BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
................./.................
BỘ NỘI VỤ
........./........
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ LAN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ CÔNG TÁC DÂN SỐ-KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
................./.................
BỘ NỘI VỤ
........./........
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ LAN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ CÔNG TÁC DÂN SỐ-KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH
thành cảm ơn đến Phân viện Học viện Hành chính khu vực miền Trung, Khoa
Sau đại học Học viện Hành chính Quốc gia cùng toàn thể quí thầy cô trong
Học viện Hành chính Quốc gia, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo
cho tôi suốt thời gian học tập và nghiên cứu.
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến giảng viên PGS. TS. Vũ Trọng Hách
người đã trực tiếp hướng dẫn đề tài cho tôi với tất cả lòng nhiệt tình và sự
quan tâm.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự tận tâm
và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả
rất mong nhận được những đóng góp quí báu của quí thầy cô và các bạn.
Tôi xin chân thành cảm ơn./.
Học viên
Nguyễn Thị Lan
MỤC LỤC
Trang bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục viết tắt
Danh mục các bảng biểu, biểu đồ
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chương 1.CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC
DÂN SỐ-KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH .................................................... 8
1.1. Một số khái niệm cơ bản ......................................................................... 8
1.1.1. Khái niệm về Dân số - Kế hoạch hóa gia đình ...................................... 8
1.1.2. Khái niệm về công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình và mối quan hệ
giữa Dân số và Kế hoạch hóa gia đình.......................................................... 15
1.1.3. Quản lý nhà nước về công tác Dân số-Kế hoạch hóa gia đình............. 16
Tiểu kết Chương 1........................................................................................ 50
Chương 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC
DÂN SỐ-KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG
BÌNH ........................................................................................................... 51
2.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về công tác Dân số-Kế
hoạch hóa gia đình của tỉnh Quảng Bình ...................................................... 51
2.1.1. Điều kiện tự nhiên .............................................................................. 51
2.1.2. Điều kiện phát triển kinh tế................................................................. 52
2.1.3. Điều kiện phát triển xã hội .................................................................. 53
2.2. Thực trạng công tác Dân số-Kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn tỉnh
Quảng Bình .................................................................................................. 54
2.2.1. Quy mô dân số và biến động dân số.................................................... 54
2.2.2. Cơ cấu dân số ..................................................................................... 56
2.2.3. Chất lượng dân số ............................................................................... 59
2.2.4. Thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản của người dân ....................... 61
2.2.5. Kế hoạch hóa gia đình ........................................................................ 61
2.3. Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về công tác Dân số-Kế hoạch hóa
gia đình tỉnh Quảng Bình ............................................................................. 63
2.3.1. Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản pháp luật về công tác Dân số Kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn tỉnh Quảng Bình .................................... 63
2.3.2. Thực trạng tổ chức bộ máy Dân số - Kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn
tỉnh Quảng Bình ........................................................................................... 69
2.3.3. Mối quan hệ phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức thực hiện công
tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn tỉnh .................................... 76
2.3.4. Thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về dân
số theo thẩm quyền ....................................................................................... 80
2.4. Đánh giá chung...................................................................................... 82
2.4.1. Những kết quả đạt được và nguyên nhân ............................................ 82
2.4.2. Những hạn chế.................................................................................... 85
DANH MỤC VIẾT TẮT
- CHDCND:
Cộng hòa dân chủ nhân dân
- DS-KHHGĐ:
Dân số-Kế hoạch hóa gia đình
- UBND:
Ủy ban nhân dân
- HĐND:
Hội đồng nhân dân
- MTTQ:
Mặt trận tổ quốc
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Dân số trung bình, tỷ lệ tăng dân số ............................................. 55
Bảng 2.2: Tỷ suất sinh thô, tổng tỷ suất sinh; tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên ..... 56
Bảng 2.3. Cơ cấu dân số theo độ tuổi và giới tính năm 2017 ........................ 57
Bảng 2.4. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên theo giới tính ..................... 58
Bảng 2.5: Tỷ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên (%) ................................................ 59
nâng cao chất lượng cuộc sống của con người [1]. Nhận thức được tầm quan
trọng đó, các vấn đề của công tác dân số bao gồm quy mô dân số, cơ cấu dân
số và nâng cao chất lượng dân số được triển khai đồng bộ trên cả nước và đã
đạt được những thành tựu quan trọng. Mức sinh của nước ta giảm nhanh, hiện
đã đạt mức thấp.
Đối với tỉnh Quảng Bình, thực hiện các chủ trương của Đảng, chính
sách pháp luật của Nhà nước về công tác DS-KHHGĐ, đặc biệt là sau hơn 12
năm thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị
(Khóa IX) về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách Dân số - Kế hoạch hóa
1
gia đình, nhận thức của toàn xã hội đã có bước chuyển biến rõ rệt, ngày càng
có nhiều người kết hôn, sinh con phù hợp với lứa tuổi, sức khỏe, hoàn cảnh
kinh tế, mô hình gia đình nhỏ có từ 1-2 con được nhân rộng. Tốc độ gia tăng
dân số nhanh đã được khống chế, số con trung bình của một phụ nữ trong độ
tuổi sinh đẻ giảm từ 3 con năm 2000 xuống còn 2,38 con vào năm 2017 [13].
Tuy nhịp độ gia tăng dân số đã được khống chế nhưng chưa ổn định và
bền vững, Quảng Bình hiện được xếp vào tỉnh có mức sinh cao, tỷ lệ chênh
lệch giới tính khi sinh có xu hướng mất cân đối, chất lượng dân số chưa đáp
ứng yêu cầu của tỉnh, một bộ phận người dân chưa nhận thức đúng đắn về
DS-KHHGĐ. Giải quyết các vấn đề về dân số và năng lực quản lý nhà nước
về DS-KHHGĐ của các cấp ngành từ tỉnh đến cơ sở vẫn còn nhiều hạn chế,
bất cập, khả năng tham mưu cho lãnh đạo của đội ngũ cán bộ dân số ở một số
địa phương vẫn chưa hiệu quả, chưa đáp ứng được yêu cầu dẫn đến việc thực
hiện chính sách và các quy định về pháp luật chưa nghiêm, cách hiểu và vận
dụng còn khác nhau, chưa thống nhất, thậm chí không phù hợp với pháp luật
hiện hành. Điều này làm ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện các chủ trương
đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác DSKHHGĐ.
Trong bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước có nhiều thay đổi, công
ban hành chủ trương, chính sách thể hiện sự quan tâm toàn diện về công tác
DS-KHHGĐ quyết định sự thành công của công tác DS-KHHGĐ. Công trình
nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng khoa học và thực tiễn cho việc nâng cao
chất lượng xây dựng, ban hành văn bản triển khai chương trình DS-KHHGĐ
tại các địa phương [12].
Tại Quảng Bình, có 03 Đề tài nghiên cứu khoa học về lĩnh vực nâng
cao chất lượng dân số của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hà và các cộng sự, như:
3
- Năm 2015, Đề tài “Tìm hiểu kiến thức về Hôn nhân cận huyết thống
tại 20 xã đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Bình năm 2014 – 2015” [25].
- Năm 2016, Đề tài “Điều tra đánh giá thực trạng sàng lọc trước sinh,
sơ sinh và đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả sàng lọc trước sinh, sơ
sinh tại tỉnh Quảng Bình” [26].
- Năm 2017, Đề tài “Đánh giá kiến thức, thái độ, hành vi về sức khỏe
sinh sản/sức khỏe tình dục của vị thành niên/thanh niên trên địa bàn tỉnh
Quảng Bình năm 2017”
Trong tất cả các công trình nghiên cứu nói trên có liên quan đến luận
văn, học viên đã nghiên cứu kế thừa, có chọn lọc. Tuy nhiên, thực tế trên địa
bàn tỉnh Quảng Bình, chưa có nghiên cứu nào đi sâu phân tích
đánh giá thực trạng cũng như đưa ra một hệ thống giải pháp nhằm tăng cường
quản lý nhà nước trong công tác Dân số-Kế hoạch hóa gia đình. Do đó,
đề tài được lựa chọn với mục đích nghiên cứu đầy đủ, thấu đáo nhằm đề xuất
nhóm giải pháp phù hợp và có ý nghĩa thực tiễn với hy vọng sẽ góp phần giải
quyết những vấn đề đặt ra đối với ngành Dân số-Kế hoạch hóa gia đình phù
hợp với thực tế tình hình địa bàn tỉnh Quảng Bình.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất hệ thống
+ Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Thu thập các tài liệu, tư liệu để
phân tích, tổng hợp.
5
+ Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Thống kê, tổng hợp kinh nghiệm
thực tiễn.
+ Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các chuyên gia.
+ Phương pháp xử lý số liệu: Toán học, phân tích, so sánh, tổng hợp.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn đã hệ thống hóa và làm rõ hơn những vấn
đề lý luận quản lý nhà nước về công tác DS-KHHGĐ.
- Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên đã phân tích, đánh giá được
thực trạng quản lý nhà nước về DS-KHHGĐ trên địa bàn tỉnh Quảng Bình,
nhận định kết quả đạt được, những vấn đề còn tồn tại, hạn chế và xác định
nguyên nhân của những hạn chế, đặc biệt là các vấn đề mang tính chất đặc thù
vùng, miền, địa phương.
Luận văn đã đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về
DS-KHHGĐ phù hợp thực tiễn trong giai đoạn hiện nay trên địa bàn tỉnh
Quảng Bình. Với mục tiêu thực hiện quản lý nhà nước về công tác DSKHHGĐ là nhằm bảo vệ lợi ích con người, hướng đến sự phát triển con
người, nâng cao chất lượng cuộc sống con người. Điều đó có ý nghĩa quan
trọng tác động trực tiếp đến mỗi người dân, mỗi cặp vợ chồng, mỗi gia đình
và toàn xã hội, góp phần phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.
Kết quả nghiên cứu luận văn có thể góp phần bổ sung những vấn đề lý
luận trong công tác quản lý DS-KHHGĐ, tạo cơ sở khoa học cho việc hoàn
thiện các văn bản quy phạm pháp luật đối với hoạt động quản lý về DSKHHGĐ tại tỉnh Quảng Bình.
Luận văn cũng có thể được sử dụng làm kết quả tham khảo cho công
tác nghiên cứu, học tập trong cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu và thực
Dân số là tập hợp người sinh sống trong một quốc gia, khu vực, vùng
địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính [38].
Dân số luôn luôn biến động theo thời gian và không gian. Những biến
động về dân số có ảnh hưởng đến cuộc sống của mỗi cá nhân, gia đình và
toàn xã hội. Nhằm đảm bảo sự kiểm soát nhất định đối với vấn đề dân số của
một quốc gia thì quốc gia thường có những cuộc điều tra dân số để làm cơ sở
đánh giá, nhận định và đưa ra những chính sách đối với vấn đề dân số của
quốc gia mình.
Dân số là vấn đề gắn bó mật thiết với mọi mặt của đời sống kinh tế- xã
hội. Nói đến dân số là nói đến mối quan hệ chặt chẽ giữa con người với con
người hay mối quan hệ giữa các cộng đồng người ở cấp độ vĩ mô: Vùng,
miền, lãnh thổ, dân tộc. Dân số của một quốc gia được xác định tại thời điểm
tiến hành cuộc tổng điều tra dân số. Dân số toàn cầu được xác định dựa trên
8
số liệu thống kê và báo cáo hàng năm của quốc gia và các khu vực trên thế
giới.
Quy mô, cơ cấu dân số trên lãnh thổ không ngừng biến động do có
người được sinh ra, có người bị chết, có người di cư đến và có người di cư đi,
hoặc đơn giản chỉ là theo năm tháng, bất cứ ai cũng chuyển từ nhóm tuổi nay
sang nhóm tuổi khác [23]. Như vậy, Dân số là một tập hợp người sinh sống
trong một quốc gia, một địa phương hay một vùng lãnh thổ nhất định, được
xác định tại một thời điểm cụ thể và nói đến Dân số là nói đến quy mô, cơ
cấu, phân bố và những thành tố gây nên sự biến động của chúng như: sinh,
chết, di cư. Hay nói cách khác, dân số bao gồm 04 yếu tố cơ bản :
Thứ nhất là quy mô dân số: là sự biểu thị khái quát tổng số dân của
một địa phương (xã, huyện, tỉnh, vùng, quốc gia hay các khu vực khác nhau
trên thế giới). Sự thay đổi của quy mô dân số chịu ảnh hưởng của biến động
tự nhiên và của cơ học. Quy mô dân số có thể chia ra quy mô dân số thời điểm
nhân khẩu học đưa ra một thuật nhữ mới là cơ cấu dân số vàng. Đây là một cơ
cấu dân số mà tỷ số phụ thuộc đạt mức thấp nhất, nếu vượt qua ngưỡng đó thì
tỷ số phụ thuộc lại tăng lên. Tỷ số giới tính khi sinh được tính bằng số bé trai
sinh ra sống so với 100 bé gái sinh ra sống trong cùng thời kỳ. Tỷ số giới tính
khi sinh thông thường là từ 103-106 bé trai trên 100 bé gái. Mất cân bằng giới
tính khi sinh là số bé trai được sinh ra còn sống vượt trên ngưỡng bình thường
so với 100 số bé gái được sinh ra còn sống trong một khoảng thời gian xác
định, thường là một năm tại một quốc gia, một vùng hay một tỉnh. Theo nhân
khẩu học khi tỷ số giới tính khi sinh của một quốc gia, một vùng hoặc một
tỉnh/thành phố từ 110 trở lên là mất cân bằng giới tính khi sinh. Giai đoạn
“già hóa dân số” khi tỷ lệ người 60 tuổi trở lên chiếm từ 10% đến dưới 20%
tổng dân số hoặc khi dân số 65 tuổi trở lên chiếm từ 7% đến dưới 14% tổng
dân số. Cơ cấu “dân số vàng” khi tỷ số phụ thuộc chung nhỏ hơn 50%, hay
10
nói cách khác có trên 2 người trong độ tuổi lao động trên 1 người trong độ
tuổi phụ thuộc.
Nhà nước điều chỉnh cơ cấu dân số cân đối về giới tính, nhóm tuổi
trong dân số của cả nước, khu vực, địa phương; bảo đảm sự phát triển bền
vững. Điều chỉnh trực tiếp cơ cấu dân số thông qua điều chỉnh mức sinh, cơ
cấu dân số theo nhóm tuổi; điều chỉnh tỷ số giới tính khi sinh theo quy luật tự
nhiên; định hướng di dân theo nhóm tuổi, giới tính giữa các khu vực, địa
phương. Điều chỉnh gián tiếp cơ cấu dân số thông qua các chính sách, kế
hoạch phát triển kinh tế-xã hội, biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới và lồng
ghép dân số trong phát triển.
Thứ ba là phân bố dân cư: là sự phân chia dân số theo các đơn vị hành
chính, vùng kinh tế. Để nghiên cứu phân bố dân cư người ta thường dùng chỉ
tiêu mật độ dân số, thông thường là số người trên 01 km2. Qua đó có thể xác
định số dân theo các vùng địa lý-kinh tế, nhận biết vùng này đông dân, vùng
yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước” [38].
Chất lượng dân số là tổng thể các yếu tố tạo nên thể lực, trí lực của con
người nói chung. Theo mục 6, Điều 3, Pháp lệnh Dân số năm 2003 thì “Chất
lượng dân số phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ, tinh thần của toàn bộ
dân số”.
Thể chất gồm nhiều yếu tố khác nhau trong đó có các số đo về chiều cao,
cân nặng, sức mạnh, sức bền, sự khéo léo, dinh dưỡng, bệnh tật, tuổi thọ, các yếu
tố giống nòi, gen di truyền (như tật nguyền bẩm sinh, thiểu năng trí tuệ, nhiễm
chất độc da cam) của người dân. Trí tuệ gồm các yếu tố trình độ văn hóa, thẩm
mỹ, trình độ khoa học, kỹ thuật, tay nghề thể hiện qua tỷ lệ biết chữ, số năm bình
quân đi học/ đầu người, tỷ lệ người có bằng cấp, được đào tạo chuyên môn kỹ
thuật giỏi. Tinh thần thể hiện qua mức độ tiếp cận và tham gia các hoạt động văn
hóa, thông tin, vui chơi giải trí, các phong trào xã hội [29].
12
Các chỉ tiêu để đo lường chất lượng dân số thường được sử dụng là
GDP/người; trình độ học vấn; tuổi thọ trung bình. HDI là chỉ số tổng hợp để đo
lường chất lượng dân số. Các yếu tố tác động đến nâng chất lượng dân số bao
gồm: phát triển kinh tế, tăng thu nhập, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, phát triển
giáo dục đào tạo, nâng cao trình độ dân trí, phát triển giá trị văn hóa và xã hội,
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và chất lượng cuộc sống.
Nâng cao chất lượng dân số là chính sách cơ bản của nhà nước trong sự
nghiệp phát triển đất nước. Nhà nước bảo đảm quyền cơ bản, quyền phát
triển, quyền thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng dân số về thể chất,
trí tuệ, tinh thần mỗi người. Tăng cơ hội lựa chọn và tiếp cận dịch vụ nâng
cao chất lượng dân số đa dạng thuận tiện cho người dân. Tăng chỉ số cơ bản
về chiều cao, cân nặng, sức bền, tuổi thọ bình quân, nâng cao trình độ học vấn
và thu nhập bình quân đầu người; bảo đảm cho nhóm dân số đặc thù nâng cao
chất lượng dân số.
gồm những biện pháp thực hành giúp cho những cá nhân hay các cặp vợ
chồng để đạt được những mục tiêu tránh những trường hợp sinh không mong
muốn, đạt được những trường hợp sinh theo ý muốn, điều hòa khoảng cách
giữa các lần sinh, chủ động thời điểm sinh con cho phù hợp với tuổi của bố, mẹ.
Kế hoạch hóa gia đình hướng dẫn mọi người lựa chọn tuổi sinh đẻ phù
hợp. Tuổi tốt nhất và hợp lý nhất để sinh đẻ là từ 22 đến 35 tuổi vì trong giai
đoạn tuổi này, người phụ nữ đã phát triển đầy đủ về thể chất, đã ổn định việc
làm và tạo dựng những kiến thức nhất định về xã hội cũng như chăm sóc gia
đình. Đồng thời, kế hoạch hóa gia đình hướng dẫn mọi người lựa chọn số con
mong muốn và khoảng cách giữa các lần sinh. Mỗi gia đình chỉ nên có từ một
đến hai con dù trai hay gái để đảm bảo hạnh phúc gia đình, nuôi con khỏe,
dạy con ngoan, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh. Khoảng cách giữa các lần
sinh nên cách nhau từ 3 đến 5 năm để người phụ nữ hồi phục sức khỏe sau lần
14