BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ THỊ THU
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ DI TÍCH VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2020
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ THỊ THU
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ DI TÍCH VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ,
Để hoàn thành đề tài luận văn này, đầu tiên cho tôi gửi lời cảm ơn chân
thành tới các quý thầy cô giáo Học viện Hành chính Quốc gia đã dạy dỗ nhiệt
tình trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu tại trường. Bên cạnh đó
bản thân tôi cũng nhận được nhiều sự giúp đỡ, động viên từ cơ quan tổ chức
và cá nhân.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS. Nguyễn Văn
Hậu, hiện công tác tại Học viện Hành chính Quốc là người trực tiếp hướng
dẫn tôi tận tình, chu đáo, định hướng về mặt nội dung và tạo điều kiện thuận
lợi trong quá trình thực hiện. Bên cạng đó, thầy luôn chia sẻ và động viên để
tôi cố gắng hoàn thành luận văn của mình.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến người thân, bạn bè và đồng
nghiệp đã động viên, khích lệ, hỗ trợ với tôi trong suốt quá trình học tập và
nghiên cứu luận văn.
Mặc dù đã cố gắng lắng nghe, tiếp thu và nắm bắt song chắc chắn rằng
luận văn còn hạn chế và thiếu sót. Vì thế, tôi rất mong nhận được ý kiến đóng
góp của các quý thầy cô và độc giả để luận văn được hoàn thiện hơn.
Trân trọng cảm ơn!
Học viên
1.2.2. Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về di sản văn hóa .................................. 18
1.2.3. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản
văn hóa. .....................................................................................................................21
1.2.4. Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ
cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa. ................................................................... 22
1.2.5. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản
văn hóa. ................................................................................................................. 23
1.2.6. Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn
hóa; ....................................................................................................................... 24
1.2.7. Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản
văn hóa; ................................................................................................................ 25
1.2.8. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo
và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa. ..................................................... 26
1.3. Chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của các cơ quan QLNN về hoạt động phân
cấp trong quản lý di tích văn hóa .......................................................................... 27
Tiểu kết Chương 1 ....................................................................................................34
Chương 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH VĂN
HÓA CẤP QUỐC GIA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA
3.1. Định hướng quản lý di tích văn hóa cấp quốc gia trong thời gian tới: .............. 61
3.1.1. Một số quan điểm về bảo tồn và phát huy giá trị di tích văn hóa cấp quốc gia .... 61
3.1.2. Định hướng của Trung ương ........................................................................ 62
3.1.3. Định hướng của địa phương ......................................................................... 63
3.2. Giải pháp thực hiện......................................................................................... 64
3.2.1. Tăng cường trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước thông qua việc
phân cấp quản lý nhà nước về di tích văn hóa cấp quốc gia cho từng địa phương. . 64
3.2.2. Tăng cường huy động nguồn lực trên cơ sở nâng cao vai trò tự quản của cộng
đồng, khuyến khích cộng đồng tham gia vào hoạt động quản lý di tích văn hóa cấp
quốc gia. ................................................................................................................ 67
3.2.3. Kiện toàn và nâng cao chất lượng bộ máy nhân sự làm công tác quản lý nhà
nước về văn hóa và di tích văn hóa. ....................................................................... 70
3.2.4. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử phạt các hành vi vi
phạm luật di tích văn hóa, vi phạm trong ứng xử với di tích văn hóa. .................... 72
3.2.5. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát và định hướng hoạt động quản lý di
tích văn hóa cấp quốc gia....................................................................................... 75
3.2.6. Khai thác các giá trị di tích văn hóa cấp quốc gia vào hoạt động du lịch ...... 77
3.2.7. Tăng cường hợp tác quốc tế, ứng dụng thành tựu khoa học vào trùng tu, tôn
tạo, quản lý, khai thác, sử dụng các di tích văn hóa cấp quốc gia trên địa bàn thành
phố Huế ................................................................................................................. 79
KTXH
Kinh tế xã hội
DTLSVH
GCNQSDĐ
KTTT
NXB
QLNN
Di tích lịch sử văn hóa
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Kinh tế thị trường
Nhà xuất Bản
Quản lý nhà nước
TTBTDTCĐ
Trung tâm bảo tồn di tích cố đô
UNESCO
United Nations Educational, Scientific and
TTH
Thừa Thiên Huế
Di tích văn hóa là thành quả lao động sáng tạo của cha ông ta để lại.
Trong suốt chiều dài của nghìn năm dựng nước và giữ nước, ở bất kỳ đâu trên
mảnh đất Việt thân yêu đều bắt gặp những di tích văn hóa như đình, chùa,
miếu, lăng tẩm. Đây là tài sản vô cùng quý giá của ông cha ta để lại cho đời
sau.
Ngày nay, với sự phát triển của kinh tế, khi vật chất đầy đủ con người lại
khát khao tìm đến những giá trị văn hóa, càng muốn tìm hiểu cội nguồn của
dân tộc mà trong đó có di tích văn hóa với những đền đài lăng tẩm - là một
trong những giá trị vật thể vô giá. Gìn giữ những di tích văn hóa không chỉ
đơn thuần là gìn giữ những thành quả vật chất và tinh thần do cha ông ta để
lại mà là sự kế thừa và phát triển nền văn hóa sao cho phù hợp với thực tiễn,
vừa không bị lạc hậu vừa phù hợp với xu thế mới.
Do vậy, trong những năm qua Nhà nước đã có nhiều chính sách nhằm
tăng cường công tác bảo tồn các di tích văn hóa. Thành phố Huế, tỉnh Thừa
Thiên Huế cũng là một trong những địa phương cùng với cả nước thực hiện
công tác quản lý, bảo tồn các di tích văn hóa trong đó có di tích văn hóa cấp
quốc gia, được phân bổ quản lý trực tiếp đem lại những thành quả tích cực.
Tuy nhiên, việc quản lý các di tích văn hóa đã được quốc gia công nhận
vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn và những đòi hỏi mới của sự
Xuân nay là tỉnh Thừa Thiên Huế đặc biệt là các di tích văn hóa kiến trúc nghệ
thuật cấp quốc gia đã được nhiều công trình nghiên cứu, tìm hiểu. Điển hình như:
- Tác giả Trần Thị Hồng Minh đã nghiên cứu đề tài “Vấn đề giữ gìn và phát
huy di sản văn hóa ở Thừa Thiên Huế hiện nay”. Tác giả đã nêu rõ vấn đề giữ
gìn, phát huy di sản văn hóa đã được các cấp chính quyền địa phương và nhân
dân tỉnh Thừa Thiên Huế quan tâm và đạt được nhiều thành tựu to lớn,
đã vượt qua giai đoạn cứu nguy khẩn cấp, từng bước hồi sinh diện mạo ban
đầu của một cố đô lịch sử.
- Cuốn “Văn hóa Huế - kế thừa văn Hóa Thăng Long, kết tinh ở thế kỷ XIX”
của tác giả Phan Công Tuyên nói về sự kế thừa của kinh đô Huế sau khi được Lý
Công Uẩn dời kinh đô từ Thăng Long - Hà Nội vào Phú Xuân, Huế. Từ năm
1802, Phú Xuân - Huế trở thành kinh đô của vương triều Nguyễn, kinh đô của
một quốc gia thống nhất trên lãnh thổ rộng lớn bao gồm cả đất liền, hải đảo ven
bờ và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa giữa biển Đông như lãnh thổ Việt Nam
2
hiện đại. Với vai trò trung tâm chính trị, văn hoá của một quốc gia thống nhất,
kinh thành Huế trở thành nơi hội tụ các giá trị văn hoá của dân tộc, nơi giao thoa
và dung hợp nhiều ảnh hưởng văn hoá bên ngoài.
tồn tại, những nguyên nhân đã và đang gây nên sự xuống cấp vốn DSVH
trong thời gian qua. Từ đó, đưa ra những kiến nghị, biện pháp cụ thể và giới
thiệu kinh nghiệm của Nhật Bản về giữ gìn và phát huy DSVH.
- Thái Công Nguyên với cuốn “Quần thể di tích Huế di sản thế giới”, tác
giả chủ yếu giới thiệu pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và
danh lam thắng cảnh của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Hệ thống
3
các DSVH của TTH như sông Hương, núi Ngự Bình, cầu Trường tiền, Kinh
thành, Hoàng thành, Đàn Nam giao, Điện Hòn chén, chùa Linh mụ... đồng thời
khẳng định giá trị của nó đối với sự phát triển của tỉnh TTH.
- Tác giả Phan Thuận An trong cuốn “Kiến trúc cố đô Huế” Nxb Đà
Nẵng, tác giả cho rằng Huế ngày nay còn bảo lưu được một khối lượng lớn
những di sản vật chất và tinh thần mang tính văn hóa nghệ thuật truyền thống
của Việt Nam. Trong gần 400 năm (1558- 1945), Huế là trung tâm chính trị
và văn hóa của Đàng trong, rồi trở thành kinh đô của cả đất nước thống nhất.
Huế đã được xác nhận là một trung tâm văn hóa du lịch của Việt Nam, và
quần thể di tích cố đô Huế đã được công nhận là một DSVH thế giới. Sau đó
một thập niên, nhã nhạc triều Nguyễn lại được tổ chức UNESCO công nhận
là kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại.
Đề tài này chỉ lựa chọn di tích văn hóa cấp Quốc gia tại thành phố Huế là đối
tượng QLNN, tất nhiên có sử dụng những kiến thức tổng quát về di sản văn
hóa trong những vấn đề có liên quan.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về di tích
văn hóa cấp quốc gia trên địa bàn thành phố Huế, học viên đề xuất giải pháp
hoàn thiện quản lý nhà nước về di tích văn hóa cấp quốc gia trên địa bàn
thành phố Huế do thành phố được giao quản lý.
- Nhiệm vụ:
Luận văn tập trung nghiên cứu và giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về di tích văn
hóa và di tích văn hóa cấp quốc gia.
- Tìm hiểu các di tích văn hóa cấp quốc gia trên địa bàn thành phố Huế
được giao quản lý trực tiếp. Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý
di tích văn hóa cấp quốc gia do thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế được
giao quản lý.
định số 2685/QĐ-UBND ngày 23/11/2006 về việc phân cấp quản lý di tích đã
được xếp hạn trên địa bàn tỉnh)
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Phương pháp luận: Phương pháp luận dựa trên chủ nghĩa duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác -Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về Văn
hóa, di sản văn hóa
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như:
+ Phương pháp tổng hợp, phân tích tư liệu, tài liệu: Trên cơ sở thu thâp
tài liệu, tác giả sẽ tổng hợp, phân tích tài liệu và rút ra những kết luận trong
việc đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về di tích văn hóa cấp quốc gia trên
địa bàn thành phố Huế do thành phố được phân công quản lý trực tiếp
+ Phương pháp khảo sát thực địa: Phân tích tài liệu do tác giả trực tiếp
đến địa điểm di tích văn hóa cấp quốc gia để điều tra và chụp ảnh minh họa.
+ Phương pháp so sánh, đối chiếu: Tài liệu thu thập về các di tích văn hóa
cấp quốc gia sẽ được tác giả so sánh, lồng ghép và rút ra bài học để có thể làm rõ
quyền địa phương trong công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích
văn hóa cấp quốc gia trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn được kết cấu bao gồm: 3 chương
Chương 1. Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về di tích văn hóa cấp quốc gia.
Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về di tích văn hóa cấp quốc gia
trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Chương 3. Giải pháp đối với hoạt động quản lý nhà nước về di tích văn
hóa cấp quốc gia trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ DI TÍCH VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Di sản văn hóa
vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học,
8
được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam [tr.6, 33].
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm gắn với cộng đồng hoặc cá
nhân, vật thể và không gian văn hóa có liên quan; có giá trị lịch sử văn hóa,
khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng tái tạo và được lưu
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình
diễn và các hình thức khác. [tr.9, 33]
Di sản văn hóa vật thể là các sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử văn
hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia.[tr.33, 33]
Sự phân biệt trên chỉ mang tính tương đối, nhằm để nghiên cứu những
đặc tính riêng của từng di sản, còn thực tế yếu tố vật thể và phi vật thể gắn kết
chặt chẽ với nhau, cùng tồn tại để làm nên giá trị của một di sản. Khi đó di
sản văn hóa phi vật thể là linh hồn, là cốt lõi, biểu hiện tinh thần của di sản
văn hóa vật thể, còn cái hiện hữu, cái làm nên di sản văn hóa vật thể tồn tại
như là biểu hiện vật chất của di sản phi vật thể ấy.
Luật sửa đổi bổ sung năm 2009).
Căn cứ Điều 4 Luật Di sản văn hoá, Điều 14 Nghị định số 92/2002/NĐ-
CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Di sản văn hoá, theo Điều 11 Nghị định 98/2010 ngày 21/9/2010) di tích
được phân loại như sau:
Di tích lịch sử - văn hóa:
Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn
hóa, khoa học. Di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau
đây:
Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong
quá trình dựng nước và giữ nước.
Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh
hùng dân tộc, danh nhân của đất nước.
Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các
thời kỳ cách mạng, kháng chiến.
Di tích kiến trúc nghệ thuật:
dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng
những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của Trái Đất.
Di tích lịch sử cách mạng:
Di tích cách mạng - kháng chiến là một bộ phận cấu thành hệ thống các
di tích lịch sử - văn hoá, tuy nhiên, nó có những điểm khác với các di tích tôn
giáo tín ngưỡng như đình, đền, chùa, miếu… ở chỗ: đó là những địa điểm cụ
thể, công trình kiến trúc có sẵn (nhà ở, đường phố…), là những công trình
được con người tạo nên phù hợp với mục đích sử dụng (địa đạo, hầm bí
mật…) gắn liền với những sự kiện cụ thể, nhân vật lịch sử cụ thể mà trở thành
di tích. Loại hình di tích này rất đa dạng, phong phú, có mặt ở khắp mọi nơi,
khó nhận biết, đồng thời cũng rất dễ bị lãng quên, dễ biến dạng theo mục đích
sử dụng, theo thời tiết và theo thời gian. Bởi vậy các di tích này vừa khó bảo
tồn vừa khó phát huy tác dụng nếu không được quan tâm đặc biệt.
Di tích văn hóa là một bộ phận quan trọng của văn hóa dân tộc, là bằng
chứng trung thành, xác thực, cụ thể về đặc điểm văn hoá mỗi nước. Ở đó chứa
đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa, trí tuệ, tài
11
năng, giá trị văn hoá nghệ thuật của mỗi quốc gia. Di tích văn hóa có khả năng
rất lớn góp phần vào việc phát triển trí tuệ, tài năng của con người; góp phần
vào việc phát triển khoa học nhân văn, khoa học lịch sử. Đó chính là bộ mặt
quá khứ của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia.
“Di tích văn hóa là sản phẩm của các thế hệ người trải qua thời gian
còn tồn tại đến nay, nó kết tinh của một quá trình sáng tạo của con người. Vì
vậy, nó là chứng cớ vật chất tiêu biểu về quá trình phát triển lịch sử của mỗi
cộng đồng dân tộc và nhân loại”. [50]
12
Theo Luật Di sản văn hóa năm 2001 thì Di tích văn hóa là công trình
xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình,
địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học. Luật Di sản văn hóa sửa đổi
năm 2009 quy định: di tích văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây:
Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của
quốc gia hoặc của địa phương; Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân
thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh
hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các
thời kỳ lịch sử; Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu; Công trình kiến trúc,
nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá
trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật. [32]
Theo Luật Di sản văn hóa: “Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây
Căn cứ quy định trên hiện tại tỉnh Thừa Thiên Huế có 166 di tích với
56 di tích nằm trên địa bàn thành phố
1.1.4. Quản lý nhà nước về di tích văn hóa
1.1.4.1. Khái niệm quản lý, quản lý nhà nước
Trong Đại từ điển tiếng Việt, “quản lý" được hiểu là việc tổ chức, điều
khiển hoạt động của một số đơn vị, cơ quan; việc trông coi, gìn giữ và theo dõi
việc gì [ tr.1288] Các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý đưa ra khái niệm cụ
14
thể hơn: “là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối
tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra" Để thực hiện công tác quản lý
cần phải dựa vào các công cụ quản lý là các chính sách về luật pháp, chiến lược
phát triển, quy hoạch, đề án bảo vệ và phát huy di sản, nguồn lực, tài chính, các
công trình nghiên cứu khoa học. nhằm đạt được các mục đích đã đề ra.
Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực của nhà nước do các
cơ quan nhà nước tiến hành đối với tất cả mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội
trên tất cả các mặt của đời sống, xã hội bằng cách sử dụng quyền lực nhà
nước có tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của
cộng đồng, duy trì ổn định, an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo
một thống nhất của nhà nước [24]
điều chỉnh hành vi hoạt động của cá nhân, tổ chức trong việc bảo quản, tu bổ
và phục hồi di tích văn hóa.
Chủ thể quản lý nhà nước về trùng tu di tích văn hóa là các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền trong việc quản lý trùng tu di tích văn hóa.
Đối tượng quản lý nhà nước về trùng tu di tích văn hóa là các cá nhân
hoặc tổ chức có liên quan đến lĩnh vực trùng tu di tích văn hóa.
Khách thể quản lý nhà nước về trùng tu di tích văn hóa là trật tự quản lý
trong toàn bộ quá trình trùng tu di tích văn hóa cũng như các hành vi của các
cá nhân, tổ chức trong quá trình trùng tu di tích văn hóa nhằm gìn giữ, bảo vệ
và khai thác các giá trị của di tích phục vụ sự phát triển xã hội, đáp ứng nhu
cầu về vật chất và tinh thần cho cộng đồng.
Như vậy, quản lý nhà nước về di tích văn hóa chính là sự định hướng,
tạo điều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các di tích, làm cho các
giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực. Trong đó chú
trọng các nội dung:
- Bảo quản di tích văn hóa: là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế
những nguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc
vốn có của di tích văn hóa. Bảo quản di tích gồm các hoạt động như bảo
dưỡng thường xuyên cho di tích, bảo quản cấp thiết và bảo quản phòng ngừa.