MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang hội nhập và phát triển, các tổ
chức chính trị- xã hội đã, đang và sẽ phải phát huy hơn nữa vai trò của mình để có
thể đưa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
đến với từng người dân, từng thôn, từng xóm. Bên cạnh việc phát huy vai trò của
mình trong việc vận động nhân dân tham gia thực hiện những nhiệm vụ cách
mạng, góp phần xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, thì việc vận động nhân dân thực hiện
chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình là công việc được coi trọng đặc biệt
trong giai đoạn hiện nay.
Việt Nam là một trong những nước có nền kinh tế nghèo, lạc hậu lại là một
trong những nước đông dân cư trên thế giới và trong khu vực. Sự gia tăng dân số
quá nhanh là một trong những nguyên nhân cản trở sự phát triển kinh tế xã hội, gây
khó khăn lớn cho việc cải thiện đời sống, hạn chế sự phát triển về trí tuệ, văn hóa
của giống nòi...
Ở Vĩnh Phúc, việc thực hiện chính sách dân số là một trong những công việc
được Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các tổ chức đoàn thể quan tâm thường xuyên.
Trong những năm qua công tác vận động nhân dân thực hiện chính sách dân số - kế
hoạch hoá gia đình của các tổ chức chính trị - xã hội đã đạt được những thành tích
đảng kể. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tỷ lệ phát triển dân số, tỷ lệ sinh con
thứ ba tăng mạnh trở lại, gây tác động tiêu cực đến phong trào nhân dân thực hiện
chính sách kế hoạch hoá gia đình, phá vỡ những thành tựu đã đạt được, cản trở sự
phát triển kinh tế - xã hội và việc nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, làm
chậm quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Trong những năm qua huyện Bình Xuyên đã tham gia tích cực vào việc
thực hiện chính sách DS – KHHGĐ, kết quả công tác dân số và KHHGĐ đã góp
phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Huyện, có bước chuyển biến
đáng kể trong tình hình mới, giảm tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên, tỷ lệ người sinh
con thứ 3 trở lên, góp phần vào việc xoá đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng
cuộc sống của nhân dân. Tuy nhiên, công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình của
Huyện còn một số tồn tại hạn chế cần khắc phục là: trong quá trình vận động còn
+ Do điều kiện, thời gian có hạn, nhóm tác giả chỉ tập trung nghiên cứu vai
trò của các tổ chức chính trị - xã hội: Mặt trận Tổ quốc, hội Phụ nữ, hội Nông dân,
Đoàn thanh niên trong việc vận động thực hiện chính sách dân số kế hoạch hóa gia
đình ở các xã, thị trấn tại huyện Bình Xuyên – Vĩnh Phúc.
+ Thời gian đánh giá thực trạng: giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2012.
4. Nội dung nghiên cứu
- Khái quát những vấn đề lý luận của đề tài nghiên cứu:
- Đánh giá thực trạng vai trò vận động của các tổ chức chính trị - xã hội ở
các xã, thị trấn tại huyện Bình Xuyên trong thực hiện chính sách dân số – kế hoạch
hóa gia đình.
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã
hội ở cơ sở trong việc vận động thực hiện chính sách dân số – kế hoạch hóa gia
đình ở huyện Bình Xuyên.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
5.2 Phương pháp quan sát
5.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
2
5.4 Phương pháp phỏng vấn sâu
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa khoa học
- Giúp người đọc có cái nhìn tổng quan, toàn diện về công tác DS –
KHHGĐ.
- Cho phép nhìn nhận khách quan, toàn diện, trên cơ sở đó đề xuất các giải
pháp có thể vận dụng trong công tác vận động thực hiện chính sách DS – KHHGĐ
lâu dài ở huyện Bình Xuyên.
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đối với cấp cơ sở : Đề tài góp phần giúp công tác vận động thực hiệncó
tuyên truyền dân số - kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn huyện Bình Xuyên
hiện nay” làm đề tài nghiên cứu, với hy vọng đưa ra những kết luận, giải pháp phù
hợp, thiết thực.
1.2 Một số vấn đề lý luận về các tổ chức chính trị - xã hội
1.2.1 Bản chất, vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội
1.2.2 Mối quan hệ giữa mặt trận và các thành viên trong hệ thống chính trị
* Mối quan hệ giữa Đảng với Mặt trận
* Mối quan hệ giữa Mặt trận với chính quyền
1.3 Một số vấn đề lý luận về DS – KHHGĐ
1.3.1 Một số khái niệm
1.3.1.1 Dân số
13.1.2 Kế hoạch hoá gia đình
1.3.1.3 Chính sách dân số
1.3.1.4 Dịch vụ dân số
1.3.2 Lợi ích của KHHGĐ
1.3.3 Khái quát những chính sách Dân số - kế hoạch hóa gia đình của Đảng
và Nhà nước Việt Nam
1.3.4 Mục tiêu của chính sách dân số Việt Nam
1.3.5 Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về công tác DS-KHHGĐ
1.4 Vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội đối với việc thực hiện chính sách
DS – KHHGĐ
1.4.1 Vai trò của công tác DS - KHHGĐ
1.4.2 Vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội đối với việc thực hiện chính
sách DS –KHHGĐ
4
Tóm lại: Những vấn đề lý luận của đề tài nghiên cứu giúp đã khái quát
những vấn đề cơ bản, cần thiết nhất, là công cụ quan trọng để nhóm tác giả nghiên
Từ kết quả nghiên cứu cho thấy: Có 68,9% các ý kiến được hỏi đều khẳng
định vai trò của các tổ chức CT – XH trong vận động, tuyên truyền thực hiện chính
sách DS – KHHGĐ trong giai đoạn hiện nay là rất quan trọng. Có 31,1 % cho rằng
là quan trọng, không có ý kiến nào cho là bình thường, không quan trọng.
Việc khẳng định vai trò quan trọng của các tổ chức chính trị - xã hội trong
vận động thực hiện chính sách DS- KHHGĐ hoàn toàn phù hợp và có ý nghĩa lớn
đối với cá nhân, gia đình, xã hội.
2.3.2 Đánh giá về mức độ quan trọng của các mục tiêu trong công tác DS –
KHHGĐ
- Mục tiêu quan trọng bậc nhất trong công tác DS - KHHGĐ là đảm bảo
sức khỏe phụ nữ, em bé có 55,6% số ý kiến lựa chọn. Sự lựa chọn này được đặt
lên hàng đầu vì công tác DS- KHHGĐ ở cơ sở thường tác động, ảnh hưởng trực
tiếp tới phụ nữ, em bé thông qua hàng loạt những dịch vụ liên quan trực tiếp đến
việc chăm sóc sức khỏe phụ nữ và sức khỏe giới tính. Mặt khác phụ nữ còn là
6
người trực tiếp nuôi dưỡng thai nhi và chăm sóc trẻ em sau sinh vì thế các ý kiến
lựa chọn mục tiêu quan trọng bậc nhất trong công tác DS - KHHGĐ là đảm bảo
sức khỏe phụ nữ, em bé chiếm tỷ lệ cao. Các lựa chọn khác xếp bậc 1 chiếm tỷ lệ
% thấp hơn như: xóa đói giảm nghèo (chiếm 24.5%), nâng cao chất lượng cuộc
sống (chiếm 27,4%); đảm bảo ổn định dân số, phân bố dân cư (chiếm 16,5%).
- Mục tiêu quan trọng thứ 2 trong công tác DS - KHHGĐ là xóa đói giảm
nghèo có 51,7% số ý kiến lựa chọn. Sự lựa chọn này phản ánh nhận thức, đánh giá
của người làm công tác vận động thực hiện chính sách DS – KHHGĐ ở cơ sở xác
định xóa đói giảm nghèo là hướng tới sự phát triển kinh tế bền vững. Các lựa chọn
khác xếp bậc 2 chiếm tỷ lệ % thấp hơn như: đảm bảo sức khỏe phụ nữ, em bé
(chiếm 27,4 %), nâng cao chất lượng cuộc sống (chiếm 34 %); đảm bảo ổn định
dân số, phân bố dân cư (chiếm 31.9%).
- Mục tiêu quan trọng thứ 3 trong công tác DS - KHHGĐ có số ý kiến lựa
quả trả lời câu hỏi thu được ở bảng trên.
Hình thức gặp gỡ trực tiếp để thuyết phục, vận động và hình thức hội thảo,
tọa đàm có tỷ lệ đánh giá thấp hơn hai hình thức trên chỉ chiếm 51,9% và 85,2% ý
kiến đánh giá. Có số ít ý kiến nêu thêm các hình thức khác: văn nghệ, tiểu phẩm,
lồng ghép với các hoạt động khác…
Tóm lại: Qua việc tìm hiểu thực trạng về các hình thức vận động, tuyên
truyền của các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở chúng tôi thấy hình thức vận động,
tuyên truyền phổ biến là qua các phương tiện thông tin đại chúng; phát tờ rơi, treo
khẩu hiệu được triển khai tích cực ở tất cả các xã, thị trấn của huyện Bình Xuyên.
Các hình thức khác cũng được vận dụng nhưng không phổ biến, đặc biệt tỷ lệ thấp
hơn là ở vùng sâu, vùng xa.
2.3.4 Nhận thức của người dân về chính sách DS – KHHGĐ
Qua việc nghiên cứu khảo sát với số lượng 164 người dân để tìm hiểu nhận
thức của người dân về: khái niệm KHHGĐ, về độ tuổi kết hôn, về lợi ích của việc
thực hiện KHHGĐ, kết quả cho thấy:
- Người dân ở đây còn hiểu về khái niệm KHHGĐ một cách đơn giản, chưa
sâu sắc. Sự hiểu biết về tuổi kết hôn theo luật cũng không phải được tất cả người
dân hiểu một cách đầy đủ, chính xác.
- Việc nhận thức lợi ích cụ thể, thiết thực đối với từng cá nhân, gia đình
được người dân chưa đầy đủ, một số lợi ích vĩ mô khác ít được đề cập như: Lợi ích
đối với quốc gia là tránh được tình trạng đất chật người đông; giảm bớt gánh
nặng cho xã hội về nhu cầu giáo dục, chăm sóc y tế, nhà ở, cung cấp điện,
nước sinh hoạt, xây dựng hệ thống giao thông và hạn chế ô nhiễm môi trường
nâng cao chất lượng cuộc sống, thì chưa được liệt kê trong các phiếu trả lời.
Vì vậy vấn đề đặt ra là phải nâng cao hơn nữa nhận thức của người dân về
chính sách DS - KHHGĐ và các tổ chức đoàn thể ở cơ sở cần chú ý hơn nữa đến
việc đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp vận động, tuyên truyền.
2.3.5 Hiệu quả của công tác vận động thực hiện chính sách DS – KHHGĐ ở
huyện Bình Xuyên
2.3.5.1 Đánh giá hiệu quả của công tác vận động thực hiện chính sách DS –
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
1
Rất hiệu quả
7
14
4
18
15.5
34
13.5
35
70
28
70
32
71.1
91
78.5
186
74.1
3
TỔNG
50
40
45
116
Từ kết quả bảng trên cho thấy:
Công tác vận động thực hiện chính sách DS – KHHGĐ ở huyện Bình Xuyên
được đánh giá là tương đối hiệu quả chiếm 74,1%, chỉ có 7,5% đánh giá là rất
hiệu quả, 13.5% đánh giá là hiệu quả và 4,9 đánh giá là không hiệu quả. Điều này
phù hợp với kết quả tổng hợp của TTDS – KHHGĐ Huyện.
2.3.5.2. Thực hiện các chỉ tiêu (Giai đoạn 2003- 2012)
2.3.5.3 Kết quả thực hiện chính sách DS – KHHGĐ của huyện Bình Xuyên 9
tháng năm 2013
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, đánh giá hiệu quả việc vận động thực hiện
chính sách DS – KHHGĐ ở huyện Bình Xuyên giai đoạn từ 2003 - 2012, chúng tôi
nhận thấy:
- Mức sinh kể từ năm 2003 đến nay đã giảm so với những năm trước đây,
nhưng mức sinh có chiều hướng tăng giảm không đều qua các năm. Có những năm
có mức sinh khá cao như năm 2007 là 17.2%, năm 2011 là 17.9%, cá biệt năm
2012 tăng đột biến là 19.7%. Từ kết quả này cho thấy: sự thiếu bền vững trong kết
quả giảm sinh, nguy cơ bùng nổ dân số vẫn còn tiềm ẩn ở nhiều xã trên địa bàn
huyện Bình Xuyên.
- Số con thứ ba giảm, tương đối ổn định từ 2003 đến 2006, nhưng từ năm 2007
đến 2012 số lượng con thứ ba tăng lên hơn hẳn các năm trước và diễn ra trên tất cả
các xã, thị trấn, chỉ tính đến tháng 9 đã tăng so với cùng kỳ năm 2012 là 26 bé.
số
2012
Tăng
giảm
Số sinh con thứ ba trở lên
Tổng
8
Tháng
Tăng
Tổng
số
tháng
9
giảm
2012
1
Hương Canh
67
10
77
59
10
6
4
3
Tam Hợp
69
11
80
71
9
3
0
3
2
1
6
56
52
4
2
1
3
3
0
6
Đạo Đức
71
8
79
78
10
13
-3
8
Thanh Lãng
75
9
84
67
17
7
2
9
6
3
9
82
81
1
1
0
1
11
-10
11
Trung Mỹ
118
12
130
106
10
5
5
13
Hương Sơn
53
9
62
71
-9
7
0
7
4
3
+ Việc vận động thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng dân số tỷ lệ sử
dụng các biện pháp tránh thai cao, nhận thức của người dân được nâng lên... tuy
nhiên vẫn còn bộc lộ một số bất cập cần được chú ý: đặc biệt là những xã thuộc
vùng sâu, vùng xa, đời sống người dân còn nghèo, khó khăn về cơ sở vật chất, về
việc tiếp nhận thông tin, dịch vụ DS - KHHGĐ không thuận lợi.
Tóm lại: Trong những năm qua vai trò vận động của các tổ chức chính trị xã hội ở một số xã của huyện Bình Xuyên về thực hiện chính sách DS KHHGĐ đã
được đông đảo nhân dân đồng tình hưởng ứng, thể hiện thái độ tích cực và bước
đầu có những hành vi sinh đẻ phù hợp. Tỷ lệ giảm sinh tương đối ốn định, việc
triến khai các dịch vụ KHHGĐ đạt tỷ lệ tương đối cao, nhận thức về quy mô gia
đình nhỏ đã được đa số người dân chấp nhận thực hiện. Tuy nhiên, kết quả của
việc thực hiện quy mô gia đình nhỏ vẫn chưa thực sự vững chắc, còn nhiều khó
khăn và còn nguy cơ bùng nổ. Những trường hợp sinh con thứ 3 gia tăng, tư tưởng
"con đàn cháu đống", "có con trai để nối dõi, thờ cúng tổ tiên" ăn sâu vào nếp nghĩ
của một bộ phận không nhỏ người dân… Vì vậy, đòi hỏi công tác vận động thực
hiện chính sách DS – KHHGĐ ở cơ sở cần phát huy hơn nữa vai trò của mình để
thực hiện mục tiêu chung: Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh.
2.3.6 Nguyên nhân sinh con thứ ba trở lên
Qua khảo sát 164 người dân, kết quả cho thấy: đa số các ý kiến cho rằng vì
chưa có con trai nên phải sinh cho được con trai, hoặc do người chồng, gia đình
chồng muốn có con trai để có người thờ cúng tổ tiên. Hoặc một số ít ý kiến cho là
do vỡ kế hoạch - đây cũng là một trong những nguyên nhân cần được quan tâm và
đòi hỏi công tác DS – KHHGĐ phải có những dịch vụ KHHGĐ phù hợp ngăn
chặn những hậu quả ngoài ý muốn của con người.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ tăng sinh và sinh con thứ ba, trong
đó nguyên nhân đóng vai trò quyết định việc sinh nhiều con của người dân địa
phương là do quan điểm lạc hậu, tư tưởng phong kiến lỗi thời đã ăn sâu vào nếp
sống, nếp nghĩ của một bộ phận không nhỏ người dân kéo dài hàng ngàn năm, rất
phương pháp, hình thức tuyên truyền chưa có sự đổi mới, nội dung tuyên truyền
chưa phong phú.
- Đã có sự phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc, các ban, ngành, đoàn thể, cụm
dân cư trong công tác tuyên truyền, tuy nhiên sự phối hợp này còn nhiều hạn chế,
mang tính hình thức.
- Kinh phí cho công tác DS – KHHGĐ cũng như chi tiêu cho chiến dịch còn
hạn chế và muộn so với hàng năm.
- Thời gian tổ chức chiến dịch truyền thông lồng ghép dịch vụ DS –
KHHGĐ theo đợt trong năm 2012 còn muộn so với năm 2011.
12
Chương 3. NHỮNG GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIÊU QUẢ
CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DS – KHHGĐ
3.1 Các giải pháp chung
3.1.1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đối với công tác DS –
KHHGĐ
3.1.2 Coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động
3.1.3 Xây dựng bộ máy làm công tác DS – KHHGĐ
3.1.4 Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác DS – KHHGĐ
3.1.5 Cung cấp dịch vụ KHHGĐ
3.1.6 Phối hợp thống nhất giữa các cấp ủy đảng, chính quyền, các ban, ngành,
đoàn thể đối với thực hiện chính sách DS - KHHGĐ
3.2 Một số giải pháp cụ thể
3.2.1 Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động, triển khai các nội dung
tuyên truyền tới từng nhóm đối tượng, từng độ tuổi, từng vùng, nhất là ở vùng sâu,
vùng xa, vùng có mức sinh và số người sinh con thứ 3 trở lên cao. .
3.2.2 Sự phối hợp chặt chẽ giữa Trung tâm DS – KHHGĐ Huyện với Mặt
trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể ở cơ sở là sức mạnh tổng hợp để phát huy
Tuy nhiên các hình thức khác như gặp gỡ, tư vấn trực tiếp, nêu gương điển hình
chỉ thực hiện trong những tình huống cụ thể, chưa thường xuyên, phổ biến.
Bên cạnh các hoạt động tuyên truyền, vận động thì việc phân phối, triển
khai những sản phẩm dịch vụ CSSK/KHHGĐ đã được trung tâm DS – KHHGĐ
Huyện, các cơ sở xã, thị trấn tổ chức thực hiện phù hợp với đặc thù của địa
phương, với phong tục tập quán của người dân, các trang thiết bị tuyên truyền
phát huy được hiệu quả hoạt động tuyên truyền ở cơ sở. Tuy nhiên, các dịch vụ
này triển khai chưa đồng bộ, thống nhất, thường xuyên.
Lực lượng tham gia công tác vận động, tuyên truyền là những cán bộ
chuyên trách, tuyên truyền viên, cộng tác viên dân số ở cơ sở- những người rất
tâm huyết, tận tụy với công việc…Tuy nhiên ở các xã, thị trấn chưa có sự hỗ trợ
hợp lý về thù lao đối với CTV DS, chưa có sự động viên kịp thời về tinh thần vì
thế các hình thức vận động chưa tạo động lực thúc đẩy công tác DS – KHHGĐ
đạt hiệu quả.
Kết quả đạt được nêu trên là nhờ sự chỉ đạo, lãnh đạo của cấp Ủy Đảng,
Chính quyền, sự chủ động, tích cực của cơ quan Dân số - Kế hoạch hóa gia đình từ
Tỉnh, đến Huyện, đặc biệt là sự tham gia trực tiếp của các tổ chức chính trị - xã hội
(mặt trận và các đoàn thể nhân dân) ở các xã, thị trấn đối với việc vận động, tuyên
truyền thực hiện chính sách DS – KHHGĐ. Trong những năm tới (từ 2013 –
2020) cần phải chú trọng hơn nữa việc nâng cao hiệu quả chỉ đạo, vận động thực
hiện chính sách DS – KHHGĐ: tăng cường sự lãnh đạo của đảng, nhà nước; coi
trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động; đổi mới phương thức vận động,
đa dạng hoá các hình thức vận động, tuyên truyền, phối hợp hoạt động với các ban,
ngành, đoàn thể… để thực hiện có hiệu quả mục tiêu của công tác DS – KHHGĐ.
14
KIẾN NGHỊ
1. Đối với Trung ương:
- Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về công tác dân số - kế hoạch