Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện quảng ninh, tỉnh quảng bình - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

HOÀNG TRỌNG TRUNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 60 34 04 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYỄN KHẮC HOÀN

HUẾ, 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Hoàng Trọng Trung, xin cam đoan: Luận văn “Quản lý Nhà nước
về giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình” là
công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của thầy giáo
PGS.TS. Nguyễn Khắc Hoàn.
Hệ thống số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực,
chính xác, có nguồn gốc rõ ràng và chưa từng được công bố tại bất kỳ công trình
nào khác.
Huế, ngày 10 tháng 6 năm 2016
Người cam đoan



ii


TÓM TẮT LƯỢC LUẬN VĂN
Họ và tên: HOÀNG TRỌNG TRUNG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế, Mã số: 60 34 04 10
Niên khóa: 2014 - 2016
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN KHẮC HOÀN
Tên đề tài: “QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH”
1. Mục đích và đối tượng nghiên cứu:
Trên cở sở hệ thống hóa kiến thức, nghiên cứu thực trạng QLNN đối với hoạt
động giảm nghèo bền vững ở huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình đề tài đã đưa ra
các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về giảm nghèo bền vững ở địa
phương.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động quản lý nhà nước đối với các
hộ nghèo ở huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
2. Phương pháp nghiên cứu đã sử dụng
Quá trình nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp.
- Sử dụng phương pháp điều tra xã hội học: phân tích số liệu trong một giai
đoạn cụ thể để đưa ra những nhận định, đánh giá và đề xuất giải pháp cho thời gian
tới.
- Phương pháp nghiên cứu sơ cấp: thu thập và tìm kiếm thông tin từ một số
sách báo, công trình nghiên cứu khác và từ mạng internet.
3. Kết quả nghiên cứu chính và những đóng góp khoa học của luận văn
- Luận văn nghiên cứu góp phần làm rõ cơ sở khoa học của hoạt động quản lý
nhà nước về giảm nghèo bền vững. Vận dụng vào quản lý nhà nước về giảm nghèo
bền vững trên địa bàn huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Đánh giá thực trạng
quản lý nhà nước đối với hoạt động quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững của

ĐBKK

Đặc biệt khó khăn

ĐH

Đại học

HĐND

Hội đồng nhân dân

LĐTB&XH

Lao động thương binh và xã hội

MTQG

Mục tiêu quốc gia

NN&PTNT

Nông nghiệp và phát triển nông thôn

QLNN

Quản lý nhà nước

THCN


LỜI CAM ĐOAN....................................................................................................
LỜI CẢM ƠN.........................................................................................................ii
TÓM TẮT LƯỢC LUẬN VĂN............................................................................iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT................................................................................iv
MỤC LỤC...............................................................................................................v
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM
NGHÈO BỀN VỮNG..............................................................................................5
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN..............................................................5
1.2. CHỦ THỂ, NỘI DUNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG........................................................17
1.3. BÀI HỌC KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO
BỀN VỮNG MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG.....................................................................20
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VỀ GIẢM NGHÈO VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở HUYỆN QUẢNG NINH,
TỈNH QUẢNG BÌNH............................................................................................26
2.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI HUYỆN
QUẢNG NINH...........................................................................................................26
2.2. ĐẶC ĐIỂM VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHỈ TIÊU VỀ GIẢM NGHÈO
BỀN VỮNG CỦA HUYỆN QUẢNG NINH............................................................33
2.3. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH........................42
Thời gian qua hoạt động xã hội hoá đầu tư cho công cuộc xoá đói giảm nghèo
đã được các cấp từ Trung ương đến địa phương phát động rộng rãi và được
các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước cũng như cộng đồng
quốc tế quan tâm và ủng hộ mạnh mẽ.................................................................64
2.4. ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO
BỀN VỮNG Ở HUYỆN QUẢNG NINH TRONG THỜI GIAN QUA...................67
CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG
BÌNH....................................................................................................................... 75

Biểu đồ 1.1:Nguyên nhân gây nghèo ở huyện Quảng Ninh......................................40

viii


PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm cải thiện đời sống
vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách và trình độ phát triển giữa
các vùng, địa bàn và giữa các dân tộc, nhóm dân cư. Thành tựu giảm nghèo trong
những năm qua đã góp phần tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội, nâng
cao chất lượng cuộc sống con người. Tuy nhiên kết quả công cuộc giảm nghèo ở nhiều
địa phương vẫn chưa bền vững, chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng vẫn còn những
khoảng cách đáng kể, đặc biệt là những địa bàn vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa,
vùng miền núi, biên giới khó khăn.
Quảng Ninh là một huyện thuần nông, nằm cách trung tâm thành phố Đồng Hới
7km về phía Nam, địa hình có đầy đủ ba vùng cơ bản là vùng ven biển, vùng đồng
bằng và vùng miền núi. Trong những năm qua, việc giảm nghèo ở huyện Quảng Ninh
đã đạt được một số kết quả nhất định. Đảng bộ và các cấp chính quyền địa phương đã
có nhiều chủ trương, chính sách và phương pháp để giảm nghèo nhưng trên thực tế vẫn
còn nhiều hạn chế, tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn ở mức cao, năm 2013 có 4179 hộ nghèo
chiếm 17,33%. Quá trình giảm nghèo chưa thực sự bền vững, số hộ đã thoát nghèo
nhưng vẫn nằm sát mức chuẩn nghèo với tỷ lệ còn lớn, tỷ lệ hộ tái nghèo hàng năm
chiếm 10%; đời sống người dân nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là ở hai xã
miền núi ĐBKK, có đồng bào dân tộc Vân Kiều sinh sống là xã Trường Sơn và
Trường Xuân. Thực trạng nghèo ở huyện Quảng Ninh đang là vấn đề cấp bách, luôn
đặt ra thách thức lớn đối với Đảng bộ và chính quyền huyện Quảng Ninh cũng như tỉnh
Quảng Bình trong mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội hiện nay và những năm tới.
Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích, luận giải một cách có hệ thống, đánh giá đúng
thực trạng quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững, từ đó đề xuất một số giải pháp

nghèo ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình” của tác giả Hoàng Thị Thanh Huyền
(2014). Trong luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu về tình hình thực hiện chính
sách giảm nghèo và đề xuất các giải pháp đẩy mạnh việc giảm nghèo trên địa bàn
huyện Minh Hóa – một huyện miền núi, có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất của tỉnh Quảng
Bình thời điểm hiện nay.
Các công trình trên đề cập các góc độ khác nhau về thực trạng, nguyên nhân gây
ra nghèo và các kinh nghiệm tổng kết về hoạt động giảm nghèo ở các địa phương trong
cả nước. Các tác giả cũng đã đề xuất một số giải pháp nhằm giảm nghèo ở nước ta.
Nhiều giải pháp có tính khả thi, có giá trị cao trong thực tiễn.

2


Qua nghiên cứu cho thấy, đến nay chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu
một cách cụ thể và sâu sắc thực tế hoạt động quản lý nhà nước về giảm nghèo bền
vững ở huyện nghèo Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã
hội có tính đặc thù. Điều này, đòi hỏi cần phải tiếp tục nghiên cứu vấn đề trên để có
cách nhìn và giải pháp phù hợp cho hoạt động QLNN về giảm nghèo bền vững trên địa
bàn huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng QLNN đối với hoạt động giảm nghèo
bền vững ở huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình đề tài đã đưa ra các giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả QLNN về giảm nghèo bền vững ở địa phương.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa, làm rõ cơ sở lý luận quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững
vận dụng trong QLNN về giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Quảng Ninh, tỉnh
Quảng Bình.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững hiện
nay ở huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

- Cung cấp được những thông tin cần thiết về năng lực và hiệu quả công tác
giảm nghèo ở địa phương và đưa ra các giải pháp có hiệu quả hơn trong quản lý nhà
nước về giảm nghèo bền vững trong tương lai.
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm tác động đóng góp vào chính sách phát triển
kinh tế - xã hội về phá triển nghèo bền vững ở địa phương.
6. Bố cục đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận
văn gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý nhà nước của giảm nghèo bền vững.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở huyện
Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
Chương 3: Quan điểm của Đảng và một số giải pháp quản lý nhà nước về giảm
nghèo bền vững ở huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

4


PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững và một số khái niệm
liên quan
1.1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững
- Khái niệm nghèo
Về mặt kinh tế, nghèo đồng nghĩa với nghèo khổ, nghèo túng, túng thiếu. Trong
hoàn cảnh nghèo, người nghèo và hộ nghèo phải vật lộn với những mưu sinh hàng
ngày về kinh tế - vật chất, biểu hiện trực tiếp nhất ở bữa ăn. Họ có thể vươn tới các nhu
cầu về văn hoá tinh thần hoặc những nhu cầu này phải cắt giảm tới mức tối thiểu nhất,
gần như không có. Điều này đặc biệt rõ ở nông thôn với hiện tượng trẻ em thất học, bỏ

các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các
vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư [11].
Bền vững là không lay chuyển được, là vững chắc và là duy trì bền lâu [51]. Như
vậy nên hiểu bền vững là một tiêu chuẩn hay một yêu cầu về sự “chắc chắn” đối với
kết quả giảm nghèo.
- Giảm nghèo bền vững
“Giảm nghèo bền vững” đã được một số nghiên cứu đề cập từ những năm 2000.
Nhưng đến năm 2008 cụm từ này mới được sử dụng chính thức trong văn bản hành
chính tại Nghị quyết số 30a/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình
hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo; tiếp đó là Nghị quyết
số 80/NQ-CP ngày 19/5/2010 về định hướng giảm nghèo bền vững giai đoạn 20112020; Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 08/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015 và nghị quyết số 15NQ/TW ngày 01/6/2012, Hội nghị BCH trung ương khóa XI về một số vấn đề CSXH
giai đoạn 2012-2020. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một khái niệm hay một định
nghĩa chính thức về giảm nghèo bền vững. Mặc dù vậy, trong các báo cáo về giảm
nghèo thì tình trạng tái nghèo luôn được xem là vẫn đề cơ bản đối với hoạt động giảm
nghèo bền vững.
Như vậy nên hiểu bền vững là một tiêu chuẩn hay một yêu cầu về sự chắc chắn đối
với kết quả giảm nghèo. Mục đích rất rõ ràng của giảm nghèo bền vững chính là đảm bảo
6


duy trì thành quả giảm nghèo một cách lâu dài và bền vững. Nếu hiểu bền vững với nghĩa
là duy trì không lay chuyển là vững chắc thì giảm nghèo bền vững được hiểu là tình trạng
dân cư đạt được mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập cao hơn
chuẩn nghèo và duy trì được mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập
trên chuẩn nghèo đó ngay cả khi gặp các cú sốc hay rủi ro [24, tr.26-27].
Giảm nghèo bền vững là thực hiện và duy trì các biện pháp giảm nghèo, trong đó
tập trung vào các hoạt động hỗ trợ, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo có tư liệu
và phương tiện để sản xuất, dịch vụ, bảo đảm an ninh lương thực ở cấp hộ gia đình,
nâng cao thu nhập để tự vượt qua nghèo đói; tạo cơ hội để người nghèo tiếp cận các

liên quan, thay đổi trạng thái của đối tượng theo hướng mà nhà nước mong muốn.
Xuất phát từ cách tiếp cận trên, chính sách giảm nghèo có thể được hiểu đó là
những quyết định, qui định của nhà nước được cụ thể hoá trong các chương trình, dự
án cùng với nguồn lực, vật lực, các thể thức, qui trình hay cơ chế thực hiện nhằm tác
động vào các đối tượng cụ thể như người nghèo, hộ nghèo hay xã nghèo với mục đích
cuối cùng là XĐGN. [14, tr.24].
- Chương trình giảm nghèo là một hệ thống các giải pháp, trong đó xác định rõ
vai trò và cơ chế phối hợp hành động của Nhà nước, của các tổ chức trong xã hội để
giúp nâng cao mức sống cho người nghèo, tạo cho hộ nghèo những cơ hội phát triển
trong đời sống cộng đồng bằng chính lao động của bản thân.
- Dự án giảm nghèo là tập hợp các hoạt động để tiến hành một công việc nhất
định nhằm đạt một hay nhiều mục tiêu cụ thể đã được định rõ trong chương trình với
một khoản ngân sách và một thời gian thực hiện được xác định rõ.
Chương trình bao gồm nhiều dự án khác nhau để thực hiện các mục tiêu của
chương trình. Đối tượng quản lý và kế hoạch hoá được xác định theo chương trình, đầu
tư được thực hiện theo dự án.
- Tổ chức được hiểu là sắp xếp bố trí thành các bộ phận để thực hiện một nhiệm
vụ hoặc cùng một chức năng [51]. Hoặc tổ chức là một hệ thống gồm nhiều phân hệ có
những mối quan hệ hữu cơ hợp lý, rõ ràng, hợp tác và phân phối chặt chẽ, tác động lẫn
nhau trong một tổng thể, phát sinh một lực tổng hợp tác động cùng chiều lên một đối
tượng nhằm đạt những mục tiêu chung đã định [34].
1.1.2. Đặc điểm và sự cần thiết của quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững
1.1.2.1. Đặc điểm của quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững
Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững mang những đặc điểm chung của
hoạt động quản lý nhà nước như: đối tượng quản lý, chủ thể quản lý, khách thể quản
lý, cơ chế tác động và mục tiêu quản lý. Cụ thể như sau:
8


Một là, đối tượng của QLNN về giảm nghèo bền vững là các hoạt động giúp cho



1.1.2.2. Sự cần thiết quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững
Một đất nước muốn phát triển, muốn đạt được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh”, nâng cao vị thế trên trường quốc tế, điều tiên quyết
là phải giảm được nghèo, phải nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân.
Do đó, QLNN về giảm nghèo bền vững là sự tất yếu.
Nền kinh tế thị trường vẫn còn tồn tại những hạn chế của nó, việc tồn tại nhiều
thành phần kinh tế cùng xu hướng vận động của thị trường là quá trình cạnh tranh giữa
các chủ thể nền kinh tế. Hơn nữa, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa các quốc gia
đều phải thực hiện cam kết song phương và đa phương nên vì lợi ích chung của xã hội,
đôi khi ảnh hưởng đến lợi ích của một bộ phận. Vấn đề đói nghèo và công bằng xã hội
không được các chủ thể tự giác quan tâm thực hiện. Nhà nước phải quản lý và can
thiệp vào thị trường để điều tiết vĩ mô nền kinh tế theo những tiêu chí, mục tiêu phát
triển nhất định của mỗi quốc gia thì công bằng xã hội mới được bảo đảm, chênh lệch
giàu nghèo mới được thu hẹp. Thông qua điều tiết tổng thể nền kinh tế quốc dân, nhà
nước thực hiện điều tiết thu nhập của bộ phận dân cư giàu có để tăng thu nhập cho bộ
phận dân cư nghèo đói, yếu thế để tạo điều kiện cho họ vươn lên cùng phát triển, tiến
tới thoát nghèo bền vững.
Trong thực tế, nhiều dịch vụ người nghèo cần nhưng thị trường từ chối không
cung cấp, cung cấp dưới mức mong muốn của họ hoặc người nghèo không có khả năng
tiếp cận được các dịch vụ đó. Chẳng hạn như dịch vụ giới thiệu việc làm, nếu các trung
tâm giới thiệu việc làm hoạt động vì mục đích lợi nhuận, họ sẽ đòi hỏi người lao động
trả phí khi tư vấn hoặc giới thiệu việc làm. Điều này khiến cho người nghèo không thể
tiếp cận được các dịch vụ việc làm từ các trung tâm dịch vụ việc làm. Hoặc như đối với
dịch vụ tính dụng, người nghèo rất cần nhưng ngân hàng không muốn cho người nghèo
vay tiền vì rủi ro cao, món vay nhỏ, không có tài sản thế chấp, … Nhờ có sự can thiệp,
định hướng của nhà nước, có thể thông qua hình thức hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp,
người nghèo có nhiều cơ hội để tiếp cận các dịch vụ trong xã hội.
Ngoài ra, có rất nhiều dịch vụ cho người nghèo cần có sự định hướng, khuyến

- Địa hình: Điều kiện địa hình là nền tảng của sự phân hóa tự nhiên và do vậy, nó
là một điều kiện rất căn bản cần tính đến trong khai thác kinh tế môi trường và tài
nguyên thiên nhiên. Địa hình bằng phẳng hay phức tạp cũng sẽ tạo điều kiện hay ngăn
trở sự phát triển và phân bố các loại hình giao thông vận tải từ đó thúc đẩy sự phát
triển kinh tế. Đối với Quảng Ninh, địa hình phức tạp, bị chia cắt nhiều, đất trống đồi
11


núi trọc nhiều. Địa hình có độ dốc lớn nên đất canh tác thường bị bào mòn và rửa trôi.
Đó là một bất lợi lớn cho việc phát triển kinh tế xã hội của huyện nói chung và hoạt
động giảm nghèo bền vững của huyện nói riêng.
- Đất đai: Diện tích đất của huyện Quảng Ninh ít, trong lúc đó hầu hết diện tích
đã đưa vào khai thác nên khả năng mở rộng sản xuất nông nghiệp rất hạn hẹp. Vì vậy,
việc sử dụng đất phải cân nhắc kỹ về mục đích, hiệu quả của nó. Đồng thời cần có các
biện pháp cải tạo, nâng cao độ phì nhiêu của đất, chống các hiện tượng thoái hóa của
đất, tăng vốn đất, nâng cao hiệu quả kinh tế trong việc sử dụng các loại đất nói trên.
Hiện nay chỉ còn một số diện tích đất chưa sử dụng, chủ yếu là đất gò đồi phù hợp với
trồng cây công nghiệp dài ngày; một số đất vùng cát nghèo ven biển phù hợp với phát
triển trang trại nuôi trồng thủy sản.
- Khí hậu và thời tiết: Đặc điểm của khí hậu và thời tiết có tác động nhiều mặt
đến sản xuất và đời sống. Sự phát triển và phân bố nông nghiệp chịu ảnh hưởng sâu
sắc của yếu tố khí hậu. Sự khác biệt về khí hậu giữa các vùng thường thể hiện trong sự
phân bố các loại cây trồng và vật nuôi. Khí hậu cũng có ảnh hưởng nhất định đến sự
phân bố công nghiệp. Trong một số trường hợp, nó chi phối cả việc lựa chọn kỹ thuật
và công nghệ sản xuất.
Quảng Ninh là nơi hội tụ của các yếu tố bất lợi về thời tiết khí hậu như: Bão lụt,
gió Tây khô nóng, cát bay cát chảy đã ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời sống của
nhân dân. Từ đó ảnh hưởng đến hoạt động giảm nghèo bền vững.
1.1.3.2. Điều kiện xã hội
Dân số, mật độ dân số: Dân số vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển

biệt là triết học.
Tôn giáo có nét ảnh hưởng tích cực đến kinh tế, văn hóa, xã hội chính là tư tưởng
hướng thiện, bác ái, khuyến khích quần chúng có đạo, chăm chỉ lao động sản xuất, biết
vận dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật để làm ra ngày càng nhiều của cải. Các
tôn giáo ngoài việc truyền đạo đã đặc biệt chú trọng hơn đến việc hỗ trợ, giúp đỡ các
tín đồ làm ăn phát triển kinh tế. Việc tổ chức tôn giáo thường xuyên có những hoạt
động từ thiện hỗ trợ, giúp đỡ đồng bào trong những lúc hoạn nạn khó khăn, thiên tai lũ
lụt,… ít nhiều cũng góp phần cùng với chính quyền địa phương giải quyết những khó
khăn cấp bách trước mắt về kinh tế cho đồng bào.
- Dân tộc: Toàn huyện chỉ có 2 dân tộc, là dân tộc Kinh và dân tộc Vân Kiều,
trong đó người Kinh chiếm 96%, người Vân Kiều chiếm 4% dân số toàn huyện. Dân
13


tộc Vân Kiều chủ yếu sống ở vùng núi thuộc 2 xã Trường Sơn và Trường Xuân. Nhìn
chung dân tộc Vân Kiều có trình độ dân trí thấp, phương thức canh tác còn lạc hậu,
hiểu biết về thị trường hạn chế, tư tưởng bao cấp còn nặng nề cho nên tỷ lệ nghèo
chiếm trên 66%, ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động giảm nghèo.
- Phong tục, tập quán: Tập quán, thói quen canh tác, sản xuất của người nghèo ở
nhiều vùng còn rất lạc hậu, được truyền từ đời này sang đời khác nên rất khó thay đổi.
Tập quán canh tác lạc hậu, cùng với tư tưởng bảo thủ, cổ hủ, không chịu tiếp thu kiến
thức, kinh nghiệm làm ăn mới,... cũng là một trong những nguyên nhân tự thân khiến
người nghèo, đồng bào dân tộc không thể vươn lên trong phát triển sản xuất, kinh
doanh và thoát nghèo. Do đó, khi phát triển và phân bố sản xuất cần chú ý đến phong
tục, tập quán sản xuất tiêu dùng và địa bàn cư trú của họ nhằm phát huy những phong
tục, tập quán sản xuất tốt, đồng thời khắc phục các phong tục, tập quán sản xuất lạc
hậu của họ.
1.1.3.3. Điều kiện kinh tế
Trình độ phát triển kinh tế - xã hội: Sự phát triển của kinh tế - xã hội đóng vai trò
quyết định tới sự phát triển của các lĩnh vực hoạt động khác, trong đó có hoạt động quản

khoa học - kỹ thuật, sự tiếp cận với các công việc ở các ngành nghề cũng rất khó khăn.
Điều này luôn đặt ra những khó khăn, thách thức lớn trong hoạt động đào tạo nghề,
hướng dẫn kỹ thuật, thực hiện các phương thức canh tác đối với hộ nghèo,… từ đó ảnh
hưởng đến hoạt động giảm nghèo bền vững.
- Ý thức của người nghèo: Thực tế hiện nay cho thấy, các địa phương vẫn còn tồn
tại tình trạng người nghèo không muốn thoát nghèo.
1.1.3.5. Sự phát triển của khoa học và công nghệ
Khoa học và công nghệ là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển
kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Khoa học và công nghệ là đòn bẩy trong quá trình tái
cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả
và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
1.1.3.6. Chính sách của Nhà nước
Nhân tố chính sách của Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động giảm
nghèo nói chung và hoạt động QLNN về giảm nghèo bền vững của từng địa phương
nói riêng. Những chính sách phù hợp với tình hình thực tế của địa phương có tác dụng
thúc đẩy hộ nghèo vươn lên thoát nghèo, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội nói chung và quá trình giảm tỷ lệ hộ nghèo nói riêng. Ngược lại, những chính sách
15


chưa hợp lý, không phù hợp với thực tiễn, khó tiếp cận và thiếu đồng bộ sẽ tạo ra phản
tác dụng, cản trở sự phát triển của kinh tế - xã hội của địa phương, trong đó làm cho
người nghèo đã khó khăn càng khó khăn hơn.
Nói cách khác, chính sách hợp lý, đúng đắn, phù hợp là tiền đề cơ bản cho sự
phát triển kinh tế với tốc độ nhanh, bền vững gắn với công bằng xã hội và có tác động
giảm nghèo rõ nét.
1.1.3.7. Tham nhũng
Tham nhũng là một trở lực nghiêm trọng đối với chiến lược phát triển quốc gia,
bởi nó làm suy giảm hiệu quả QLNN, xói mòn nguyên tắc pháp quyền, cản trở tăng
trưởng kinh tế và những nỗ lực xoá đói giảm nghèo, biến dạng điều kiện cạnh tranh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status