VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NGỌC THẮNG
VAI TRÒ CỦA ỦY BAN MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội, năm 2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NGỌC THẮNG
VAI TRÒ CỦA ỦY BAN MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
Ngành: Chính trị học
Mã số: 8 31 02 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. ĐINH NGỌC THẠCH
Hà Nội, năm 2018
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ DÂN CHỦ VÀ VAI TRÒ CỦA MẶT
TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ
DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ ....................................................................................... 9
1.1. Một số khái niệm liên quan đến “Dân chủ” và “Dân chủ Xã hội chủ
nghĩa” ................................................................................................................ 9
1.2. Nội dung, đặc điểm của Quy chế dân chủ cơ sở của Việt Nam .............. 15
1.3. Vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc thực hiện quy
chế dân chủ ở cơ sở ......................................................................................... 18
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA ỦY BAN MẶT TRẬN TỔ
QUỐC VIỆT NAM QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ .. 23
2.1. Khái quát về điều kiện kinh tế - xã hội của quận Phú Nhuận, Thành phố
Hồ Chí Minh.................................................................................................... 23
2.2. Thực trạng thực hiện vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quận
Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở
cơ sở ................................................................................................................ 27
2.3. Những thành tựu, khó khăn, hạn chế của việc UBMTTQ tham gia thực hiện
dân chủ trong thời gian qua .............................................................................. 44
Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN
NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ỦY BAN MẶT TRẬN TỔ QUỐC
VIỆT NAM QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ .............. 53
3.1. Phương hướng cơ bản phát huy vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam quận Phú Nhuận trong việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở ........... 53
3.2. Những giải pháp liên quan đến vai trò tổ chức, tuyên truyền, xây dựng
MTTQ
:Mặt trận Tổ quốc
NN
:Nhà nước
QCDC
:Quy chế dân chủ
TPHCM
:Thành phố Hồ Chí Minh
UBMTTQ
:Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
UBND
:Ủy ban nhân dân
XHCN
:Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
trước hết đòi hỏi HTCT các cấp, đặc biệt trong đó là MTTQ từ cơ sở phải
phát huy được vai trò của mình trong việc động viên, khuyến khích và tạo
điều kiện để Nhân dân hiểu và nâng cao không ngừng vai trò là chủ và làm
chủ của mình. Muốn thực hiện được điều đó cần thiết phải có sự phối hợp
chặt chẽ, đồng bộ giữa các cơ quan, đoàn thể, của cả HTCT mà trong đó
MTTQ là trung tâm tập hợp các tổ chức thành viên mới có thể nâng cao
không ngừng, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân.
Trong thời gian qua, HTCT nói chung và UBMMTQ Việt Nam quận
Phú Nhuận, TPHCM nói riêng ra sức phát huy tốt nhất quyền làm chủ của
nhân dân thông qua thực việc QCDC ở cơ sở trong xây dựng HTCT, trong
thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị quan trọng của địa phương. Tuy
nhiên, thực tế vấn đề thực hiện QCDC ở cơ sở tại địa bàn Quận Phú Nhuận,
TPHCM vẫn còn những tồn tại, hạn chế xuất phát từ những nguyên nhân
khách quan lẫn chủ quan, từ điều kiện kinh tế - xã hội địa phương, nhận thức
của người dân đến những nguyên nhân từ HTCT địa phương, về nhận thức
của cán bộ, đảng viên về thực hiện QCDC ở cơ sở, việc triển khai Nghị quyết
của Trung ương và Đảng uỷ cấp trên, Đảng bộ Quận Phú Nhuận về vấn đề
thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, nắm bắt tình hình, công tác tham mưu
về vấn đề thực hiện QCDC ở cơ sở đòi hỏi phải được nghiên cứu, tổng kết, rút
kinh nghiệm.
Nhằm thực hiện việc xem xét, đánh giá một cách khách quan, khoa học,
đi sâu nghiên cứu vai trò của UBMTTQ quận Phú Nhuận trong việc thực hiện
QCDC ở cơ sở; qua đó, thực hiện việc đánh giá, tổng kết rút ra một số vấn đề
lý luận và thực tiễn trong việc phát huy vai trò của MTTQ quận Phú Nhuận
thúc đẩy nâng cao việc thực hiện QCDC ở cơ sở trên địa bàn Quận Phú Nhuận,
TPHCM nói riêng, cả nước nói chung, tôi chọn đề tài “Vai trò của Ủy ban Mặt
2
trận tổ quốc Việt Nam Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh trong
Các bài viết, bài báo liên quan đến thực hiện dân chủ ở cơ sở có: “Gắn
việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở với củng cố chính quyền cơ sở” của
Thủ tướng Phan Văn Khải, Tạp chí Quốc phòng toàn dân số 1 (2002); “Thực
hiện dân chủ ở cơ sở trong quá trình đổi mới: thành tựu, vấn đề và giải
pháp” của Phạm Ngọc Quang, Tạp chí Lý luận chính trị, số 3 (2004); “Tiền
Giang đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ đi đôi với xây dựng Măt trận Tổ
quốc cơ sở vững mạnh” của Tống Văn Bé Hai, Tạp chí mặt trận, số 47
(2009);... Các bài viết của các tác giả nhằm sơ kết, đánh giá thực hiện dân chủ
ở cơ sở; phân tích, chỉ ra được những cơ sở lý luận và thực tiễn khoa học,
những điều kiện thuận lợi và khó khăn, những bài học kinh nghiệm và giải
pháp để thực hiện có hiệu quả dân chủ ở cơ sở.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh và quận Phú Nhuận, đã có một số văn bản,
chỉ thị của Thành ủy, Quận ủy, Ủy ban nhân dân thành phố và quận Phú
Nhuận về triển khai thực hiện dân chủ ở cơ sở; các báo cáo tổng kết, đánh giá
công tác thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Pháp lệnh về thực hiện dân chủ ở
xã, phường, thị trấn của Ban chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ Quận ủy quận
Phú Nhuận, của các tổ chức chính trị - xã hội, trong đó có cả Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam quận Phú Nhuận.
Các sách tham khảo, chuyên khảo nghiên cứu về Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam có: “Vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với việc thực hiện quyền làm
chủ của nhân dân ở nước ta hiện nay” do Nguyễn Thị Hiền Oanh chủ biên,
Nxb CTQG, H. 2005; “Phát huy vai trò của Mặt trận trong hoạt động giám
sát và phản biện xã hội góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch vững
mạnh” do Thạc sỹ Nguyễn Văn Pha chủ biên, Nxb CTQG, H. 2008; “Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam xây dựng sự đồng thuận xã hội trong công cuộc đổi
mới đất nước” do TS Nguyễn Thị Lan chủ biên, Nxb CTQG, H. 2012.
4
đồng thuận xã hội, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân… đồng thời nhấn
mạnh các cách thức, cơ chế thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa của nhân nhân
thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam .
Qua tìm hiểu và phân tích những nghiên cứu, tài liệu có thể thấy rằng
lĩnh vực nghiên cứu về Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc thực
hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã nhận được khá nhiều sự quan tâm của các
chuyên gia. Trên cở sở kế thừa và tham khảo các tài liệu, đề tài nghiên cứu về
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; tác giả sẽ phân tích cụ thể về vai trò của Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh trong
việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở dự trên tình hình thực tế tại địa
phương
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở lý luận về thực hiện QCDC ở cơ sở và vai trò của MTTQ cơ
sở, luận văn đi sâu phân tích, làm rõ thực trạng thực hiện vai trò của
UBMTTQ Việt Nam Quận Phú Nhuận, TPHCM trong việc thực hiện QCDC
ở cơ sở, qua đó đề xuất phương hướng và một số giải pháp để phát huy vai trò
của MTTQ trong việc thực hiện QCDC ở cơ sở trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ lý luận chung về vai trò của UBMTTQ ở trong việc thực hiện
QCDC ở cơ sở.
- Làm rõ thực trạng vai trò của UBMMTQ Việt Nam Quận Phú Nhuận,
TPHCM trong việc thực hiện QCDC ở cơ sở.
- Làm rõ giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của UBMTTQ Việt
Nam Quận Phú Nhuận, TPHCM trong việc thực hiện QCDC ở cơ sở.
6
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Chí Minh để phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở quận Phú Nhuận trong
thời gian tới. Đồng thời đây cũng là tài liệu tham khảo cho việc triễn khai các
hoạt động của hệ thống chính trị quận Phú Nhuận trong việc thực hiện Quy
chế dân chủ ở cơ sở.
Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu nghiên cứu,
giảng dạy chuyên đề, ứng dụng của các nhà nghiên cứu về chính trị, các nhà
hoạt động chính trị trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các tổ
chức chính trị - xã hội khác.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương.
Chương 1: Lý luận chung về dân chủ và vai trò của Mặt trận tổ quốc
Việt Nam trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
Chương 2: Thực trạng vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc thực hiện quy chế dân
chủ ở cơ sở
Chương 3: Những giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh trong
việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
8
Chƣơng 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ DÂN CHỦ VÀ VAI TRÒ
CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
1.1. Một số khái niệm liên quan đến “Dân chủ” và “Dân chủ Xã hội
chủ nghĩa”
1.1.1. Sự hình thành và phát triển của dân chủ trong lịch sử
phát triển ở mức độ cao trong tiến trình phát triển của lịch sử loài người.
V.I.Lênin đã đánh giá rất cao nền dân chủ tư sản „„Nền dân chủ tư sản đánh
dấu một bước tiến bộ to lớn về mặt lịch sử so với chế độ Nga hoàng, với
chính thể chuyên chế, với chế độ quân chủ và với tất cả những tàn tích của chế
độ phong kiến‟‟. Tuy nhiên, nền dân chủ tư sản không phải là nền dân chủ đích
thực, đó là nền dân chủ cho người giàu, cho giai cấp tư sản. Như vậy, chế độ
dân chủ tư sản vẫn là công cụ bảo vệ quyền lực, lợi ích cho giai cấp tư sản, còn
nhân dân lao động có dân chủ nhưng dân chủ đó chỉ là hình thức ; giai cấp
công nhân vẫn là người làm thuê cho giai cấp tư sản.
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra một thời đại mới
trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Nhân dân lao động bị áp bức đã
làm cuộc cách mạng thành công, đã giành lấy chính quyền về tay mình, lập ra
nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Nhà nước xã hội chủ nghĩa
do nhân dân lao động lập ra, thực hiện quyền lực của nhân dân lao động và
thiết lập nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, một nền dân chủ của đại đa số nhân
dân lao động.
Như vậy, trong các chế độ dân chủ đã từng tồn tại, chỉ có chế độ dân
chủ vô sản, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa mới là nền dân chủ đích thực,
là nền dân chủ dành cho số đông, dân chủ của tuyệt đại đa số nhân dân lao
động. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ rộng rãi nhất và triệt để nhất
trong lịch sử.
10
1.1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ và dân chủ Xã
hội chủ nghĩa
Dân chủ là một hiện tượng lịch sử - xã hội, xuất hiện và phát triển với
tư cách là kết quả trực tiếp của đời sống chính trị và sự vận động chính trị của
các giai cấp nhằm giải quyết vấn đề quyền lực thuộc về giai cấp nào trong xã
hội. Do đó, chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng trong xã hội có giai cấp và nhà
chủ xã hội chủ nghĩa vừa có bản chất giai cấp công nhân, vừa có tính nhân
dân rộng rãi và có tính dân tộc sâu sắc.
Chủ nghĩa Mác - Lênin quan niệm dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân
chủ của nhân dân lao động, là nền dân chủ rộng rãi nhất và triệt để nhất trong
lịch sử. Khi giai cấp công nhân thông qua chính Đảng của mình lãnh đạo toàn
thể nhân dân lao động đứng lên đấu tranh chống lại chủ nghĩa tư bản, xóa bỏ
quyền cai trị của giai cấp tư sản và tự mình trở thành giai cấp cầm quyền và
xây dựng nền dân chủ vô sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa thì giai cấp công nhân
mới thực sự trở thành người làm chủ xã hội, làm chủ vận mệnh của mình. Chỉ
có xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa thì mọi đặc quyền, đặc lợi mới bị xóa
bỏ và quyền lực thực sự vào tay đại đa số nhân dân lao động.
Từ những khái niệm về dân chủ XHCN và chế độ dân chủ XHCN, có
thể rút ra bản chất của chế độ dân chủ XHCN là "Quyền làm chủ thực tế trên
mọi lĩnh vực xã hội của nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng
sản và thông qua sự quản lý của nhà nước XHCN". Chế độ dân chủ XHCN là
chế độ do nhân dân lao động làm chủ. Cơ sở khách quan qui định bản chất
chế độ dân chủ XHCN là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và bản chất
chính trị - xã hội của giai cấp công nhân.
Dân chủ phải gắn liền với chế độ nhà nước, nhà nước XHCN là nhà
nước của dân, do dân và vì dân, là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm
chủ của nhân dân.
12
Chế độ dân chủ XHCN là nền dân chủ thực sự chứ không phải là dân
chủ hình thức, nó hoàn toàn đối lập với dân chủ cực đoan, vô chính phủ, với
chuyên quyền độc đoán.
1.1.3. Nội dung, đặc điểm của nền dân chủ Xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam
Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Từ những khái niệm về dân chủ XHCN và chế độ dân chủ XHCN, có
thể rút ra đặc điểm của chế độ dân chủ XHCN là "Quyền làm chủ thực tế trên
mọi lĩnh vực xã hội của nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng
sản và thông qua sự quản lý của nhà nước XHCN". Chế độ dân chủ XHCN là
chế độ do nhân dân lao động làm chủ. Cơ sở khách quan qui định bản chất
chế độ dân chủ XHCN là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và bản chất
chính trị - xã hội của giai cấp công nhân.
Dân chủ phải gắn liền với chế độ nhà nước, nhà nước XHCN là nhà
nước của dân, do dân và vì dân, là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm
chủ của nhân dân.
Giữa chế độ dân chủ XHCN và chuyên chính vô sản có mối quan hệ
bản chất - quan hệ giữa dân chủ và chuyên chính, phản ánh bản chất chính trị
của CNXH: "Nhân dân lao động làm chủ dưới sự lãnh đạo của giai cấp công
nhân (thông qua đội tiền phong là Đảng cộng sản), bằng sự quản lý của nhà
nước XHCN".
Ở Việt Nam còn thể hiện một số đặc điểm nổi bật như: Sự hình thành
và phát triển dân chủ chưa qua dân chủ tư sản; dân chủ ở nước ta là bản chất
của chế độ mới, trong đó nhân dân lao động là người làm chủ đất nước, tất cả
quyền lực thuộc về nhân dân; dân chủ gắn với công bằng xã hội, gắn với xoá
bỏ áp bức bất công; dân chủ được thực hiện bằng nhiều hình thức trên mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội và được pháp luật bảo đảm; dân chủ gắn với kỷ
cương, kỷ luật, pháp chế, phù hợp với trình độ phát triển của đất nước và lịch
sử truyền thống của dân tộc.
14
Dân chủ được đảm bảo và phát huy bằng nhiều biện pháp. Việc thực
thi dân chủ luôn gắn liền với mối quan hệ giữa NN và nhân dân. ở nước ta hiện
nay, HTCT dựa trên thiết chế "Đảng lãnh đạo, NN quản lý, nhân dân làm chủ".
Việc phát huy, thực hiện dân chủ được tiến hành không tách rời thiết chế này.
nhân dân có quyền kiểm tra, thanh tra hoạt động của các tổ chức, cơ quan Nhà
nước trong khuôn khổ pháp luật; từ công tác kiểm tra để có kiến nghị chấn
chỉnh, bổ sung… với mục đích là làm cho hoạt động của các cơ quan này lành
mạnh hơn, dân chủ và hiệu quả hơn.
Việc thực hiện QCDC sẽ thúc đẩy việc phát huy quyền làm chủ của
nhân dân, thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân; nâng cao nhận
thức về quyền và nghĩa vụ của công dân; khơi dậy tiềm năng, trí sáng tạo, sức
mạnh vật chất và tinh thần của nhân dân để phát triển kinh tế - xã hội, cải
thiện đời sống cộng đồng; giữ vững kỷ cương phép nước, ngăn chặn tiêu cực,
nâng cao hiệu lực quản lý của bộ máy NN; xây dựng niềm tin và mối quan hệ
chặt chẽ giữa dân với Đảng và NN.
Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được thực
hiện dưới hai hình thức: dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Để phát huy
chế độ dân chủ đại diện, phải nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của
Quốc hội, Chính phủ, HĐND, UBND và UBMTTQ các cấp, đồng thời thực
hiện từng bước vững chắc chế độ dân chủ trực tiếp.
Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta rất coi trọng và phát huy quyền làm chủ
của nhân dân, dựa vào dân. Ngày 18/02/1998, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 30
CT/TW về xây dựng quy chế dân chủ (QCDC) ở cơ sở. Tiếp đó, ngày
15/05/1998, để cụ thể hoá Chỉ thị này, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định 29
NĐ/CP về ban hành “Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường”; Chỉ thị số
24/1998 CT/TTg ngày 19/6/1998 “Về việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy
ước của làng bản, thôn ấp, cụm dân cư” và Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11
16
ngày 20/4/2007 về việc “Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn” của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội Khóa 11. Đây là những văn bản quan trọng do Đảng, Nhà
nước ban hành. Tinh thần cơ bản của các Pháp lện, Chỉ thị và Nghị định này là
làm sao dân chủ XHCN được mở rộng, với hơn 70% dân số sống ở vùng nông
nước ta bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trịxã hội.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị của nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo,
là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng,
tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nơi
hiệp thương, phối hợp và thống nhất hành động của các thành viên. Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam có nhiệm vụ tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân,
tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân; tuyên truyền,
động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát
hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ công chức nhà
nước; tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng
và Nhà nước; tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân; cùng Nhà
nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; tham gia
phát triển tình hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các
nước trong khu vực và trên thế giới.
Thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp bao gồm Tổng
Liên đoàn lao động, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu
chiến binh, Hội Chữ thập đỏ, v.v…, và các thành viên là các cá nhân tiêu biểu
trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, giới kinh
doanh v.v …, là nơi thu hút được nhiều người tham gia, làm cho các cuộc vận
động toàn dân, các phong trào quần chúng trong việc giải quyết các nhiệm vụ
do Đảng và NN phát động trở thành hiện thực.
18