MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG MAY MẶC CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN MAY 10 SANG THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN
I. Mục tiêu và phương hướng phát triển của công ty
1. Mục tiêu phát triển ngành dệt may đến năm 2010 và 2020
Mục tiêu chung: phát triển ngành dệt may trở thành một trong những ngành
công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu, thoả mãn ngày càng cao nhu
cầu tiêu dùng trong nước, tạo nhiều việc làm cho xã hội, nâng cao khả năng
cạnh tranh, hội nhập vững chắc vào kinh tế khu vực và thế giới.
Mục tiêu cụ thể:
Tốc độ tăng trưởng Giai đoạn 2006-2010 Giai đoạn 2011-2020
- Tăng trưởng sản xuất hàng năm 15 – 17% 11 – 12%
- Tăng trưởng xuất khẩu hàng năm 14 – 16% 11 – 12%
Chiến lược phát triển ngành dệt may đến năm 2020:
+ Lấy xuất khẩu làm mục tiêu phát triển cho ngành, tiếp tục mở rộng thị
trường xuất khẩu, phát triển thị trường nội địa.
+ Tập trung nguồn lực từ mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước cho
đầu tư phát triển ngành dệt may Việt Nam hiện đại, nâng cao năng lực cạnh
tranh để đẩy mạnh xuất khẩu.
+ Phát triển mạnh các sản phẩm thời trang tại các thành phố và đô thị lớn,
đồng thời thực hiện chuyển dịch các cơ sở sản xuất sử dụng nhiều lao động ra
các vùng nông thôn.
+ Đa dạng hoá các loại hình doanh nghiệp trong ngành dệt may, huy động
mọi nguồn lực đầu tư vào ngành, kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào
các lĩnh vực mà trong nước các nhà đầu tư còn yếu và thiếu kinh nghiệm.
+ Ưu tiên phát triển các sản xuất hỗ trợ, sản xuất nguyên phụ liệu dệt may
trong nước, đẩy mạnh công tác đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên gia thiết
kế mẫu mã và công nhân lành nghề nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh của
ngành. Đồng thời giải quyết tốt mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và
người lao động đảm bảo sự phát triển ổn định của ngành.
+ Phát triển ngành dệt may phải gắn với vấn đề bảo vệ môi trường và xu thế
chuyển dịch lao động nông nghiệp nông thôn.
triển nguồn nhân lực bởi con người là yếu tố quan trọng nhất tạo nên thành công
của May 10. Do đó, công ty nỗ lực hết mình đào tạo một đội ngũ nhân viên theo
đúng mục tiêu đã đề ra, có những chương trình hỗ trợ đội ngũ nhân viên phát
triển các kỹ năng nghề nghiệp và trình độ quản lý, tạo môi trường làm việc
chuyên nghiệp để nhân viên phát huy tối đa năng lực cá nhân, có cơ hội phát
triển nghề nghiệp. Công ty phấn đấu đến năm 2010 đào tạo mới và tuyển dụng
được 8000 lao động, trình độ đại học và trung học chuyên nghiệp các phòng ban
nghiệp vụ đạt 100%. Đồng thời công ty sẽ tiếp tục đầu tư các thiết bị công nghệ,
các dây chuyền sản xuất tiên tiến, hiện đại và đồng bộ, luôn luôn thực hiện công
tác cải tiến tổ chức sản xuất, nâng cao năng lực quản lý nhằm nâng cao năng
suất lao động, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm.
Năm 2007, với sự phấn đấu của ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ công nhân
viên trong công ty, công ty đã hoàn thành các chỉ tiêu đề ra. Về lợi nhuận, thực
hiện được 752.516 USD, đạt 123,9%. Hoàn thành kế hoạch về doanh thu đạt
100,1% (thực hiện được 12.750.516 USD) (Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động
của công ty năm 2007).
Tại buổi lễ mít tinh kỷ niệm 62 năm thành lập May 10, 49 năm ngày Bác Hồ
về thăm công ty diễn ra ngày 08/01/2008, trên cơ sở những kết quả đã đạt được,
công ty đã thông báo các chỉ tiêu thi đua năm 2008 của May 10 năm 2008 như
sau:
Doanh thu: 590 tỷ đồng, tăng 20% với năm 2007.
Lợi nhuận: 17,5 tỷ, tăng 6% so với năm 2007.
Thu nhập của công nhân: 1.800.000 đồng/người/tháng.
Chi phí giảm: 10% – 15% so với năm 2007.
Giảm lao động không hiệu quả ở bộ phận gián tiếp: 5 – 10%.
II. Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng may mặc của công ty sang thị
trường Nhật Bản
1. Nâng cao chất lượng sản phẩm
Như chúng ta đã biết, chất lượng sản phẩm luôn là yếu tố quan tâm hàng đầu
của cả khách hàng cũng như của doanh nghiệp. Trong thời kỳ giá cả gia tăng
thành phẩm cũng như của thành phẩm, từ đó ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động
của công ty.
Vấn đề công nghệ cũng phải được quan tâm khi nâng cao chất lượng sản
phẩm. Công ty cần có sự đầu tư mua các công nghệ, trang thiết bị tiên tiến, hiện
đại, các dây chuyền sản xuất phù hợp với yêu cầu sản xuất của công ty. Không
thể thiếu được những sáng kiến, cải tiến kỹ thuật của chính đội ngũ lao động
trong công ty, những người am hiểu nhất về tình hình sản xuất của công ty.
Công ty cần phải có những chính sách khen thưởng hợp lý đối với những sáng
kiến, cải tiến của người lao động, có các biện pháp khuyến khích người lao
động phát huy khả năng sáng tạo của họ.
2. Đảm bảo tiến độ sản xuất để thực hiện hợp đồng
Khi thực hiện công tác giao dịch, đàm phán để ký kết hợp đồng với các đối
tác, công ty cần thoả thuận thời gian giao hàng hợp lý sao cho khoảng thời đó
đủ cho công ty thực hiện các hoạt động sản xuất để có đủ số lượng sản phẩm
giao cho khách hàng đúng thời hạn cũng như đảm bảo yêu cầu về chất lượng.
Nếu tiến độ sản xuất không được đảm bảo, công ty giao hàng không đúng thời
hạn đã ký kết hoặc hàng hoá không đảm bảo yêu cầu về chất lượng thì sẽ công
ty phải chịu phạt theo quy định về thưởng phạt trong hơp đồng. Điều này làm
gia tăng chi phí, giảm lợi nhuận, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh
cũng như uy tín của công ty đối với bạn hàng. Mặt khác, việc giao hàng đúng
thời hạn cũng đảm bảo tính thời trang, thời tiết đối với sản phẩm may mặc.
Điểm đáng lưu ý nhất đối với các doanh nghiệp khi xuất khẩu vào thị trường
Nhật Bản là đảm bảo thời gian giao hàng. Các đối tác Nhật Bản rất coi trọng
việc giao hàng đúng thời hạn, đây là yêu cầu khắt khe sau yêu cầu về chất lượng
sản phẩm. Nếu doanh nghiệp không đáp ứng được yêu cầu này của phía đối tác
Nhật thì vừa bị phạt theo hợp đồng (có thể dẫn tới hậu quả là đối tác Nhật
không nhận hàng nữa), vừa không có cơ hội hợp tác lần sau, công ty cũng
không tạo được uy tín đối với đối tác cuả mình.
Để làm đảm bảo được tiến độ sản xuất, công ty phải xây dựng một kế hoạch
thực hiện thật chi tiết, cụ thể theo tháng, từng quý, theo từng lô hàng, từng hợp