PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH
GIỮA TỈNH HUYỆN XÃ ĐỐI VỚI TỈNH BẮC NINH
3.1. Các quan điểm cần quán triệt trong hoàn thiện phân cấp quản lý ngân
sách nhà nước
3.1.1. Bảo đảm tính thống nhất của hệ thống tổ chức quốc gia và vai trò chủ
đạo của ngân sách tỉnh đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa
phương trong phát triển KT-XH ở Bắc Ninh
Quan điểm này cần đặt ra khi tiến hành phân công trách nhiệm, quyền hạn giữa
tỉnh và các huyện, xã. Tập trung chú ý các vấn đề sau:
- Cần thiết lập một hệ thống tài chính xuyên suốt, thống nhất từ trên xuống, từ
trung ương xuống địa phương, từ tỉnh xuống huyện, xã. Sự thống nhất phải thể
hiện trên các mặt tổ chức, cơ chế vân động. Hệ thống tổ chức ngân sách của tỉnh
phải theo sát hệ thống tổ chức chính quỳên: Hoạt động của hệ thống phải dựa
trên cơ sở pháp luật thống nhất, các chế độ thu, chi ngân sách hoàn toàn theo sự
phân cấp từ trung ương và được quy định cụ thể riêng đối với tỉnh, huyện, xã
- Đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách tỉnh. Vai trò này xuất phát từ việc
phân cấp quản lý ngân sách của nhà nước ta theo mô hình “lồng ghép”. Ngân
sách tỉnh bao gồm ngân sách huyện và ngân sách xã. Nó đại diện khá đầy đủ
cho ngân sách địa phương. Mặt khác ngân sách tỉnh đảm nhận những nhiệm vụ
chi quan trọng của địa phương. Ngân sách tỉnh có nhiệm vụ đảm bảo nguồn tài
lực cho các hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội quan trọng do trung ương phân
cấp. Tập trung vốn đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, xã hội, xây dựng đô thị
hiện đại, thực hiện các chính sách xã hội quan trọng, đảm bảo hoạt động giáo
dục –đào tạo,y tế do tỉnh quản lý, đảm bảo quốc phòng, an ninh, đối ngoại, và
hỗ trợ ngân sách cấp dưới chưa cân đối được thu, chi ngân sách
Đối với nhiệm vụ thu, chi xây dựng cơ bản của các dự án thuộc tỉnh quản lý
phải được ưu tiên bố trí, sắp xếp căn cứ theo cơ cấu đầu tư từng lĩnh vực, theo
nghị quyết của HĐND tỉnh, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội,
khả năng ngân sách tỉnh và hiệu quả đâu tư.
- Phát huy tính chủ động, sách tạo của ngan sách huyện, xã trong việc mở rộng
nguồn thu. Ngân sách huyện được tăng cường nguồn thu tối đa đủ để thực hiện
xã trong các khoản thu, chi và mối quan hệ nhiệm vụ chi và nguồn thu. Nhiệm
vụ chi, quyền hạn chi và nguồn thu phải tương xứng, hợp lý. Tránh việc thu
thừa mà không có quyền chi
Mức độ độc lập của ngân sách huyện, xã cần được xác định rõ ràng căn cứ vào
quy định của luật ngân sách nhà nước. Điều này đòi hòi việc quy định rõ ngân
sách huyện,xã được tự chủ về vấn đề gì, thành lập sử dụng các quỹ tài chính.
Sự công bằng giữa các địa phương cũng cần được làm rõ. Đầu tiên là quyền ưu
tiên trong đầu tư bằng vốn ngân sách. Nếu quan tâm đến hiệu quả trước mắt thì
đầu tư cho thành phố, các huyện, xã phát triển thì sẽ nhanh có kết quả hơn.
Nhưng nếu nhìn về lâu dài thì việc đầu tư cho các nơi phát triển sẽ dẫn đến tình
trạng phát triển chênh lệch giữa các huyện, xã, sự phát triển không đồng đều
giữa các nơi trong tỉnh sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển chung của tỉnh. Do vậy
cần ưu tiên đầu tư vào các vùng sâu,xa, khó khăn, kém phát triẻn. Cần giành
một phần ngân sách của các huyện,xã phát triển để hỗ trợ cho các nơi còn khó
khăn. Việc phân bổ ngân sách cần có một hệ thống các định mức, tiêu chuẩn
hợp lý dựa trên cơ sở tiêu chuẩn hiệu quả kinh tê, xã hội của tỉnh làm căn cứ.
Việc trợ cấp cần công bằng, chú ý đến nơi còn khó khăn.
3.2. Phương hướng quản lý ngân sách địa phương ở tỉnh Bắc Ninh trong thời kỳ
ổn định 2007-2010
3.2.1. Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn
2006- 2010 của Bắc Ninh
3.2.1.1. Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ chung:
- Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao, hiệu quả và bền vững hơn trên
cơ sở bứt phá về công nghiệp, dịch vụ và chuyển mạnh sản xuất nông nghiệp
sang sản xuất nông nghiệp hàng hoá; đồng thời tạo bước chuyển biến mạnh mẽ
về chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Nâng cao một bước chất lượng
lao động, khoa học và công nghệ để chủ động hội nhập kinh tế quốc tế phục vụ
công nghiệp, đô thị và nhân dân.
-Phấn đấu đưa Bắc Ninh thành tỉnh phát triển trong vùng KTTĐ Bắc Bộ có cơ
cấu kinh tế : Công nghiệp - Dịch vụ- Nông nghiệp hợp lý.
nâng cao chất lượng thể thao quần chúng, đầu tư phát triển thể thao thành tích
cao.
-Tập trung sự cố gắng của các ngành, các cấp, thu hút các nguồn vốn để tạo
bước phát triển mới trong tạo việc làm, giải quyết lao động. Giảm tỷ lệ thất
nghiệp ở thành thị và nâng cao tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn.
Phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống mức thấp nhất (theo chuẩn mới) đặc biệt
là vùng khó khăn; Nâng cao hơn nữa đời sống nhân dân.
-Giải quyết kịp thời, có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc; đẩy lùi các tệ
nạn xã hội, tai nạn giao thông, hạn chế thấp nhất những vụ khiếu kiện phức tạp,
đông người, kéo dài.
- Tạo bước chuyển biến mạnh mẽ và toàn diện hơn nữa trong cải cách hành
chính, đặc biệt nâng cao tinh thần, ý thức trách nhiệm của CBCC và các cơ quan
hành chính trong việc phục vụ nhân dân. Chống quan liêu, tham nhũng, lãng
phí, tiêu cực.
- Tăng cường quốc phòng, quân sự địa phương; giữ vững an ninh chính trị và
trật tự an toàn xã hội.
3.2.1.2. Mục tiêu cụ thể:
- Nhịp độ tăng GDP ( giá 1994) bình quân hàng năm đạt 15-16%, trong đó:
nông nghiệp tăng 4-5%, công nghiệp-xây dựng tăng 19- 20% ( riêng công
nghiệp tăng trên 20%), dịch vụ tăng 17- 18%.
- Cơ cấu GDP đến năm 2010 ( giá hiện hành): nông nghiệp 14,0%, công nghiệp-
xây dựng 55,0% và dịch vụ 31,0%.
- GDP bình quân đầu người ( giá hiện hành) năm 2010 đạt khoảng 1300USD
( 20,61-21,52 triệu đồng).
- Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 đạt 20.112 tỷ đồng ( giá 1994) tăng
bình quân 25%/ năm.
- Giá trị sản xuất nông, lâm, thuỷ sản năm 2010 đạt 2939,4-3108,5 tỷ đồng ( giá
1994), tăng bình quân 6,0-7,2%/ năm; giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 65 triệu
đồng/ha, trong đó giá trị trồng trọt đạt 42 triệu đồng/ha canh tác.
- Năm 2010 tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 800-900 triệu USD, tăng bình quân
trợ, công nghiệp chế biến…có khả năng thu hồi vốn nhanh, có cơ hội chọn lọc
đối tác đầu tư từ bên ngoài vào địa phương, có hàm lượng chất xám cao, thu hút
nhiều lao động địa phương; Chú trọng phát triển các ngành công nghiệp sử
dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ, nhất là nguyên liệu từ nông lâm nghiệp, các
ngành nghề truyền thống: gỗ, gốm mỹ nghệ, chế biến lương thực, thực phẩm,
dệt, may mặc, da giầy...cơ khí chế tạo, điện, điện tử, tin học, hoá dược, vật liệu
mới, rượu, bia, nước giải khát và hướng mạnh về xuất khẩu.
- Tạo mọi điều kiện thuận lợi để thu hút nhiều vốn đầu tư FDI. Nâng cao năng
lực thẩm định cấp phép đầu tư và dự án đầu tư đảm bảo sử dụng hiệu quả đất
công nghiệp, phát triển sản xuất và giảm thiểu mức độ ô nhiễm môi trường.
- Tăng cường các hoạt động hỗ trợ nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, phấn
đấu đưa số HTX hoạt động khá giỏi đạt từ 60%-70%; Phát triển mạnh mô hình
HTX ngành nghề, thu hút lao động ở nông thôn . Làm tốt công tác khuyến công
và nhân cấy nghề mới vào nông thôn, tạo thêm việc làm mới.
b.Dịch vụ
- Phấn đấu đến năm 2010 tổng mức bán lẻ hàng hoá xã hội đạt 9.600 tỷ đồng,
tăng bình quân 21%/năm. Kim ngạch xuất khẩu đạt 800-900 triệu USD, gấp
8,9-10 lần năm 2005, tăng bình quân 54,8-58,5%/ năm.
- Doanh thu du lịch đến năm 2010 đạt 117 tỷ đồng, tăng bình quân 21,1% /năm.
-Tiếp tục triển khai thực hiện tốt quy hoạch phát triển thương mại, du lịch, hệ
thống cửa hàng xăng dầu, hệ thống chợ nông thôn và quy hoạch vùng sản
xuất hàng hoá tập trung đã được phê duyệt.
- Xây dựng và phát triển hệ thống trung tâm thương mại và Siêu thị loại 3 kinh
doanh bán lẻ, các ngành hàng hoặc chuyên doanh. Khuyến khích phát
triển HTX thương mại- dịch vụ ở các huyện để cung cấp dịch vụ, vật tư kỹ
thuật; hàng công nghiệp, tiêu dùng và tiêu thụ nông sản.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá xúc tiến phát triển du lịch, xúc tiến
quy hoạch và đầu tư các dự án du lịch trọng điểm: Khu du lịch văn hoá Cổ Mễ,
Đền Đầm, Phật Tích, du lịch
tại các làng Quan họ Cổ, làng nghề, du lịch tâm linh, hoàn thiện tuyến du lịch
cánh đồng trên 50 triệu đồng /ha ( khoảng 30% -35% diện tích). Phát triển chăn
nuôi trang trại, chăn nuôi theo phương thức công nghiệp-bán công nghiệp; Đến
năm 2010 phấn đấu đàn bò đạt 80,5 nghìn con, đàn lợn 820 nghìn con ( tăng
bình quân 8,3%/năm), đàn gia cầm 6,0 triệu con ( tăng bình quân 9-10%/năm);
Sản lượng thịt các loại đạt 129 nghìn tấn.
Thuỷ sản: Tiếp tục chuyển dịch 765 ha đất trũng sang nuôi thả cá, mở rộng mô
hình thâm canh cá, kết hợp thả cá với làm VAC, AC, đưa sản lượng cá năm
2010 lên 23,7 nghìn tấn, tăng bình quân 10,5% /năm.
Lâm nghiệp: Tập trung trồng, nâng cấp toàn bộ diện tích rừng phòng hộ, đặc
dụng, sinh thái (còn khoảng 500 ha chưa trồng rừng bước 2). Chăm sóc bảo vệ
tốt diện tích rừng đã trồng ; phát triển, ổn định khoảng 800 ha rừng tập trung
trên đất gò đồi. Trồng khoảng 6-7 triệu cây phân tán, gắn phát triển lâm nghiệp
với phát triển kinh tế trang trại, vườn hộ và phát triển du lịch, dịch vụ.
d. Phát triển kết cấu hạ tầng
-Giao thông vận tải: Phát triển hạ tầng giao thông vận tải đồng bộ, hợp lý, hiện
đại, tạo thành mạng lưới giao thông vận tải liên hoàn, liên kết đáp ứng nhu cầu
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và tiến trình hội nhập quốc tế và khu vực.
Ưu tiên đầu tư nâng cấp các tuyến tỉnh 282, 295, 271, các tuyến đường vào
các khu công nghiệp, cụm công nghiệp; các nút giao thông 270,271, quốc lộ 38.
Phấn đấu đến năm 2010 nhựa hoá hoặc bê tông hoá đạt 90 % hệ thống giao
thông nông thôn. Đề nghị Trung ương nâng tỉnh lộ 282 thành quốc lộ và làm
cầu Vạn Ninh qua sông Đuống nối 282 với quốc lộ 18 và quốc lộ 5.
-Tiếp tục củng cố và hoàn thiện hệ thống thuỷ lợi , điện, cấp thoát nước, hạ tầng
các khu, cụm công nghiệp. Tiếp tục kiên cố hoá kênh mương và cứng hoá mặt
đê sông Đuống, sông Cầu còn lại với chiều dài 87,58km; Hoàn thành 2 dự án
ADB3: cải tạo và nâng cấp thuỷ lợi Nam Đuống, cứng hoá đê Hữu Đuống, kiên
cố hoá kè sông.
-Ngành điện: Tiếp tục đầu tư xây dựng thêm lưới điện cao, hạ áp và nâng cấp
mạng lưới điện hiện có đáp ứng đủ nhu cầu điện phục vụ sản xuất ( nhất là phục
vụ khu công nghiệp Quế Võ, Tiên Sơn, cụm công nghiệp Châu Khê,...) và sinh
sở của trung ương trên địa bàn, với Thủ đô và các tỉnh bạn để đào tạo đội ngũ
lao động có nghề cao đáp ứng nhu cầu phát triển của tỉnh; phát triển đại học dân
lập của tỉnh.
*. Khoa học công nghệ và Tài nguyên môi trường
Tập trung đẩy mạnh việc ứng dụng các thành tựu KHCN mới phục vụ sản xuất
và đời sống; xây dựng các mô hình ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh
học; đẩy mạnh công tác tư vấn, hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công
nghệ, thực thi quyền sở hữu trí tuệ, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng
theo tiêu chuẩn quốc tế. Hoàn thiện cơ sở hạ tầng, ứng dụng và phát triển công
nghệ thông tin phục vụ các hoạt động quản lý điều hành sản xuất-kinh doanh.
*. Y tế, dân số, gia đình và trẻ em
- Nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ cán bộ, y, bác sỹ, đặc biệt
cho tuyến y tế cơ sở. Ổn định quy mô các bệnh viện tuyến huyện, hoàn chỉnh
xây dựng bệnh viện đa khoa thành Bệnh viện khu vực và các Bệnh viện lao,
Tâm thần, Phụ sản,Trung tâm y tế dự phòng. Nâng cao chất lượng khám chữa
bệnh ở tất cả các tuyến. Quan tâm đầu tư để đạt Chuẩn y tế quốc gia tuyến cơ
sở.
- Nâng cao năng lực, trình độ cán bộ ngành y tế, tăng cường công tác nghiên
cứu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ tiên tiến trong y học, từng bước hiện
đại hoá công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, tiếp tục làm tốt công tác dân số
gia đình. Chú ý làm tốt công tác chăm sóc bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có
hoàn cảnh khó khăn
*. Văn hoá – thông tin - thể thao
- Xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, quê
hương, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình, làng xã, khối phố, cơ quan văn
hoá.
- Phấn đấu đến năm 2010 ổn định cơ bản nền tảng cơ sở vật chất và hệ thống
thiết chế văn hoá từ tỉnh đến huyện. Hoạt động báo chí, phát thanh truyền hình
được hiện đại hoá một bước, phát triển sự nghiệp văn hoá thông tin thể thao
tương xứng với tiềm năng và sự phát triển kinh tế xã hội.
3.2.2. Một số giải pháp chính
3.2.2.1. Tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách nhằm giải
phóng triệt để sức sản xuất, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh trên tất cả các lĩnh
vực, gắn với việc chuyển dịch tích cực cơ cấu kinh tế.
- Áp dụng sáng tạo các quy định về ưu đãi đầu tư trong và ngoài nước, ưu tiên
các dự án sản xuất kinh doanh áp dụng công nghệ tiên tiến, sử dụng nhiều lao
động, khai thác nguyên liệu tại chỗ, hiệu quả cao.
- Đảm bảo sự ổn định môi trường sản xuất kinh doanh ở mọi lĩnh vực, nhất là
trong chính sách thuế, chính sách đất đai, quy hoạch... để lợi ích của nhà đầu tư
không bị ảnh hưởng do thay đổi chính sách.
- Khuyến khích ưu tiên các dự án, cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu, chế biến nông
sản, thực phẩm... đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, quảng bá tiếp thị, tìm và
mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
3.2.2.2. Huy động và quản lý tốt các nguồn lực cho đầu tư phát triển.
Để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng đề ra, theo tính toán sơ bộ tổng nguồn vốn
đầu tư 5 năm 2006-2010 khoảng 47.277 tỷ đồng (theo giá hiện hành), trong đó:
Nhu cầu vốn đầu tư cho CN-XD là: 28.955 tỷ VNĐ
Nhu cầu vốn đầu tư cho Dịch vụ là: 16.605 tỷ VNĐ.
Nhu cầu vốn đầu tư cho Nông nghiệp là: 1.717 tỷ VNĐ.
Phải huy động tốt mọi nguồn vốn trên cho đầu tư phát triển ( vốn đầu tư từ ngân
sách, từ các doanh nghiệp, từ quỹ đất, từ huy động trong dân, vốn vay, vốn huy
động từ bên ngoài : ODA, FDI, NGO...tăng thu ngân sách, có kế hoạch tiết kiệm
chi để dành vốn cho đầu tư phát triển). Nghiên cứu tiếp tục ban hành và thực
hiện cơ chế phù hợp về đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế xã hội, đầu tư phát triển
sản xuất kinh doanh theo hướng một cửa, tại chỗ, thủ tục đơn giản, nhanh gọn,
đúng luật.
Quản lý tốt các nguồn vốn đầu tư phát triển, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Thực hiện tốt các quy định về đầu tư XDCB chống thất thoát, lãng phí, nhất là
các công trình có nguồn vốn từ NSNN.
3.2.2.3. Thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần.
Coi trọng thị trường nội địa, mở rộng thị trường nông thôn, thực hiện quy hoạch
hệ thống chợ trên địa bàn để khai thác, sử dụng các biện pháp thích hợp nhằm
kích thích sức mua của nhân dân, nhất là vùng nông thôn.
3.2.2.6. Toàn tỉnh, nhất là các Sở, Ban, Ngành, các huyện, thị xã phải xây dựng
chương trình hành động, dự án, đề án cụ thể, phấn đấu mỗi Sở, Ban, Ngành có ít