, chức sắc các tôn giáo.Song, cuốn sách dừng lại đó mà chƣa
đi vào chiều sâu cơ sở lý luận về tôn giáo, về chính sách, pháp luật tôn giáo
của Việt Nam.
-
Ngô Hữu Thảo - Đào Văn Bình (đồng chủ biên) (2014), xuất bản cuốn
-
TS. Lê Bá Trình, PGS, TS. Trần Thị Kim Oanh, TS. Trần Văn Anh (Hòa
thƣợng Thích Tấn Đạt) (đồng chủ biên) (2017), Kỷ yếu hội thảo: Phát huy vai
trò Phật giáo tham gia xã hội hoá công tác xã hội, từ thiện, Nhà xuất bản Tôn
giáo, Hà Nội. Trong tập sách kỷ yếu này có nhiều bài liên quan và hai bài viết
trực tiếp nói về môi trƣờng với Phật giáo. Đây là những nghiên cứu vừa có
giá trị lý luận tôn giáo học và vừa có ý nghĩa thực tiễn về vấn đề con ngƣời và
tổ chức Phật giáo tham gia bảo vệ môi trƣờng ở các vùng miền Việt Nam, từ
phƣơng diện lý thuyết đến hành động từ thiện, cứu trợ xã hội. Ngƣời đọc
đánh giá cao vai trò Phật giáo Việt Nam từ góc độ thực tiễn.
Ngoài đó ra còn có một số tập tài liệu liên quan công tác Tôn giáo của
Trƣờng Nghiệp vụ công tác Tôn giáo - Ban Tôn giáo Chính phủ (dành cho
cán bộ, công chức cấp tỉnh, cấp huyện)
-
Tạp chí Công tác tôn giáo, Cơ quan của Ban Tôn giáo Chính phủ, từ
quyển số 3 năm 2009 đến số 4 (140) tháng 4 năm 2018, ISSN 1859-1760.
-
Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, Viện nghiên cứu tôn giáo, thuộc Viện hàn
lâm khoa học xã hội Việt Nam, từ quyển 15, số 9 (123), tháng 9/2013 đến số
2
(151) năm 2016, ISSN 1859-0403.
-
Đề tài làm rõ nhận thức chung về công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam thành phố Hà Nội trong công tác vận động các tôn giáo tham
gia bảo vệ môi trƣờng, ứng phó với biến đổi khí hậu và thực trạng của công
tác đó; đề xuất khuyến nghị đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà
Nội trong công tác vận động các tôn giáo tham gia bảo vệ môi trƣờng, ứng
phó với biến đổi khí hậu ở Hà Nội.
3.2. Nhiệm vụ
Từ mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ cơ bản nhƣ sau:
-
Làm rõ nhận thức chung về công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội trong công tác vận
động các tôn giáo tham gia bảo vệ môi trƣờng và ứng phó với biến đổi khí
hậu.
-
Làm rõ thực trạng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội vận
10
động các tôn giáo tham gia bảo vệ môi trƣờng và ứng phó với biến đổi khí
hậu ở Hà Nội và vấn đề đặt ra.
-
Đề xuất khuyến nghị nhằm tăng cƣờng vận động các tôn giáo bảo vệ
môi trƣờng và ứng phó với biến đổi khí hậu ở Hà Nội của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam thành phố Hà Nội.
vấn sâu, khai thác tƣ liệu và khảo sát thực tế tại một số cơ sở.
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
Thứ nhất, góp phần nâng cao nhận thức về mối quan hệ giữa nguồn lực
tôn giáo với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ hai, góp phần nâng cao hiệu quả thiết thực của công tác tôn giáo
nói chung và công tác vận động tín đồ tôn giáo nói riêng.
Thứ ba, luận văn có thể đƣợc dùng làm tài liệu tham khảo tin cậy cho
công tác nghiên cứu, giảng dạy tại các trung tâm giáo dục chính trị..
7.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7.1.
Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa làm sâu sắc và phong phú
thêm cho lý luận của chuyên ngành tôn giáo học và một số ngành khoa học
khác, nhƣ xã hội học, môi trƣờng học và là cơ sở nhận thức khoa học về vai
trò, chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp.
Luận văn còn có ý nghĩa định hƣớng cho hoạt động thực tiễn phát triển
kinh tế - xã hội ở cơ sở, các địa bàn có tôn giáo và có đông tín đồ tôn giáo.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đƣợc dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan, cán bộ
công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội của
nhân dân cũng nhƣ cho công tác quản lý nhà nƣớc về tôn giáo.
8. Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ
lục, có kết cấu chủ yếu gồm 3 chƣơng, 7 tiết.
13
tôn giáo tham gia bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội”, với tính cách là một khái niệm.
Theo đó, tác giả xác định “Công tác vận động các tôn giáo tham gia
bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam thành phố Hà Nội”, từ góc độ của lý thuyết hệ thống, thì sẽ là một kết
cấu bao gồm nhiều yếu tố bộ phận hợp thành. Các yếu tố ấy, về cơ bản gồm:
(1) Chủ thể công tác, là những cán bộ, những tổ chức thuộc Mặt trận Tổ
quốc các cấp;
(2)
Công cụ của công tác, là cơ sở chính sách, pháp luật về môi trƣờng;
(3)
Khách thể, đối tượng của công tác, là tổ chức, con ngƣời các tôn
giáo và thực tế môi trƣờng, khí hậu trên địa bàn Hà Nội;
(4)
Nội dung, phương pháp công tác và (5) Mục tiêu công tác.
Nhận thức theo lý thuyết hệ thống công tác trên đây của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam thành phố Hà Nội, ngƣời viết xem đó là cơ sở để luận giải và
giải quyết các nhiệm vụ của đề tài luận văn đặt ra, nhằm đạt tới mục đích của
đề tài.
1.1.2. Nhận thức cơ bản về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Để xác định công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc, trƣớc hết cần xác
thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nƣớc”
[14, Đ. 9].
Về quyền và trách nhiệm chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đƣợc
quy định tại Điều 3, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam:
1. Tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ,
tăng cƣờng đồng thuận xã hội.
2. Tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thực hiện
đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc.
3.
Đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân.
4.
Tham gia xây dựng Đảng, Nhà nƣớc.
15
5.
Thực hiện giám sát và phản biện xã hội.
6.
Tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân để phản
ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nƣớc.
7.
chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc”, theo đó, vai trò, vị trí của Đảng có bị
hạ thấp hay không? Chúng tôi biết, có rất nhiều ý kiến cho rằng “vai trò, vị trí
của Đảng bị thấp đi”, song cũng không ít ý kiến cho rằng “vai trò, vị trí của
Đảng đƣợc cao hơn”. Chúng tôi tán thành với ý kiến sau - “vị trí, vai trò của
Đảng không hề thấp đi mà còn cao hơn”. Bởi vì Đảng là của giai cấp công
nhân, của dân và Đảng lãnh đạo giai cấp, xã hội bằng quyền lực do nhân dân
uỷ thác, với mục đích vì dân, giải phóng dân, phát triển dân.
16
Vậy để vai trò lãnh đạo có hiệu quả, chất lƣợng cao, Đảng cần có phƣơng
thức lãnh đạo sâu - sát nhân dân, có thế mới biết dân nghĩ gì, cần gì và muốn
làm gì. Là thành viên của Mặt trận Tổ quốc, Đảng do đó sẽ có cơ hội và có
môi trƣờng “tắm trong biển nhân dân”, qua đó Đảng sẽ hiểu biết nhân dân sát
đúng hơn. Còn nếu ở môi trƣờng khác, “salon, máy lạnh”, Đảng sẽ hiểu biết
dân chắc không nhiều.
Bàn thêm, mở hƣớng suy nghĩ về vấn đề này, ngƣời viết có ý đồ để đề
xuất khuyến nghị ở phần sau của đề tài luận văn.
Còn quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Nhà nƣớc, Luật Mặt
trận Tổ quốc quy định: là quan hệ phối hợp để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
của mỗi bên theo quy định của Hiến pháp, pháp luật và quy chế phối hợp
công tác do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan nhà nƣớc có liên
quan ở từng cấp ban hành (khoản 1, Điều 7) [11, Đ.7].
Nhƣ vậy, Mặt trận Tổ quốc trong quan hệ với Nhà nƣớc không phải là
thấp hơn, hoặc cao hơn, mà là ngang hàng. Quy định này cũng hợp lòng dân,
khi có ý nghĩa chính trị tích cực, song để khối Mặt trận hiểu rõ hơn, dễ thực
hiện hơn, theo chúng tôi, nên có quy định pháp quy cụ thể hơn.
Quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Nhân dân cũng đƣợc
Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trang trọng ghi nhận. Đó là:
phƣơng thức hoạt động để thực hiện trách nhiệm của mình với Nhân dân theo
quy định của Hiến pháp và pháp luật (Điều 8) [11, Đ.8].
Vậy, Mặt trận Tổ quốc là một tổ chức chính trị - xã hội của nhân dân ta,
do Đảng thành lập (tiền thân là Mặt trận Dân tộc thống nhất). Mặt trận Tổ
quốc không phải là Đảng, nhà nƣớc, mà đứng bên cạnh Đảng, nhà nƣớc. Mặt
trận Tổ quốc có quyền lực, song không phải và không sử dụng quyền lực
chính trị nhƣ Đảng, Nhà nƣớc mà Mặt trận Tổ quốc tham gia công tác quản
lý của nhà nƣớc và giám sát hoạt động của nhà nƣớc, sử dụng quyền lực nhân
dân bằng phƣơng thức “vận động, tập hợp nhân dân”.
1.1.3. Quan điểm: Công tác tôn giáo là trách nhiệm của hệ thống
chính trị
Vào thời kỳ đổi mới đất nƣớc, ngày 16/10/1990, Bộ Chính trị ban hành
Nghị quyết 24-NQ/TW về “T ng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới”.
Nghị quyết này là dấu mốc mở đầu cho bƣớc ngoặt phát triển nhận thức về đổi
mới công tác tôn giáo ở nƣớc ta. Nghị quyết 24 của Bộ chính trị đã đƣa ra một
số quan điểm rất cơ bản, có tính đổi mới sâu sắc về vấn đề tôn giáo và công tác
tôn giáo. Trong đó Đảng xác định rõ hai quan điểm: Công tác tôn
18
giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và Nội dung cốt lõi của công
tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng.
Hơn mƣời năm sau sau đó, Nghị quyết Trung ƣơng 7, khóa IX, ngày
12/3/2003 về “Công tác tôn giáo”, Đảng ta trong khi đƣa ra 05 quan điểm
công tác tôn giáo, thì trong đó đã lại tiếp tục khẳng định hai quan điểm trên
của Nghị quyết số 24 của Bộ Chính trị.
Đến gần đây nhất, ngày 10/1/2018, Ban Chấp hành Trung ƣơng đã ban
hành Chỉ thị số 18-CT/TW, của Bộ chính trị, ề tiếp tục thực hiện Nghị qu ết số
2 -N T của an Chấp hành Trung ương, khoá I , ề công tác tôn giáo trong t nh
trị, là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác tôn giáo của hệ thống
chính trị. Còn đối với hoạt động nội tại của Mặt trận Tổ quốc, công tác tôn
giáo là một lĩnh vực quan trọng trong toàn bộ công tác của Mặt trận Tổ quốc.
Về vai trò công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc, Mặt trận Tổ quốc là
ngƣời đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân
trong các hoạt động đảm bảo quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo; tập hợp, phát
huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cƣờng đồng
thuận xã hội trong cộng đồng các tôn giáo; giám sát, phản biện xã hội trên
những hoạt động liên quan đến tín ngƣỡng, tôn giáo và động viên, tổ chức để
tín đồ, chức sắc, chức việc các tôn giáo tham gia xây dựng Đảng, Nhà nƣớc,
hoạt động đối ngoại nhân dân, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Song, công tác tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị
-
xã hội khác (thƣờng gọi là khối Mặt trận Tổ quốc) phải có nội dung, phƣơng
thức thế nào khi nó đặt cạnh công tác tôn giáo Đảng, Nhà nƣớc? Đó là vấn đề
phải đƣợc làm rõ trƣớc hết từ nhận thức xã hội.
1 Những yêu cầu mới này đƣợc Đảng đƣa vào Nghị quyết số 25-NQ/TW (3/6/2013), Ban Chấp
hành Trung ƣơng, khoá XI (2013), ề t ng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác
dân vận trong t nh h nh mới.
20
Chúng ta thấy, Mặt trận Tổ quốc trong công tác tôn giáo chính là ở
công việc dân vận đồng bào các tôn giáo có trong mọi giai cấp, tầng lớp, cộng
đồng dân cƣ. Cụ thể hơn, công tác tôn giáo của Mặt trận có nội dung chung
nhất là đại diện, bảo vệ lợi ích chính đáng của đồng bào có tôn giáo, với
hoạch, kế hoạch, chƣơng trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nƣớc
liên quan đến tín ngƣỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật.
4. Tham gia tuyên truyền, vận động chức sắc, chức việc, nhà tu hành,
tín đồ, ngƣời theo tín ngƣỡng, tôn giáo, các tổ chức tôn giáo và nhân dân
thực hiện pháp luật về tín ngƣỡng, tôn giáo.
5.
Giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử và cán bộ,
công chức, viên chức trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín
ngƣỡng, tôn giáo [13, Đ 4].
Về trách nhiệm của các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam trong công tác tôn giáo
Mặt trận Tổ quốc chỉ có tổ chức thành viên và cá nhân tiêu biểu, mà
không có đoàn viên và hội viên nhƣ các tổ chức chính trị - xã hội khác. Đây
là tính chất đặc biệt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Các tổ chức chính trị (Đảng), tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội
(trong đó có các tổ chức tôn giáo) và tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở Việt Nam
khi cùng nhau liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện, trở thành thành viên
của Mặt trận Tổ quốc đều thực hiện vai trò, trách nhiệm của mình đối với xã
hội nói chung và đối với công tác tôn giáo nói riêng.
Tuy nhiên, trách nhiệm của các tổ chức thành viên của Mặt trận trong
công tác tôn giáo, quan hệ với Mặt trận là quan hệ phối hợp và thống nhất
hành động theo Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng thời vẫn giữ tính
độc lập của tổ chức mình.
Nhƣ vậy, những nhận thức chung về “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
thành phố Hà Nội vận động các tôn giáo tham gia bảo vệ môi trƣờng, ứng
phó với biến đổi khí hậu”, cho thấy thực chất là một loại công tác tôn giáo của