BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
…………/…………
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ HUYÊN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỊCH VỤ VĂN HÓA
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI - NĂM 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
…………/…………
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ HUYÊN
Đặng Thị Minh – Giảng viên trường Học viện Hành chính Quốc gia, sự
hướng dẫn tận tình, trách nhiệm của cô không những giúp em hiểu thấu đáo
và trình bày dễ hiểu hơn đề tài của luận văn, mà còn giúp em có kỹ năng làm
việc theo trình tự khoa học, logic, rất có ích cho thực tiễn công tác sau này.
Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng luận văn vẫn không tránh khỏi những
thiếu sót, hạn chế. Em rất mong nhận được sự chỉ bảo, hướng dẫn của các
thầy, cô giáo để luận văn được hoàn thiện.
Tác giả cũng rất mong nhận được sự góp ý hữu ích của các bạn đồng
nghiệp và những người quan tâm để luận văn thêm phong phú.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Huyên
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CLB
:
Câu lạc bộ
DVVH
:
Dịch vụ văn hóa
HĐND
:
Thông tin và truyền thông
UBND
:
Uỷ ban nhân dân
VHXH
:
Văn hóa xã hội
VH&TT
:
Văn hóa và Thông tin
VHTT&DL
:
Văn hóa, Thể thao và Du lịch
1.4.4. Công nghệ thông tin, thương mại điện tử................................................ 38
1.4.5. Ý thức trách nhiệm của người kinh doanh dịch vụ văn hóa..................... 39
1.5 Kinh nghiệm QLNN về dịch vụ văn hóa của một số địa phương và bài học
kinh nghiệm cho huyện Hoài Đức .................................................................... 40
1.5.1. Kinh nghiệm của huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội........................ 40
1.5.2. Kinh nghiệm của quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội ........................ 42
1.5.3. Kinh nghiệm của khu phố cổ Hội An, Tỉnh Quảng Nam ........................ 43
1.5.4.Bài học kinh nghiệm cho huyện Hoài Đức .............................................. 44
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 ................................................................................... 46
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỊCH VỤ VĂN
HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI ........... 47
2.1. Khái quát về tình hình kinh tế xã hội của huyện Hoài Đức ....................... 47
2.1.1. Vị trí, điều kiện tự nhiên ......................................................................... 47
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ....................................................................... 48
2.1.2.2. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế ............................................... 49
2.1.3. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội tác động tới quản lý
dịch vụ văn hóa ................................................................................................ 52
2.2. Tình hình phát triển các dịch vụ văn hóa trên địa bàn huyện Hoài Đức ..... 54
2.3. Thực trạng quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa trên địa bàn huyện Hoài
Đức .................................................................................................................. 56
2.3.1. Tổ chức triển khai thực thi các văn bản quy phạm pháp luật về văn hóa . 56
2.3.2. Triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch quản lý dịch vụ văn hóa ........ 58
2.3.3. Tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ công chức ........................ 59
2.3.4. Huy động nguồn lực để quản lý các Dịch vụ văn hóa ............................. 62
2.3.5.Thanh tra, kiểm tra, tổ chứcxử lý vi phạm pháp luật về kinh doanh các loại
hình dịch vụ văn hóa ........................................................................................ 63
2.4. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa trên địa bàn huyện
Hoài Đức .......................................................................................................... 65
2.4.1. Ưu điểm ................................................................................................. 65
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Biết bao thế hệ đã đi qua, ông cha ta đã ra sức gìn giữ đất nước, giữ gìn
những truyền thống tốt đẹp của dân tộc để không bị đồng hóa, không bị lai căng,
biến chất trước âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, hòa nhập nhưng không hòa tan, đó
là nhờ vào sức mạnh văn hóa- cái đã làm nên sự khác biệt giữa dân tộc này với
dân tộc khác.
Văn hóa có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội. Các giá trị văn
hóa mang lại cho con người dù là giá trị vật chất hay tinh thần đều có ý nghĩa
hết sức to lớn. Văn hóa, là mục tiêu, là nền tảng, động lực của sự phát triển, góp
phần phát triển tiềm năng “con người” đặc biệt là tiềm năng trí tuệ của con
người; là nội lực trong giao lưu, đối ngoại, tự vệ; nguồn lực của sáng tạo và
nâng cao năng suất lao động. Định hướng con người đến các giá trị chân - thiện
- mỹ; tham gia vào việc lựa chọn con đường phát triển của cộng đồng.Vì vậy,
quản lý nhà nước về văn hóa phải được chú trọng đặc biệt và đòi hỏi các cán bộ
quản lý phải thực sự như Bác Hồ nói “vừa hồng vừa chuyên”.
Ngày nay, việc mở cửa giao lưu, hội nhập, quá trình toàn cầu hóa đã giúp
cho nhân loại có dịp gần nhau hơn, sự giao lưu và tiếp biến văn hóa ngày càng
diễn ra sâu sắc. Sự du nhập của văn hóa ngoại lai vào Việt Nam ngày càng đặt
ra nhiều vấn đề. Sức mạnh của văn hóa là rất lớn và tầm ảnh hưởng của nó cũng
vậy. Các thế lực thù địch luôn luôn ngấm ngầm chống phá chế độ ta nhất là
trong lĩnh vực văn hóa tư tưởng. Vì vậy,việc giữ gìn sự tôn nghiêm của pháp
luật trên mọi lĩnh vực cần được quan tâm bảo vệ đặc biệt là trên lĩnh vực văn
hóa phải được chú trọng. Tình trạng văn hóa phẩm đồi trụy, những ấn phẩm
không được lưu hành, tình trạng in, nhân bản băng đĩa lậu, vi phạm bản quyền
tác giả đang diễn ra khá phức tạp. Những trang quảng cáo, rao vặt có nội dung
không lành mạnh, những dịch vụ kinh doanh karaoke, vũ trường, massa,..đặt ra
nhiều vấn đề, những trò lừa bịp trên những trang web, chat, email,….chất lượng
quả thể chế quản lý nhà nước về văn hóa nói chung huyện Hoài Đức ở nước ta
trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Văn hóa là một đề tài thu hút sự quan tâm của rất nhiều đối tượng, từ
những triết gia, nhà nghiên cứu, nhà văn nổi tiếng đến những trí thức, bình dân.
Đến nay đã có những công trình nghiên cứu về quản lý văn hóa, quản lý dịch vụ
văn hóa được bàn đến.
Trong quá trình xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc, vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động DVVH đang
nhận được rất nhiều sự quan tâm. Đặc biệt, mỗi khi có vụ việc phức tạp liên
quan đến dịch vụ văn hóa, vấn đề quản lý lại được bàn đến, trong đó có một số
đề tài đáng chú ý:
Nhóm thứ nhất: Đề tài nghiên cứu tư tưởng chính thống, tuyên truyền,
phân tích chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các văn bản của các cơ
quan chức năng về quản lý dịch vụ văn hóa. Ví dụ:
- Tác giả Lê Xuân Kiêu (2011), Từ quan điểm của Hồ Chí Minh về văn
hóa, suy nghĩ về nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc hiện nay, tạp chí Nghiên cứu Văn hóa – Trường ĐH Văn hóa Hà Nội. Tác
giả nêu quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa, về nhiệm vụ xây dựng
nền văn hóa dân tộc, phân tích thực trạng nền văn hóa nước ta hiện nay, nêu 5
quan điểm xây dựng nền văn hóa dân tộc phù hợp với đường lối phát triển văn
hóa mà Đại hội Đảng lần thứ XI đã đề ra.
- Các tác giả của Viện văn hóa và phát triển, học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh, Giao sư Tiến sĩ Trần Văn Bính chủ biên, lý luận văn hóa và
đường lối văn hóa của Đảng, đã đề cập đến vai trò và một số nội dung về công
tác lãnh đạo quản lý văn hóa trong giai đoạn hiện nay.
Nhóm thứ hai: Đề tài nghiên cứu văn hóa trong mối liên hệ với kinh tế và
quản lý. Có thể kể đến như:
Nhìn một cách tổng quát về các công trình trên, chúng ta thấy các kết quả
nghiên cứu của các luận án, luận văn và các đề tài khoa học đã nghiên cứu về
mối quan hệ giữa phát triển văn hóa và kinh tế thị trường trong điều kiện hiện
nay của đất nước, góp phần làm sáng tỏ về phương diện lý luận của quản lý nhà
nước trên lĩnh vực văn hóa, bước đầu nghiên cứu, khảo sát thực trạng quản lý
nhà nước về văn hóa về văn hóa cấp cơ sở ở một số địa phương. Tuy nhiên, cho
đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề quản lý
đối với hoạt động dịch vụ văn hóa trên địa bàn huyện Hoài Đức trong giai đoạn
hiện nay.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về DVVH để đề
xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN về DVVH trên địa bàn huyện Hoài
Đức – Thành phố Hà Nội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài thực hiện các nhiệm vụ cơ
bản sau:
- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn QLNN về DVVH
- Nghiên cứu làm rõ kinh nghiệm thực tiễn ở một số địa phương để rút
ra bài học kinh nghiệm cho huyện Hoài Đức.
- Phân tích, đánh giá thực trạng QLNN về dịch vụ văn hóa ở huyện Hoài
Đức, làm rõ các ưu điểm, hạn chế trong QLNN về DVVH trên địa bàn
huyện Hoài Đức – Thành phố Hà Nội.
-
Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa
trên địa bàn huyện Hoài Đức.
doanh dịch vụ trên địa bàn huyện, cả các cơ sở đã được cấp giấy phép kinh
doanh hợp pháp và cả các cơ sở chưa đủ tiêu chuẩn cấp giấy phép.
- Phương pháp thống kê, phân loại: dựa vào bảng biểu tình hình phát triển
kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Hoài Đức, thống kê các số liệu có liên quan
đến đề tài.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận:
Phân tích và làm sáng tỏ những cơ sở lý luận về công tác quản lý nhà
nước về văn hóa, dịch vụ văn hóa.
Góp phần bổ sung những vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về
văn hóa cấp huyện, cung cấp các luận cứ khoa học cho việc nghiên cứu nhằm
tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế quản lý văn hóa cấp huyện ở huyện Hoài
Đức nói riêng và cấp huyện nói chung.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn:
- Đánh giá đúng thực trạng quản lý văn hóa tại UBND huyện Hoài Đức
trong những năm qua.
- Trên cơ sở đó, đề xuất mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cơ bản nâng cao
chất lượng công tác quản lý nhà nước về văn hóa tại UBND huyện trong thời
gian tới.
- Mong muốn cung cấp những luận cứ khoa học giúp các nhà làm công
tác cán bộ hoạch định công tác quản lý văn hóa cấp huyện. Các giải pháp được
đưa ra trong đề tài cũng có thể áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản
lý nhà nước về văn hóa tại UBND cấp huyện nói chung.
Các kết quả nghiên cứu của luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài
liệu tham khảo cho học tập và nghiên cứu, cho các cơ quan quản lý nhà nước,
cho các tổ chức và cá nhân.
nguyên thủy xuất bản tại Luân Đôn, năm 1871, theo đó, ông cho rằng, văn hóa là
một tổng thể phức tạp, bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp
luật, phong tục và cả những năng lực, thói quen mà con người đạt được trong xã
hội.
Năm 1952, S.L. Kroeber và Kluckhohn xuất bả quyển sách Culture, a
critical review of concept anh definitions (Văn hóa, điểm lại bằng cái nhìn phê
phán các khái niệm và định nghĩa), trong đó tác giả đã trích lục khoảng 160 định
nghĩa về văn hóa do các nhà khoa học đưa ra ở nhiều nước khác nhau. Điều này
cho thấy, khái niệm “Văn hóa” rất phức tạp.
Theo tiếng Latinh, thuật ngữ “Văn hóa” có nghĩa là cày cấy, vun trồng và
gắn với hoạt động nông nghiệp cổ xưa. Nội dung của khái niệm văn hóa theo
thời gian dần được mở rộng, phát triển thành ý nghĩa vun trồng, vun đắp hoạt
động tinh thần của con người.
Văn hóa không phải là một thực thể tồn tại tự nó , tồn tại bên ngoài đời
sống con người và xã hội, văn hóa là hoạt động của con người, chứa đựng các tri
thức và kinh nghiệm nhằm tôn vinh, phát triển con người và làm cho xã hội có
tính người. Con người từ khi mới sinh ra đã phải tiếp nhận ảnh hưởng của môi
trường xung quanh (thế giới vật chất, tinh thần, thể chế Nhà nước, pháp luật, tín
ngưỡng tôn giáo), tất cả tạo thành môi trường văn hóa đã chuẩn bị sẵn sàng để
con người tồn tại và phát triển.
Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác
giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.
Ngoài những trường phái lý thuyết để khuôn định nội hàm khái niệm văn
hóa, chúng ta còn thấy nhiều cách giải thích khác nhau về khái niệm này. Một
trong những khái niệm thường được đề cập nhiều nhất ở nước ta là cách hiểu
của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa. Định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng
nhỏ, trì trệ, luộm thuộm, manh mún; hình thành nên tác phong công nghiệp hiện
đại; xây dựng được ý thức chấp hành pháp luật, ý thức công dân và ý thức cá
nhân.
Trong phạm vi luận văn này, hiểu thêm về văn hóa, văn hóa đô thị sẽ giúp
đưa ra cái nhìn chính xác hơn về trò, thực trạng cũng như giải pháp phù hợp để
nâng cao chất lượng công tác quản lý dịch vụ văn hóa trên địa bàn huyện Hoài
Đức nói riêng và thủ đô Hà Nội nói chung.
1.1.1.2.Khái niệm “Dịch vụ văn hóa”
- Dịch vụ: “Dịch vụ trong kinh tế học, được hiểu là những thứ tương tự
như hàng hóa nhưng là phi vật chất”. Dịch vụ là những hoạt động nhằm thỏa
mãn những nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt.
Ta có thể hình dung hơn về dịch vụ khi đặt nó trong mốt quan hệ so sánh
với hàng hóa. Sản phẩm hàng hóa là sản phẩm hữu hình có thể nhìn thấy được,
cầm nắm được, sản phẩm dịch vụ là sản phẩm vô hình, chỉ có thể cảm thấy,
không thể cất giữ hoặc sở hữu riêng, là những hoạt động phục vụ nhằm thỏa
mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt của con người và xã hội.
Do nhu cầu sinh hoạt đa dạng của các cá nhân, nhóm xã hội và tùy vào sự
phân công lao động nên có nhiều loại dịch vụ như dịch vụ phục vụ sản xuất kinh
doanh, dịch vụ phục vụ sinh hoạt công cộng, dịch vụ về chỗ ở. Dịch vụ là một
điều kiện để phát triển sản xuất, kinh doanh, sự phát triển dịch vụ hợp lý, có chất
lượng cao là một biểu hiện của nền kinh tế phát triển và một xã hội văn minh
Dịch vụ văn hóa: Cũng như những loại hình dịch vụ khác “Dịch vụ văn
hóa” được hiểu là một loại hoạt động kinh doanh của nền kinh tế, những hoạt
động phục vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu về văn hóa của con người. Hoạt động
dịch vụ văn hóa là quá trình thực hành cuả cá nhân và các thiết chế xã hội trong
việc sản xuất, bảo quản, phân phối, giao lưu và tiêu dùng những giá trị văn hóa
tinh thần, nhằm phổ biến, truyền bá những tư tưởng, ý nghĩa và những sản phẩm
văn hóa của con người và cũng chính là để nâng cao chất lượng đời sống văn
*Kinh doanh dịch vụ văn hóa: là các hoạt động nhằm tạo ra lợi nhuận cho
cá nhân, tổ chức từ sản phẩm văn hóa, dịch vụ văn hóa của cá nhân hoặc tổ chức
đó.
Có thể nói rằng hoạt động dịch vụ văn hóa gắn với quá trình phát triển của
nền kinh tế thị trường. Kinh thế thị trường phát triển sẽ tác động làm cho các
hoạt động dịch vụ văn hóa ngày càng phát triển phong phú, đa dạng. Các hoạt
động này tác động trực tiếp đến nhận thức và hành vi của người dân.
Hoạt động dịch vụ văn hóa trong xã hội càng phát triển thì nhu cầu hưởng
thụ của con người càng được đáp ứng. Thực tiễn ở nhiều quốc gia trên thế giới
cho thấy: trong sự tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, nếu như không
đồng bộ, không cân bằng thì sẽ rơi vào tình trạng khủng hoảng trong đời sống văn
hóa – tinh thần của toàn xã hội. Vì vậy, phát triển đa dạng và phong phú các hoạt
động dịch vụ văn hóa cũng là một trong những biện pháp tích cực để nâng cao đời
sống tinh thần, làm cho văn hóa xâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội,
đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy văn hóa phát triển.
1.1.1.3. Quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa
Quản lý nhà nước
Quản lý
Hoạt động quản lý đã xuất hiện từ lâu, nhưng thuật ngữ “quản lý”cho đến
nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau. Tùy từng mục tiêu và dưới các góc độ
nghiên cứu người ta có thể đưa ra những quan niệm khác nhau về quản lý.
Chúng ta có thể định nghĩa “quản lý” ở góc độ, cách nhìn cơ bản và toàn
diện nhất: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên
đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã được đặt ra từ trước”.
Quản lý nhà nước
Hoạt động quản lý xuất hiện từ lâu và bao gồm nhiều loại, trong đó quản lý
xã hội là một dạng quản lý đặc biệt. Quản lý xã hội được đặt ra từ khi lao động
của con người bắt đầu được xã hội hóa. Quản lý xã hội là sự tác động có ý thức để
Quản lý dịch vụ văn hóa một cách khoa học, hiệu quả là phải tiến hành
đồng bộ trong mối quan hệ biện chứng cả hai mặt nói trên. Mục tiêu chung là
hướng đến thỏa mãn tối đa nhu cầu, khát vọng về văn hóa, tinh thần của con
người, góp phần hình thành và phát triển những nhu cầu về văn hóa, tinh thần
mới, nâng cao chất lượng đời sống văn hóa tinh thần của xã hội từ chỗ đáp ứng
nhu cầu tối đa, làm phát sinh nhu cầu mới cao hơn, sẽ tác động ngược lại dẫn tới
yêu cầu phải nâng cao chất lượng dịch vụ, hình thành các loại hình dịch vụ văn
hóa mới, hoàn thiện các dịch vụ theo hướng phục vụ và đáp ứng ngày càng tốt
hơn nhu cầu của con người. Vì vậy, nhiệm vụ của quản lý hoạt động dịch vụ văn
hóa là nhằm góp phần phát triển toàn diện đời sống tinh thần của cá nhân, làm
sao để phát triển mọi tiềm năng sáng tạo của con người, đưa con người đến với
các giá trị chân – thiện – mĩ.
Để đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế gắn với phát triển văn hóa mà
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã đề ra, trong quản lý nhà nước về dịch vụ
văn hóa cần giữ vững định hướng chính trị do Đảng cộng sản Việt Nam đã xác
định trong từng thời kì lịch sử. Định hướng chính trị của Đảng đối với văn hóa
qua những kỳ Đại hội Đảng gần đây đều nhằm vào những mục tiêu căn bản là
nhằm xây dựng và phát triển một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Trong định hướng ấy, thông qua nhiều văn kiện chỉ đạo khác nhau, Đảng đã
vạch ra phương hướng cụ thể cho nhiều lĩnh vực hoạt động văn hóa, giáo dục,
trong đó có các dịch vụ văn hóa.
Bên cạnh sự lãnh đạo của Đảng, mọi hoạt động văn hóa trong xã hội đều
phải đặt dưới sự quản lý của Nhà nước. Trách nhiệm quản lý của Nhà nước đối
với hoạt động văn hóa được thể hiện trên nhiều phương diện thực hành xã hội:
Nhà nước phải ban hành nhiều thể chế pháp luật, chính sách chế độ, để đảm bảo
cho lĩnh vực hoạt động văn hóa. Quản lý nhà nước đối với dịch vụ văn hóa
không đồng nghĩa với quan niệm “Nhà nước hóa” các hoạt động dịch vụ văn
hóa. Vì hoạt động dịch vụ văn hóa là thuộc quyền của nhiều chủ thể xã hội –
năm 90 của thế kỷ XX. Karaoke đã phát triển một cách nhanh chóng mạnh mẽ
và rộng lớn. Đó là một dịch vụ mang tính cộng đồng và đáp ứng nhu cầu giải trí
của cá nhân. Tuy nhiên đây là loại hình dịch vụ văn hóa mang nhiều tai tiếng
nhất thời gian quá. Cơ quan chức năng đã phát hiện nhiều loại hoạt động mại
dâm trong các quán karaoke trá hình. Ở nhiều địa phương, hoạt động của dịch
vụ karaoke nhức nhối đến nỗi các cơ quan quản lý Nhà nước đề xuất ngừng cấp
giấy phép kinh doanh cho dịch vụ này. Trong quá trình phát triển, do nhiều
nguyên nhân hoạt động kinh doanh karaoke đã có những biến tướng, đe dọa đến
sự phát triển lành mạnh của xã hội, làm băng hoại nhân cách của một bộ phận dân
chúng. Nhưng không phải cứ không quản lý được thì ra lệnh cấm mà vấn đề đặt
ra là: làm sao để hoạt động kinh doanh karaoke phát huy được mặt mạnh, ưu thế
của mình nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của quần chúng nhân dân.