BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
----------/----------
BỘ NỘI VỤ
------/------
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐINH THỊ MINH NGUYỆT
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CỦ CHI,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8 34 04 03
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trương Thị Hiền
Phản biện 1: TS. Đào Đăng Kiên
Phản biện 2: TS. Nguyễn Trung Đông
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học
viện Hành chính Quốc gia
Địa điểm: Phòng họp 211, Nhà A- Hội trường bảo vệ luận văn
thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia
Số: 10 – Đường 3/2 – Quận 10 – Thành phố Hồ Chí Minh
nghèo được hỗ trợ các nhu cầu tối thiểu, được chăm sóc sức khỏe, có
cơ hội được học tập, có thể tự vươn lên trong cuộc sống, góp phần
phát triển KTXH tại huyện. Tuy nhiên, tốc độ giảm nghèo tại huyện
Củ Chi vẫn còn chậm, tỉ lệ HN, HCN chiếm tỉ lệ cao (Năm 2017: hộ
nghèo 6.11%, hộ cận nghèo chiếm 7.94% trong khi trên địa bàn
thành phố lần lượt là 2.52%, 2.33%) chưa tương xứng với tiềm năng
phát triển của vùng ngoại thành của một thành phố lớn, công tác
giảm nghèo chưa thật sự bền vững, dễ tái nghèo. Đây là khó khăn,
hạn
chế, thách thức cho công tác GNBV trong thời gian tới.
1
Có nhiều lý do gây khó khăn cho công tác GNBV tại huyện
Củ Chi, trong đó một trong những lý do chính là sự hạn chế trong
.QLNN về GNBV.
Thực tế nêu trên đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc cần phải tiếp
tục nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện và nâng
cao hiệu quả QLNN đối với GNBV và nâng cao chất lượng giảm
nghèo tại huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh. Đó là lý do tôi
chọn đề tài “Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững trên địa
bàn huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn tốt
nghiệp cao học chuyên ngành Quản lý công của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
GNBV là một trong những vấn đề được Đảng và nhà nước
đặc biệt quan tâm, đồng thời cũng được nhiều tổ chức, cá nhân
nghiên cứu để đưa ra các giải pháp thực hiện giảm nghèo trên các địa
bàn khác nhau. Cụ thể như:
Tác giả Trần Thị Vân Anh với nghiên cứu “Phương pháp
Luận văn sẽ đề ra các giải pháp cụ thể nhằm góp phần hoàn thiện
QLNN về GNBV trên địa bàn huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí
Minh.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng, tìm ra
nguyên nhân của hạn chế, bài học kinh nghiệm QLNN về GNBV từ
đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN về GNBV trên địa
bàn trên địa bàn huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở khoa học QLNN về GNBV; phân tích,
đánh giá thực trạng QLNN về GNBV; đề xuất các giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả QLNN về GNBV trên địa bàn huyện Củ Chi,
thành phố Hồ Chí Minh.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động QLNN về
GNBV trên địa bàn huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu về không gian: Huyện Củ Chi, thành phố
Hồ Chí Minh.
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: từ năm 2013 đến nay.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu:
3
Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử, dựa trên nền tảng lý luận của chủ
4
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
1.1. Lý luận về giảm nghèo bền vững
1.1.1. Các quan niệm về nghèo đói
1.1.2. Chuẩn mực nghèo đói
1.1.3. Các khái niệm và tiêu chí về Giảm nghèo bền vững:
1.2. Quản lý nhà nƣớc về giảm nghèo bền vững
1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước về giảm nghèo bền
vững
1.2.2. Nội dung quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững
1.2.2.1. Ban hành các chính sách, chương trình, kế hoạch và
tổ chức thực hiện các chính sách, chương trình, kế hoạch giảm nghèo
bền vững
* Ban hành các chính sách, chương trình, kế hoạch giảm
nghèo bền vững
* Tổ chức thực hiện các chính sách, chương trình, kế hoạch GNBV
1.2.2.2. Công tác tuyên truyền chính sách, vận động người
dân có ý thức vươn lên phát triển kinh tế gia đình, tham gia vào
chương trình GNBV.
1.2.2.3. Xây dựng tổ chức bộ máy và nhân lực để thực hiện
giảm nghèo bền vững
1.2.2.4. Sự phân công, phối hợp trong QLNN về giảm nghèo
bền vững.
1.2.2.5. Xã hội hóa công tác giảm nghèo, huy động nguồn
lực thực hiện chương trình giảm nghèo bền vững.
1.2.2.6. Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá
Huyện Củ Chi có vị trí địa lý nằm ở hướng Tây Bắc Thành
phố Hồ Chí Minh. Có 20 xã và 01 thị trấn. Có 178 ấp và khu phố với
107.900 hộ gia đình và hơn 411.987 nhân khẩu.
Trong những năm qua, KTXH huyện Củ Chi phát triển khá
ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm trên 18.96%,
GDP bình quân đầu người đạt hơn 40 triệu đồng/người/năm. Tỷ trọng
trong cơ cấu kinh tế là: công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp chiếm
74.51%, Thương mại - dịch vụ - du lịch chiếm 14.01%, nông nghiệp
chiếm 11.48% [17, tr.7].
Huyện Củ Chi là một trong những địa phương có tỷ lệ hộ
nghèo cao đứng thứ 3, hộ cận nghèo đứng thứ 2 so với các quận,
huyện của thành phố [45, tr.28].
6
2.1.2. Thuận lợi và khó khăn của huyện Củ Chi, thành
phố Hồ Chí Minh trong giảm nghèo bền vững
2.1.2.1. Những thuận lợi
2.1.2.2. Những khó khăn
2.1.3. Tình hình giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện
Củ Chi trong những năm qua.
2.2. Thực trạng quản lý nhà nƣớc về giảm nghèo bền vững trên
địa bàn huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh
2.2.1. Ban hành chương trình, kế hoạch và các quy định
thực hiện giảm nghèo bền vững.
2.2.2. Về tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác
giảm nghèo
2.2.3. Về tổ chức thực hiện các chính sách về giảm nghèo
bền vững
Việc xây dựng kế hoạch còn mang tính khuôn mẫu, máy
móc, định hướng từ trên xuống chưa gắn kết với đặc điểm của từng
xã, thị trấn. Kế hoạch giảm nghèo cho từng địa bàn còn chung chung,
chưa sát điều kiện thực tế, thiếu giải pháp cụ thể hiệu quả và khả thi.
Hệ thống chính sách giảm nghèo còn nặng tính bình quân,
cào bằng; bao cấp, hỗ trợ trực tiếp, chưa khuyến khích sản xuất, tín
dụng ưu đãi, dạy nghề, khuyến nông, lâm, ngư; chưa thể hiện tính
đặc thù của từng nhóm dân cư, vùng miền, đối tượng, nhất là nhóm
các chính sách dân tộc. Chính sách còn mang tính ngắn hạn, hỗ trợ là
chính, hiệu quả chưa cao, chưa khuyến khích được người nghèo vươn
lên; chưa huy động được sức mạnh từ cộng đồng tham gia xây dựng,
tổ chức thực hiện vẫn chủ yếu dựa vào nguồn lực từ Nhà nước.
Chưa có nhiều chính sách đối với hộ mới thoát nghèo, chính
sách cho hộ cận nghèo còn hạn chế; chưa có giải pháp mạnh khuyến
khích người dân vươn lên thoát nghèo, khuyến khích các mô hình
hay, địa phương giảm nghèo hiệu quả, dẫn tới sự trông chờ, ỷ lại vào
chính sách.
Ban chỉ đạo và cán bộ làm công tác giảm nghèo ở cơ sở còn
yếu về năng lực, chủ yếu là kiêm nhiệm với các công việc khác,
thường xuyên thay đổi nên chưa có nhiều thời gian dành cho công tác
GNBV. Tình trạng xác định sai đối tượng hoặc bỏ sót đối tượng còn
khá phổ biến do quy trình rà soát, bình xét hộ nghèo còn hành chính
về mặt hồ sơ, biểu mẫu; Công tác tuyên truyền, giải thích các chính
sách giảm nghèo giai đoạn mới cho người nghèo ở một số xã chưa
đầy đủ, kịp thời dẫn đến sự tham gia của người dân, người nghèo còn
hạn chế, làm giảm đi tác động và hiệu quả của các chính sách hỗ trợ
8
lao động rất thấp.
Tốc độ giảm nghèo nhanh nhưng chưa thật sự bền vững, dễ
tái nghèo: HN, HCN vượt chuẩn nhưng tích lũy thu nhập chưa ổn
9
định vì việc sản xuất, làm ăn vẫn còn gặp khó khăn, lúng túng; mặt
khác, các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống (bảo hiểm y tế, học văn
hóa, học nghề, nhà ở…) vẫn còn khó khăn nhưng các chính sách hỗ
trợ đối với hộ cận nghèo ở một số địa phương chưa tác động kịp thời,
đầy đủ hoặc một số chính sách hỗ trợ sẽ bị cắt giảm khi hộ đã vượt
chuẩn nghèo làm cho tâm lý hộ nghèo lo lắng, hụt hẫng, thiếu tự tin.
Hoạt động giám sát, kiểm tra chưa thuờng xuyên, thiếu sâu
sát, nặng hình thức nên chất lượng thấp; kiểm tra, phúc tra và khắc
phục sai sót trong triển khai thực hiện chính sách còn chậm. Công tác
báo cáo, đánh giá còn chậm, chất lượng báo cáo chưa cao, nội dung
còn sơ sài chưa đầy đủ và kịp thời cho việc hoàn thiện các khâu trong
thực hiện chính sách. Vẫn còn hiện tượng hình thức, thiếu chuẩn bị
chu đáo, có nơi mang tính đối phó, chiếu lệ, mắc bệnh thành tích.
Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả và hiệu lực của
chính sách GNBV trên địa bàn.
Chƣơng 3
PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
3.1. Phƣơng hƣớng hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về giảm nghèo bền
vững trên địa bàn huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh.
3.1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề giảm
kết giai đoạn 2016-2020 để đánh giá kết quả thực hiện công tác giảm
nghèo những năm qua
Bình quân thu nhập của HN huyện vào năm 2020 tăng lên
3,5 lần so với năm 2011 [36, tr.2].
3.2. Các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quản lý nhà nƣớc
về giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Củ Chi, thành
phố Hồ Chí Minh
3.2.1. Hoàn thiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch thực hiện
chương trình giảm nghèo
Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phải được xuất
phát từ thực tiễn. Xác định được mục tiêu cụ thể, đối tượng cụ thể,
nội dung trọng tâm cần thực hiện và các giải pháp cơ bản, cụ thể, sát
thực để tập trung nguồn lực thực hiện. Việc lập kế hoạch giảm nghèo
của địa phương cần có sự chủ động, huy động sự tham gia của người
dân trong thảo luận, bàn bạc, đóng góp ý kiến thông qua sinh hoạt tổ
nhân dân, sinh hoạt ấp, sinh hoạt ban ngành đoàn thể. Các chính
11
sách, dự án giảm nghèo; chương trình, dự án giảm nghèo cần phải
gắn với quy hoạch, kế hoạch phát triển KTXH của huyện, gắn với
các tiêu chí xây dựng nông thôn mới; ban hành các văn bản hướng
dẫn triển khai chính sách cụ thể từng xã, thị trấn để hỗ trợ đối tượng
HN, HCN phù hợp với đặc điểm thực tế của địa phương.
Từ đó phân công trách nhiệm cụ thể cho các tổ chức, hội,
đoàn thể, cán bộ, đảng viên trực tiếp theo dõi, phụ trách để thực hiện
thành công kế hoạch giảm nghèo của địa phương nhằm tạo ra sự
đồng thuận và hợp tác, quyết tâm của cả hệ thống chính trị và bản
thân người nghèo trong quá trình triển khai chương trình giảm nghèo.
cấp huyện; cấp xã, còn các ngành được cơ cấu nhiều khi chỉ để đủ số
lượng, theo cơ cấu ngành dọc từ trên xuống dưới đúng thành phần
chưa phát huy được hiệu quả hoạt động của các thành viên.
405 tổ tự quản giảm nghèo chưa khẳng định được vai trò của
mình, những vấn đề quan trọng của tổ tự quản lại phải nhờ ban nhân
dân ấp, tổ trưởng tổ nhân dân hỗ trợ. Tổ trưởng tổ giảm nghèo nên là
trưởng ấp, phó ấp.
UBND huyện cần phân cấp trách nhiệm cụ thể cho các ban
ngành huyện, UBND cấp xã nhằm đề cao tính chủ động, trách nhiệm
trong tổ chức thực hiện chương trình giảm nghèo, tạo điều kiện thuận
lợi cho phòng ban, UBND xã mạnh dạn thực hiện có hiệu quả chương
trình, phát huy tính năng động, sáng tạo, vai trò tự chủ, tự chịu trách
nhiệm trong quản lý diều hành và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ
KTXH phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi địa phương.
Phải quan tâm củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ làm
công tác giảm nghèo các cấp mạnh về cơ cấu, vững về chuyên môn.
3.2.3. Nâng cao năng lực cho CBCC làm công tác giảm
nghèo ở các cấp
Việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCC là
nhiệm vụ mang tính chiến lược của các cấp ủy Đảng, chính quyền.
Đây là một biện pháp quan trọng, cơ bản để nhằm xây dựng đội ngũ
CBCC bảo đảm số lượng, chất lượng, cơ cấu hợp lý phù hợp với điều
kiện đặc điểm của từng địa phương. Có làm tốt công tác xây dựng kế
hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCC thì mới khắc phục được tình
trạng bị động, chắp vá trong công tác cán bộ. Cần đổi mới nội dung
và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng CBCC; đào tạo, bồi dưỡng theo
hướng đáp ứng nhu cầu giải quyết công việc của CBCC; chú trọng
trau dồi, rèn luyện kỹ năng thực hành, kỹ năng giải quyết tình huống
QLNN thực tế tại địa bàn. Có chính sách đào tạo, nâng cao năng lực
nhiều việc là điều không tránh khỏi, vì vậy để giảm nghèo bền vững
hiệu quả đòi hỏi phải áp dụng khoa học công nghệ, đẩy mạnh sử dụng
công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý các cấp phù hợp với xu
thế hiện đại hóa nền hành chính, giúp rút ngắn thời gian đi lại, dễ tìm
kiếm, hiệu quả… đòi hỏi nhà nước phải tăng cường xây dựng nguồn
nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, có tri thức, kiến thức, kỹ
14
năng hội nhập và kỹ năng tay nghề. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng, tập
huấn cán bộ, đào tạo nghề, gắn với nhu cầu xã hội và yêu cầu của hội
nhập quốc tế nước ta. Bản thân các cán bộ công chức cũng phải tự bồi
dưỡng trau dồi bản thân để thích nghi với đòi hỏi công việc ngày càng
cao.
3.2.4. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách
GNBV; nâng cao năng lực và nhận thức cho người nghèo nhằm
nâng cao ý thức cùng tham gia giảm nghèo của người dân
Để thực hiện mục tiêu GNBV đòi hỏi cả hệ thống chính trị và
cộng đồng vào cuộc, tuy nhiên chủ thể trung tâm để tiếp nhận, thực
hiện chương trình là các hộ dân được hưởng thụ từ Chương trình; từ
đó các HN, HCN phải tự nỗ lực vươn lên để thoát nghèo.
Phổ biến rộng rãi, quán triệt đầy đủ từ các ngành, các cấp và
trong cộng đồng xã hội, nhất là người nghèo, HN, HCN về quan điểm
chỉ đạo, nội dung chương trình giảm nghèo và các chế độ chính sách
về GNBV. Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng thực hiện
các chuyên mục thông tin tuyên truyền, phản ảnh các hoạt động giảm
nghèo, các gương điển hình, mô hình hiệu quả...để nâng cao ý thức
vượt khó tự vươn lên, ý thức tiết kiệm, tính cần cù trong lao động,
học tập, chống tư tưởng tự ti mặc cảm, sự thụ động, ỷ lại, trông chờ
dân, sinh hoạt chi tổ hội của các đoàn thể. Tuy nhiên việc tiếp cận
thông tin của người nghèo hạn chế do trình độ, khả năng nhận thức,
hiểu biết, tiếp cận thông tin hạn chế nên hiệu quả không cao. Thông
thường người nghèo lại ít tham gia hội họp, ít xem, ít nghe các
chương trình mang tính thời sự. Vì vậy, có thể đổi hình thức tuyên
truyền bên cạnh cách tuyên truyền qua tổ chức đối thoại trực tiếp trực
tiếp với người nghèo, hội họp, băng ron, biểu ngữ nên thông qua tổ
chức đoàn thể, tổ tự quản giảm nghèo, những người có uy tín, người
gần gũi, người hàng xóm, người có hoàn cảnh giống họ nhưng nhận
thức tốt để tuyên truyền, hướng dẫn lại cho họ, giúp họ có điều kiện
tiếp cận các thông tin về chính sách hỗ trợ giảm nghèo và các hoạt
động giảm nghèo. Vận động gia đình, anh em, dòng họ của người
nghèo hỗ trợ tạo điều kiện về vật chất và tinh thần để giúp đỡ các hộ
này có ý thức vượt khó vươn lên, ý thức tiết kiệm, tính cần cù trong
lao động, học tập, chống tư tưởng tự ti mặc cảm, ỷ lại, không trông
chờ vào chính sách trợ giúp của nhà nước.
Nội dung tuyên truyền phải dễ hiểu, dễ làm, chi tiết, hướng
dẫn các mô hình, cách làm hay, sáng tạo, có hiệu quả giảm nghèo để
họ học hỏi và áp dụng được, từ đó nhân rộng các mô hình hay, cách
làm hiệu quả, kịp thời nêu gương người tốt, việc tốt trong các hộ
16
nghèo vươn lên khá góp phần nâng cao hiệu quả giảm nghèo.
3.2.5. Đẩy mạnh thực hiện chính sách hỗ trợ đối với hộ
nghèo, hộ cận nghèo
Các chính sách GNBV được xây dựng và thực hiện theo hướng
giảm dần tính trợ cấp, tăng cường mạnh mẽ các chính sách và giải
pháp tích cực mang tính tác động, hỗ trợ cao về sản xuất, kinh doanh,
mà hộ đã được thụ hưởng. Sự tiếp cận, am hiểu của người dân về các
chính sách đã được triển khai. Từ đó đẩy mạnh thực hiện các chính
sách hiệu quả áp dụng tại địa bàn.
Công tác giáo dục người lớn, đào tạo nghề cần đúng đối
tượng có nhu cầu, không nên chạy theo thành tích, theo phong trào.
Điều này thể hiện rất rõ khi vì chỉ tiêu từ trên xuống đòi hỏi phải
giảm HN, HCN; buộc các xã cũng phải mạnh tay trong việc cho vượt
nghèo để giảm chỉ tiêu theo tiến độ, sẽ có nhiều thiệt thòi cho các hộ
đáng lẽ ra vẫn ở lại diện nghèo để được hỗ trợ, tạo điều kiện thêm từ
nhà nước, cộng đồng và toàn xã hội.
3.2.8. Thực hiện thí điểm 01 xã dứt điểm không còn hộ
nghèo
Tập trung nguồn lực thực hiện GNBV tại khu vực có khả
năng giảm nghèo không nên đầu tư tràn lan, dàn trải. Thực hiện thí
điểm tại xã Phạm Văn Cội
3.2.9. Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá công tác
quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững.
Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá công tác QLNN
về GNBV nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm, của các cấp, các
ngành trong công tác quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện các
hoạt động GNBV tại địa phương nhằm đảm bảo thực hiện tiết kiệm,
chống lãng phí. Kết quả thanh tra, kiểm tra, đánh giá phải được sử
dụng để hoàn thiện công tác quản lý, để có những biện pháp xử lý kịp
thời, đảm bảo hoạt động giảm nghèo đạt được những mục tiêu đề ra,
cần kịp thời phát hiện sai sót và có phương pháp điều chỉnh những
bất hợp lý về cơ chế, chính sách. Có chế tài xử lý nghiêm khắc dành
cho cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ, đặc biệt là đối với cán bộ có
dấu hiệu vi phạm như tham nhũng, làm trái, gây thất thoát kinh phí
nhà nước, nhũng nhiễu, tham ô, gây phiền hà cho người dân. Cần quy
Ban Chỉ đạo giảm nghèo bền huyện, xã cần tổ chức đối thoại
trực tiếp với hộ nghèo ít nhất 1 năm/1 lần, qua đối thoại bên cạnh phổ
biến các chính sách còn tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của người
nghèo để nắm bắt thêm được tình hình thực tế của các hộ, từ đó có
giải pháp cụ thể cho lộ trình tiếp theo.
19
KẾT LUẬN
Trong thời gian qua, công tác giảm nghèo trên địa huyện Củ
Chi đã đạt nhiều kết quả quan trọng góp phần thực hiện thành công
các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển KTXH, giữ vững an ninh chính trị,
trật tự an toàn xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Đây là
chương trình được Huyện Ủy, HĐND, UBND, UB.MTTQ và các
đoàn thể xem là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên trong hoạt động
của mình nên hoạt động diễn ra với nhiều nội dung phong phú và
hiệu quả.
Sau hơn 25 năm thực hiện giảm nghèo, số hộ nghèo tăng giảm
qua từng năm, từng thời kỳ tùy thuộc vào sự điều chỉnh chuẩn nghèo
trên toàn thành phố. Bên cạnh những thành tựu đạt được công cuộc
XĐGN, giảm nghèo – tăng hộ khá, GNBV còn gặp nhiều khó khăn
thách thức.
Với mong muốn góp phần vào sự phát triển KTXH của huyện
nói chung, GNBV nói riêng, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu
“Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Củ
Chi, thành phố Hồ Chí Minh”. Luận văn đã hoàn thành được các nội
dung chính sau đây:
Xác định rõ lý do chọn đề tài, mục đích, nhiệm vụ, đối tượng,
phạm vi, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và đóng góp của luận
thể thoát nghèo được; ngược lại nếu người dân có ý thức vươn lên
nhưng không có sự hỗ trợ, tác động của các giải pháp khác thì họ
cũng khó có thể thoát nghèo.
Như vậy, GNBV là chương trình mang tính phức tạp; liên quan
đến nhiều chương trình dự án khác, cần sự tập trung phối hợp của
nhiều tổ chức, cá nhân để thực hiện. Mong rằng với những giải pháp
của luận văn sẽ góp phần thực hiện Chương trình GNBV trên địa bàn
huyện Củ Chi thành công, hiệu quả trong thời gian tới.
21