Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ) - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LIÊU KHẮC DŨNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LIÊU KHẮC DŨNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03


gia; gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm, động viên học viên hoàn thành
Luận văn này.
Trân trọng cám ơn Quý cơ quan, đơn vị của Thị xã Hà Tiên và các địa
phương khác đã hỗ trợ học viên trong quá trình thực hiện Luận văn này.
Trân trọng cám ơn các thành viên của Hội đồng khoa học đã nghiên cứu,
đánh giá Luận văn của học viên.
Trân trọng cám ơn!
TP. Hồ Chí Minh, ngày

tháng

HỌC VIÊN

Liêu Khắc Dũng

năm 2017



MỤC LỤC
Trang phụ bìa Trang
Lời cam đoan
Lời cám ơn
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ............................................................ 2
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài ........................................................ 5

2.3.2. Về kiện toàn tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác
giảm nghèo...................................................................................................... 44
2.3.3. Về tổ chức thực hiện các quy định về giảm nghèo bền vững .............. 46
2.3.4. Kiểm tra giám sát việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững .... 48
2.3.5. Đánh giá chung về hoạt động quản lý nhà nước đối với giảm nghèo bền
vững trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang ........................................ 50
Tiểu kết Chương 2 ............................................................................................... 55
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TĂNG
CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN
ĐỊA BÀN THỊ XÃ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG ......................................... 56
3.1. Mục tiêu và phương hướng tăng cường quản lý nhà nước về giảm
nghèo bền vững trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang..................... 56
3.1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề xóa đói giảm nghèo .. 56
3.1.2. Mục tiêu giảm nghèo của tỉnh Kiên Giang và thị xã Hà Tiên về giảm
nghèo bền vững đến năm 2020 ....................................................................... 59
3.1.3. Phương hướng tăng cường quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững
tại thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2017-2020 .............................. 63


3.2. Các giải pháp cụ thể nhằm tăng cường quản lý nhà nước về giảm nghèo
bền vững trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang................................ 66
3.2.1. Hoàn thiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, thể chế thực hiện chương
trình giảm nghèo ............................................................................................. 66
3.2.2. Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững68
3.2.3. Nâng cao năng lực và tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ làm công tác
xóa đói giảm nghèo ở các cấp ........................................................................ 68
3.2.4. Tuyên truyền, nâng cao năng lực và nhận thức cho người nghèo nhằm
nâng cao ý thức cùng tham gia giảm nghèo của người dân ........................... 70
3.2.5. Giải pháp cụ thể trong thực hiện chính sách đối với hộ nghèo, hộ cận
nghèo............................................................................................................... 73

Quản lý nhà nước

4.

UBND

Ủy ban nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Chuẩn nghèo ở Việt Nam qua các giai đoạn
Bảng 2.1: Kết quả giảm nghèo tại tỉnh Kiên Giang 2012-2015
Bảng 2.2: Biểu tổng hợp hộ nghèo trên địa bàn thị xã Hà Tiên 9/2015
Bảng 2.3: Biểu tổng hợp hộ cận nghèo trên địa bàn thị xã Hà Tiên 9/2015


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đói nghèo luôn là vấn đề bức xúc, nóng bỏng và là thách thức mang tính
toàn cầu, có ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế - xã hội và ổn định chính trị của
mỗi quốc gia. Nếu vấn đề đói nghèo không được giải quyết một cách căn bản thì
những mục tiêu mà cộng đồng quốc tế, quốc gia đặt ra như: hòa bình, ổn định,
phát triển kinh tế, công hằng xã hội ...cũng không thể giải quyết được. Do đó, vấn
đề xóa đói giảm nghèo là một trong những vấn đề chiến lược của từng quốc gia
và là một trong các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc.
Giảm nghèo bền vững đã và đang trở thành một trong những vấn đề vừa
cấp bách, vừa lâu dài, là một trong những chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà
nước ta. Nhận thức rõ, xóa đói giảm nghèo là yếu tố cơ bản để đảm bảo công bằng
xã hội và tăng trưởng bền vững, ngược lại chỉ có tăng trưởng cao, bền vững mới có
sức mạnh vật chất để hỗ trợ và tạo cơ hội cho người nghèo vươn lên thoát khỏi đói

đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức không chỉ đối với riêng thị xã
Hà Tiên, mà còn là của tỉnh Kiên Giang, thậm chí của nhiều địa phương khác nữa.
Một trong những lý do chủ yếu dẫn tới việc giảm nghèo chậm và chưa thực sự bền
vững là do sự yếu kém trong QLNN về giảm nghèo bền vững. Thực tế nêu trên đặt
ra yêu cầu cấp thiết về việc cần phải tiếp tục nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn
nhằm hoàn thiện và tăng cường QLNN đối với giảm nghèo bền vững nói chung và
nâng cao chất lượng giảm nghèo tại thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang nói riêng và
đó cũng là lý do tôi chọn đề tài “Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững trên
địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang” làm luận văn tốt nghiệp cao học chuyên
ngành Quản lý công của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về xóa đói, giảm nghèo ở một nước đang phát triển có tỷ lệ
nghèo đói còn cao như Việt Nam là một lĩnh vực nghiên cứu không mới. Giảm đói
nghèo là một trong những trọng điểm được Đảng và Nhà nước quan tâm trong suốt
thời gian qua, đặc biệt là từ khi đổi mới và do đó cũng là đối tượng nghiên cứu của
nhiều nhà nghiên cứu, các tổ chức khác nhau. Mỗi nghiên cứu đều đưa ra những
điểm mới về luận cứ, thực tiễn và giải pháp thực hiện giảm nghèo bền vững ở
những vùng, dân tộc khác nhau. Có thể chỉ ra một số những nghiên cứu quan trọng

2


về vấn đề này như:
Nghiên cứu “Chính sách xóa đói giảm nghèo: thực trạng và giải pháp” của
tác giả Lê Quốc Lý (NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012) đã luận giải một
cách tương đối rõ ràng và thuyết phục về vấn đề đói nghèo, nguyên nhân dẫn tới
đói nghèo và phân tích được khá rõ nét về thực trạng đói nghèo ở Việt nam. Tác
giả của nghiên cứu cũng đã đề xuất được một hệ thống các giải pháp quan trọng có
thể vận dụng để tiếp tục giảm bớt tình trạng đói nghèo ở nước ta.
Hà Quế Lâm trong nghiên cứu “Xóa đói, giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu

huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An) (Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội năm 2010)
đã nghiên cứu tình huống giảm nghèo bền vững tại huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ
An để từ đó rút ra được một số nhận định về nguyên nhân đói, nghèo ở huyện này,
đồng thời cũng đề xuất được một số giải pháp và xác định một số điều kiện cần
thiết để thực hiện giảm nghèo bền vững phù hợp với địa bàn các huyện miền núi có
đặc điểm tương tự như huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.
Luận văn Thạc sĩ Quản lý công “QLNN về giảm nghèo bền vững trên địa
bàn tỉnh Quảng Ninh” của tác giả Nguyễn Thế Tân (Học viện Hành chính Quốc
gia, 2015) và Luận văn Thạc sĩ Quản lý công “QLNN về giảm nghèo bền vững
trên địa bàn huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ” của tác giả Nguyễn Út Ngọc Mai (Học
viện Hành chính Quốc gia, 2014) cũng đã đề cập tới một số nội dung lý luận liên
quan tới giảm nghèo bền vững và cũng đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả QLNN về giảm nghèo bền vững từ giác độ thể chế, tổ chức bộ máy,
đội ngũ cán bộ, nguồn lực, hoạt động thanh tra, kiểm tra giám sát gắn liền với địa
bàn nghiên cứu.
Các nghiên cứu trên đây và nhiều nghiên cứu khác đã phần nào làm rõ
nguyên nhân và thực trạng đói nghèo ở Việt Nam nói chung và tại một số địa
phương nói riêng và cũng chỉ ra một số các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động
xóa đói, giảm nghèo và QLNN về xóa đói, giảm nghèo. Đây là nguồn tài liệu tham
khảo quan trọng cho tác giả khi thực hiện nghiên cứu tìm kiếm các giải pháp giảm
nghèo bền vững. Tuy nhiên, các đề tài trên dù đã cố gắng đề ra các giải pháp chung
cho vùng dân tộc - miền núi hoặc nghiên cứu ở vùng đồng bằng, vùng dân tộc có
những đặc điểm riêng nên khó áp dụng có hiệu quả với đặc điểm của thị xã Hà
Tiên, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, cho tới thời điểm hiện nay, chưa có đề tài nào ở

4


cấp độ thạc sĩ nghiên cứu về “QLNN về giảm nghèo bền vững trên địa bàn thị xã
Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang”.


giảm nghèo trong thời kỳ đổi mới.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử, trong nghiên cứu tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên
cứu cụ thể như:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp (desk study);
+ Phương pháp thống kê
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp,...
6. Ý nghĩa và đóng góp của đề tài
- Luận văn tổng hợp và làm rõ thêm các quan điểm lý luận về nghèo đói và
chống nghèo đói hiện nay một cách có hệ thống, trên cơ sở đó làm rõ vai trò
QLNN trong công cuộc xóa đói giảm nghèo ở nước ta.
- Đề xuất các giải pháp cơ bản để giảm nghèo một cách bền vững góp
phần hoàn thiện QLNN nói riêng và hoạt động xóa đói giảm nghèo nói chung ở địa
phương.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo có ý nghĩa phục vụ
cho việc triển khai các hoạt động QLNN về giảm nghèo bền vững tại thị xã Hà
Tiên, tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới và có thể tham khảo vận dụng ở các địa
phương có đặc điểm tương đồng với Thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn được kết cấu gồm 3 chương, cụ thể như sau:
- Chương 1. Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững.
- Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về giảm nghèo trên địa bàn thị
xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang
- Chương 3. Phương hướng và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về
giảm nghèo bền vững trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.

6



các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an
toàn” [22, tr.18].
Cũng theo quan niệm của Liên Hợp Quốc, nghèo có hai dạng: nghèo
tuyệt đối và nghèo tương đối:
“Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng
thỏa mãn những nhu cầu cơ bản tối thiểu để duy trì cuộc sống về ăn, mặc, ở,
vệ sinh, y tế, giáo dục.
Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới
mức trung bình của cộng đồng địa phương hay một quốc gia”. [22, tr.18].
Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do Ủy
ban kinh tế - xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức
vào tháng 9 năm 1993 tại Thái Lan đã đưa ra định nghĩa về nghèo đói:
“Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn
những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình
độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục, tập quán của các địa phương”. [22,
tr.18-19].
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức năm 1995 tại
Đan Mạch đã đưa ra định nghĩa đói nghèo như sau: "Người nghèo là tất cả
những người mà thu nhập của họ dưới 1 USD/ngày, đấy là số tiền được coi
như đủ để mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại”. [22, tr.18][29, tr.21].
Các khái niệm chung về nghèo khổ của thế giới vận dụng vào Việt
Nam một cách linh hoạt hơn. Chẳng hạn, đối với thế giới, nghèo tuyệt đối còn
có nghĩa là người dân bị bần cùng hóa, bị tước bỏ cơ hội và khả năng thỏa
mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu. Song ở Việt Nam, về bản chất nghèo
tuyệt đối không mang ý nghĩa này. Khái niệm nghèo tuyệt đối ở Việt Nam
được giải thích dễ hiểu bằng khái niệm đói, do khả năng thỏa mãn quá thấp
của kinh tế. Tức là nghèo lương thực, thực phẩm. Còn nghèo tương đối cũng
được hiểu theo nghĩa tích cực, khác với nghĩa, “bất bình đẳng” trong phân

Giảm nghèo là một trong những trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh
9


tế - xã hội ở nước ta nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của
người nghèo, trước hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số;
tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng
cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và
các nhóm dân cư [11, tr.23].
- Giảm nghèo bền vững
Bền vững là không lay chuyển được, là vững chắc và là duy trì bền lâu.
Như vậy chúng ta có thể hiểu bền vững là một tiêu chuẩn hay một yêu cầu về
sự “chắc chắn” đối với kết quả giảm nghèo.
Thuật ngữ “Giảm nghèo bền vững” đã được một số nghiên cứu đề cập từ
những năm 2000. Nhưng đến năm 2008 cụm từ này mới được sử dụng chính
thức trong văn bản của Nhà nước ta tại Nghị quyết số 30a/NQ-CP ngày
27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền
vững đối với 61 huyện nghèo. Tiếp theo đó, một loạt các quy định khác của
Nhà nước về giảm nghèo bền vững đã được ban hành như Nghị quyết số
80/NQ-CP ngày 19/5/2010 về định hướng giảm nghèo bền vững giai đoạn
2011-2020; Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 08/10/2012 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015
và nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012, Hội nghị BCH trung ương khóa
XI về một số vấn đề CSXH giai đoạn 2012-2020,...
Tuy nhiên, cho đến nay trong các quy định này và cả trong các nghiên
cứu khoa học vẫn chưa có một khái niệm hay một định nghĩa chính thức về
giảm nghèo bền vững. Mặc dù vậy, trong các báo cáo về giảm nghèo thì tình
trạng những người dân vừa thoát khỏi nghèo lại rơi vào tình trạng tái nghèo
luôn được xem là vấn đề đối với hoạt động giảm nghèo bền vững. Như vậy
nên hiểu bền vững là một tiêu chuẩn hay một yêu cầu về sự chắc chắn đối với

hoàn cảnh nhất định, sự chênh lệnh về mức sống giàu và nghèo, giữa các
nhóm xã hội khác nhau, giữa các vùng có trình độ không đồng đều.
Từ năm 1990, Chương trình của Liên Hợp Quốc đưa ra phương pháp
11


đánh giá trình độ phát triển của các quốc gia thông qua chỉ số phát triển con
người (HDI). Để xây dựng thước đo sự nghèo đói đối với dân cư trong một
nước, người ta dùng khái niệm giới hạn nghèo đói, giới hạn này được biểu
hiện dưới dạng thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình. Nếu gia
đình nào có thu nhập bình quân một người ở dưới giới hạn nghèo đói thì được
coi là nghèo.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội căn cứ vào quy mô và tốc độ
tăng trưởng kinh tế, nguồn lực tài chính và mức sống thực tế của người dân
từng vùng miền. Từ năm 1993 cho đến nay, Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội đã công bố chuẩn nghèo tính theo thu nhập bình quân đầu người cho
các giai đoạn cụ thể khác nhau: giai đoạn 1993 - 1995; giai đoạn 1996 - 2000giai đoạn 2001 - 2005; giai đoạn 2006 – 2010, giai đoạn 2011-2015 và giai
doạn 2016 - 2020.
- Giai đoạn 1993 - 1995: hộ nghèo đói trong cả nước được chia thành
hai loại: hộ đói và hộ nghèo, trên hai vùng nông thôn và thành thị. Chuẩn hộ
đói nghèo được tính dựa vào thu nhập bình quân theo lương thực quy đổi. Cụ
thể như sau:
Hộ đói là hộ có thu nhập bình quân của một người trong một tháng quy
ra lương thực tương đương dưới 13 kg/người/tháng đối với khu vực thành thị
và dưới 8 kg/người/tháng đối với khu vực nông thôn.
Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân của một người trong một tháng
quy ra lương thực tương đương dưới 20 kg/người/tháng đối với khu vực thành
thị và dưới 15 kg/người/tháng đối với khu vực nông thôn.

- Giai đoạn 1996 - 2000: hộ nghèo đói trong cả nước được chia thành

từ 150.000 đồng/người/tháng (tương đương 1.800.000 đồng/người/năm) trở
xuống là hộ nghèo.
- Giai đoạn 2006 – 2010: Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết
định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 8 tháng 7 năm 2005 đưa ra chuẩn nghèo áp
dụng cho giai đoạn 2006 - 2010 như sau:
Khu vực nông thôn: những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu
13


người

từ

200.000

đồng/người/tháng

(tương

đương

2.400.000

đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
Khu vực thành thị: những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người
tư 260.000 đồng/người/tháng (tương đương 3.120.000 đồng/người/năm) trờ
xuống là hộ nghèo.
- Giai đoạn 2011 -2015: Thủ tưởng Chính phủ ban hành Quyết định số
09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 đưa ra chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp
dụng cho giai đoạn 2011 - 2015. Cụ thể như sau:


đồng/người/tháng.
Về tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, quyết định
nêu rõ, các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm 5 dịch vụ: y tế, giáo dục, nhà ở,
nước sạch và vệ sinh, thông tin.
14


Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản gồm 10
chỉ số: tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người
lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân
đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ
viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin.
Quyết định cũng quy định rõ chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức
sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020. Cụ thể, hộ nghèo khu vực
nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân
đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; Có thu nhập bình quân đầu
người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo
lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
Hộ nghèo khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; Có thu
nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và
thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ
bản trở lên.
Hộ cận nghèo khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu
người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số
đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
Hộ cận nghèo khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu
người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số
đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status