BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ HUYÊN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỊCH VỤ VĂN HÓA
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI - NĂM 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ HUYÊN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỊCH VỤ VĂN HÓA
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Mã số : 0 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS. ĐẶNG THỊ MINH
HÀ NỘI - NĂM 2018
LỜI CAM ĐOAN
CLB
DVVH
HĐND
KDDVVH
NVH
NXB
TDTT
TT&TT
UBND
VHXH
VH&TT
VHTT&DL
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ DỊCH VỤ VĂN HÓA............................................................................................................ 9
1.1. Một số khái niệm và phân loại DVVH........................................................................... 9
1.1.1. Một số khái niệm................................................................................................................. 9
1.1.2.Phân loại dịch vụ văn hóa............................................................................................... 17
1.2. Sự cần thiết của quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa.......................................... 20
1.2.1.Do yêu cầu phải giữ gìn và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc......................................................................................................................... 20
1.2.2.Do tác động của quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu................................... 21
1.2.3.Do tính chất xã hội hóa hoạt động văn hóa.............................................................. 22
1.2.4.Do dịch vụ văn hóa cũng mang tính kinh doanh, vì lợi nhuận nên dễ cạnh
tranh không lành mạnh............................................................................................................... 23
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội.............................................................................................. 48
2.1.2.2. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế............................................................... 49
2.1.3. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội tác động tới quản lý
dịch vụ văn hóa.............................................................................................................................. 52
2.2. Tình hình phát triển các dịch vụ văn hóa trên địa bàn huyện Hoài Đức.........54
2.3. Thực trạng quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa trên địa bàn huyện Hoài
Đức..................................................................................................................................................... 56
2.3.1. Tổ chức triển khai thực thi các văn bản quy phạm pháp luật về văn hóa . 56
2.3.2. Triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch quản lý dịch vụ văn hóa..............58
2.3.3. Tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ công chức.................................. 59
2.3.4. Huy động nguồn lực để quản lý các Dịch vụ văn hóa........................................ 62
2.3.5.Thanh tra, kiểm tra, tổ chứcxử lý vi phạm pháp luật về kinh doanh các loại
hình dịch vụ văn hóa.................................................................................................................... 63
2.4. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa trên địa bàn huyện
Hoài Đức.......................................................................................................................................... 65
2.4.1. Ưu điểm................................................................................................................................ 65
2.4.2. Hạn chế................................................................................................................................. 68
2.4.3. Nguyên nhân hạn chế...................................................................................................... 76
Tiểu kết chương 2.......................................................................................................................... 77
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỊCH
VỤ VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ
NỘI..................................................................................................................................................... 78
3.1. Quan điểm, định hướng...................................................................................................... 78
3.1.1. Quan điểm của Đảng về quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa...................... 78
3.1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ xây dựng phát triển văn hóa, con người...................... 81
3.2. Định hướng, mục tiêu của địa phương về quản lý và phát triển các dịch vụ
văn hóa.............................................................................................................................................. 86
3.2.1. Thành phố Hà Nội............................................................................................................ 86
suất lao động. Định hướng con người đến các giá trị chân - thiện
- mỹ; tham gia vào việc lựa chọn con đường phát triển của cộng đồng.Vì vậy,
quản lý nhà nước về văn hóa phải được chú trọng đặc biệt và đòi hỏi các cán bộ
quản lý phải thực sự như Bác Hồ nói “vừa hồng vừa chuyên”.
Ngày nay, việc mở cửa giao lưu, hội nhập, quá trình toàn cầu hóa đã giúp
cho nhân loại có dịp gần nhau hơn, sự giao lưu và tiếp biến văn hóa ngày càng
diễn ra sâu sắc. Sự du nhập của văn hóa ngoại lai vào Việt Nam ngày càng đặt ra
nhiều vấn đề. Sức mạnh của văn hóa là rất lớn và tầm ảnh hưởng của nó cũng
vậy. Các thế lực thù địch luôn luôn ngấm ngầm chống phá chế độ ta nhất là trong
lĩnh vực văn hóa tư tưởng. Vì vậy,việc giữ gìn sự tôn nghiêm của pháp luật trên
mọi lĩnh vực cần được quan tâm bảo vệ đặc biệt là trên lĩnh vực văn hóa phải
được chú trọng. Tình trạng văn hóa phẩm đồi trụy, những ấn phẩm không được
lưu hành, tình trạng in, nhân bản băng đĩa lậu, vi phạm bản quyền tác giả đang
diễn ra khá phức tạp. Những trang quảng cáo, rao vặt có nội dung không lành
mạnh, những dịch vụ kinh doanh karaoke, vũ trường, massa,..đặt ra nhiều vấn đề,
những trò lừa bịp trên những trang web, chat, email,….chất lượng
các dịch vụ văn hóa kém, cơ sở kinh doanh vì chạy theo lợi nhuận mà quên đi các
giá trị truyền thống, giá trị nhân văn của văn hóa,…hay cách ăn mặt phản cảm
của thế hệ trẻ đến những việc làm, hành động, ứng xử gọi là “văn hóa” của thế hệ
trẻ hôm nay có những sự lệch lạc làm phai mờ bản sắc. Do vậy, vấn đề quản lý
nhà nước về văn hóa như thế nào để các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hoá đạt
chất lượng, đúng định hướng. Đây là những vấn đề đã và đang đặt ra cho các nhà
quản lý nhiều thách thức và yêu cầu cần giải quyết cấp bách để định hướng, chấn
chỉnh lại cho phù hợp với truyền thống tốt đẹp của ông cha ta, của văn hóa Việt
Nam.
Hiện nay, trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung và địa bàn huyện Hoài
Đức nói riêng do quá trình đô thị hóa, đời sống kinh tế xã hội của nhân dân ngày
đáng chú ý:
Nhóm thứ nhất: Đề tài nghiên cứu tư tưởng chính thống, tuyên truyền,
phân tích chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các văn bản của các cơ
quan chức năng về quản lý dịch vụ văn hóa. Ví dụ:
- Tác giả Lê Xuân Kiêu (2011), Từ quan điểm của Hồ Chí Minh về văn
hóa, suy nghĩ về nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc hiện nay, tạp chí Nghiên cứu Văn hóa – Trường ĐH Văn hóa Hà Nội. Tác giả
nêu quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa, về nhiệm vụ xây dựng nền
văn hóa dân tộc, phân tích thực trạng nền văn hóa nước ta hiện nay, nêu 5 quan
điểm xây dựng nền văn hóa dân tộc phù hợp với đường lối phát triển văn hóa mà
Đại hội Đảng lần thứ XI đã đề ra.
- Các tác giả của Viện văn hóa và phát triển, học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh, Giao sư Tiến sĩ Trần Văn Bính chủ biên, lý luận văn hóa và đường
lối văn hóa của Đảng, đã đề cập đến vai trò và một số nội dung về công tác lãnh
đạo quản lý văn hóa trong giai đoạn hiện nay.
Nhóm thứ hai: Đề tài nghiên cứu văn hóa trong mối liên hệ với kinh tế và
quản lý. Có thể kể đến như:
- Phạm Xuân Nam (chủ biên) (1996), Văn hóa và kinh doanh, NXB
KHXH đề cập đến mối quan hệ giữa văn hóa – kinh doanh, kinh doanh trong lĩnh
vực văn hóa, dịch vụ văn hóa và cả vấn đề hành vi văn hóa trong kinh doanh.
- Quản lý hoạt động văn hóa của tập thể tác giả Phan Văn Tú, Nguyễn Văn
Huy, Lê Thị Hiền, Trần Thị Diên, NXB Văn hóa Thông tin, HN 1998.
- Tập bài giảng bồi dưỡng kiến thức chuyên ngành quản lý văn hóa thông
lĩnh vực văn hóa, bước đầu nghiên cứu, khảo sát thực trạng quản lý nhà nước về
văn hóa về văn hóa cấp cơ sở ở một số địa phương. Tuy nhiên, cho đến nay chưa
có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề quản lý đối với hoạt
động dịch vụ văn hóa trên địa bàn huyện Hoài Đức trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về DVVH để đề
xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN về DVVH trên địa bàn huyện Hoài
Đức – Thành phố Hà Nội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài thực hiện các nhiệm vụ cơ
bản sau:
-
Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn QLNN về DVVH
-
Nghiên cứu làm rõ kinh nghiệm thực tiễn ở một số địa phương để rút ra
bài học kinh nghiệm cho huyện Hoài Đức.
-
Phân tích, đánh giá thực trạng QLNN về dịch vụ văn hóa ở huyện Hoài
Đức, làm rõ các ưu điểm, hạn chế trong QLNN về DVVH trên địa bàn
huyện Hoài Đức – Thành phố Hà Nội.
-
Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa
chủ trương chính sách pháp luật của Nhà nước để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ
mà đề tài đã đặt ra.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp từ sách, báo, tạp chí, các loại văn bản
hiện có: sưu tầm các tài liệu, văn bản nghiên cứu về dịch vụ văn hóa, trên cơ sở
đó phân tích và đưa ra số liệu và thông tin chính xác nhất.
- Phương pháp quan sát thực tế: đi thực tế và quan sát một số cơ sở kinh
doanh dịch vụ trên địa bàn huyện, cả các cơ sở đã được cấp giấy phép kinh doanh
hợp pháp và cả các cơ sở chưa đủ tiêu chuẩn cấp giấy phép.
- Phương pháp thống kê, phân loại: dựa vào bảng biểu tình hình phát triển
kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Hoài Đức, thống kê các số liệu có liên quan
đến đề tài.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận:
Phân tích và làm sáng tỏ những cơ sở lý luận về công tác quản lý nhà nước
về văn hóa, dịch vụ văn hóa.
Góp phần bổ sung những vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về
văn hóa cấp huyện, cung cấp các luận cứ khoa học cho việc nghiên cứu nhằm tiếp
tục xây dựng, hoàn thiện thể chế quản lý văn hóa cấp huyện ở huyện Hoài Đức
nói riêng và cấp huyện nói chung.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn:
- Đánh giá đúng thực trạng quản lý văn hóa tại UBND huyện Hoài Đức
trong những năm qua.
- Trên cơ sở đó, đề xuất mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cơ bản nâng cao
hóa nhưng cho đến nay mọi định nghĩa về văn hóa kể cả những định nghĩa uyên
bác nhất cũng đều chưa làm thỏa mãn người đọc. Bởi thế, những định nghĩa văn
hóa hiện đang được sử dụng trên thực tế cũng vẫn chỉ là những định nghĩa có tính
chất quy ước nhằm đi tới một khái niệm thỏa thuận để tiện sử dụng, do vậy định
nghĩa văn hóa vẫn cần phải được tiếp tục nghiên cứu.
Từ góc độ tiếp cận khác nhau về văn hóa, cho đến nay đã có hàng trăm
định nghĩa khác nhau về văn hóa. Hệ thống lý thuyết về văn hóa cũng vô cùng đa
dạng với nhiều trường phái và học thuyết khác nhau. Dưới đây là một số cách
nhận định cơ bản về văn hóa:
Nhà nhân học Anh, E.B. Tylor, là người đầu tiên trình bày định nghĩa về
văn hóa như một đối tượng nghiên cứu khoa học trong công trình Văn hóa
nguyên thủy xuất bản tại Luân Đôn, năm 1871, theo đó, ông cho rằng, văn hóa là
một tổng thể phức tạp, bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp
luật, phong tục và cả những năng lực, thói quen mà con người đạt được trong xã
hội.
Năm 1952, S.L. Kroeber và Kluckhohn xuất bả quyển sách Culture, a
critical review of concept anh definitions (Văn hóa, điểm lại bằng cái nhìn phê
phán các khái niệm và định nghĩa), trong đó tác giả đã trích lục khoảng 160 định
nghĩa về văn hóa do các nhà khoa học đưa ra ở nhiều nước khác nhau. Điều này
cho thấy, khái niệm “Văn hóa” rất phức tạp.
Theo tiếng Latinh, thuật ngữ “Văn hóa” có nghĩa là cày cấy, vun trồng và
gắn với hoạt động nông nghiệp cổ xưa. Nội dung của khái niệm văn hóa theo thời
gian dần được mở rộng, phát triển thành ý nghĩa vun trồng, vun đắp hoạt động
tinh thần của con người.
Văn hóa không phải là một thực thể tồn tại tự nó , tồn tại bên ngoài đời
sống con người và xã hội, văn hóa là hoạt động của con người, chứa đựng các tri
thức và kinh nghiệm nhằm tôn vinh, phát triển con người và làm cho xã hội có
tính người. Con người từ khi mới sinh ra đã phải tiếp nhận ảnh hưởng của môi
tinh thần của cả cả các hoạt động văn hóa nhằm tôn vinh, làm sản sinh, truyền bá
và thực hành các giá trị chân, thiện, mỹ, nhằm làm giàu tính người trong đời sống
đô thị
Đặc trưng tốc độ đô thị hóa của huyện Hoài Đức thì càng rõ nét hơn khi mà
người dân có nhu cầu sử dụng các dịch vụ văn hóa ở cấp cao hơn, hay chúng ta
có thể gọi đó là văn hóa thành thị. Sự tập trung dân cư phi nông nghiệp, hình
thành những quần thể kiến trúc theo kiểu bàn cờ, với quan hệ cư trú - ứng xử kết
cấu giản đơn hơn ở nông thôn rất nhiều đó là: gia đình – đường phố - xã hội. Nhu
cầu tiêu dùng của người ta tăng lên, đa dạng hơn và hướng tới sự khá giả. Vì vậy,
dịch vụ không thể thiếu đối với dân cư đô thị. Trong tổ chức đời sống văn hóa,
cộng đồng dân cư đô thị đã cơ bản khắc phục được tác phong sản xuất nhỏ, trì trệ,
luộm thuộm, manh mún; hình thành nên tác phong công nghiệp hiện đại; xây
dựng được ý thức chấp hành pháp luật, ý thức công dân và ý thức cá nhân.
Trong phạm vi luận văn này, hiểu thêm về văn hóa, văn hóa đô thị sẽ giúp
đưa ra cái nhìn chính xác hơn về trò, thực trạng cũng như giải pháp phù hợp để
nâng cao chất lượng công tác quản lý dịch vụ văn hóa trên địa bàn huyện Hoài
Đức nói riêng và thủ đô Hà Nội nói chung.
1.1.1.2.Khái niệm “Dịch vụ văn hóa”
- Dịch vụ: “Dịch vụ trong kinh tế học, được hiểu là những thứ tương tự
như hàng hóa nhưng là phi vật chất”. Dịch vụ là những hoạt động nhằm thỏa mãn
những nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt.
Ta có thể hình dung hơn về dịch vụ khi đặt nó trong mốt quan hệ so sánh
với hàng hóa. Sản phẩm hàng hóa là sản phẩm hữu hình có thể nhìn thấy được,
cầm nắm được, sản phẩm dịch vụ là sản phẩm vô hình, chỉ có thể cảm thấy,
không thể cất giữ hoặc sở hữu riêng, là những hoạt động phục vụ nhằm thỏa mãn
nhu cầu sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt của con người và xã hội.
tiếp cận ở những góc độ khác nhau. Do đó có nhiều quan niệm khác nhau nhưng
có điểm tương đồng là: coi dịch vụ văn hóa như một hoạt động đặc thù, là một
hình thức truyển tải các giá trị văn hóa tới khách thể - công chúng văn hóa, cụ
thể: Coi dịch vụ văn hóa là một tổ hợp các hình thức tổ chức lao động, nhằm đáp
ứng nhu cầu văn hóa của người dân thông qua các cơ sở dịch vụ văn hóa hoặc các
hình thức tổ chức, phương thức hoạt động của các thiết chế văn hóa khác.
Dịch vụ văn hóa như một hình thức cung cấp, không phải là hàng hóa vật
chất mà là cung cấp dịch vụ có hình thức kỷ luật riêng trong lĩnh vực văn hóa
nghệ thuật.
Qua các quan niệm đó có thể hiểu: “Dịch vụ văn hóa là một hoạt động đặc
thù, thông qua các cơ sở dịch vụ, các thiết chế văn hóa để đưa văn hóa đến với
công chúng một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa
của người dân”.
*Kinh doanh dịch vụ văn hóa: là các hoạt động nhằm tạo ra lợi nhuận cho
cá nhân, tổ chức từ sản phẩm văn hóa, dịch vụ văn hóa của cá nhân hoặc tổ chức
đó.
Có thể nói rằng hoạt động dịch vụ văn hóa gắn với quá trình phát triển của
nền kinh tế thị trường. Kinh thế thị trường phát triển sẽ tác động làm cho các hoạt
động dịch vụ văn hóa ngày càng phát triển phong phú, đa dạng. Các hoạt động
này tác động trực tiếp đến nhận thức và hành vi của người dân.
Hoạt động dịch vụ văn hóa trong xã hội càng phát triển thì nhu cầu hưởng
thụ của con người càng được đáp ứng. Thực tiễn ở nhiều quốc gia trên thế giới
cho thấy: trong sự tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, nếu như không đồng
bộ, không cân bằng thì sẽ rơi vào tình trạng khủng hoảng trong đời sống văn hóa
– tinh thần của toàn xã hội. Vì vậy, phát triển đa dạng và phong phú các hoạt
động dịch vụ văn hóa cũng là một trong những biện pháp tích cực để nâng cao
đời sống tinh thần, làm cho văn hóa xâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy văn hóa phát triển.
Quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa
Đối với quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa, ta cần xét trên góc độ văn
hóa gắn với kinh tế, vì dịch vụ là môt loại hàng hóa, và dịch vụ văn hóa trong đời
sống hiện đại không những góp phần thỏa mãn nhu cầu văn hóa của con người,
mà còn đóng góp ngày càng lớn vào sự phát triển kinh tế của đất nước. Quản lý
nhà nước về dịch vụ văn hóa là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa Quản lý nhà nước
về văn hóa và Quản lý nhà nước về kinh tế.
Quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa bao gồm hai mặt có liên quan chặt
chẽ với nhau:
- Quản lý hoạt động của các cơ quan, các thiết chế văn hóa kể cả chuyên
nghiệp và không chuyên nghiệp, thuộc thành phần Nhà nước hay ngoài Nhà
nước, từ các hoạt động sáng tạo, sản xuất đến các hoạt động bảo tồn và phân phối
các giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc và thế giới.
- Quản lý các hoạt động giao lưu văn hóa của con người trong xã hội, nhằm
tác động tới sự phát triển đời sống tinh thần của xã hội và cá nhân, đến sự hình
thành sư luận xã hội, đáp ứng nhu cầu văn hóa của con người.
Quản lý dịch vụ văn hóa một cách khoa học, hiệu quả là phải tiến hành
đồng bộ trong mối quan hệ biện chứng cả hai mặt nói trên. Mục tiêu chung là
hướng đến thỏa mãn tối đa nhu cầu, khát vọng về văn hóa, tinh thần của con
người, góp phần hình thành và phát triển những nhu cầu về văn hóa, tinh thần
mới, nâng cao chất lượng đời sống văn hóa tinh thần của xã hội từ chỗ đáp ứng
nhu cầu tối đa, làm phát sinh nhu cầu mới cao hơn, sẽ tác động ngược lại dẫn tới
yêu cầu phải nâng cao chất lượng dịch vụ, hình thành các loại hình dịch vụ văn
hóa mới, hoàn thiện các dịch vụ theo hướng phục vụ và đáp ứng ngày càng tốt
hơn nhu cầu của con người. Vì vậy, nhiệm vụ của quản lý hoạt động dịch vụ văn
hóa là nhằm góp phần phát triển toàn diện đời sống tinh thần của cá nhân, làm
sao để phát triển mọi tiềm năng sáng tạo của con người, đưa con người đến với
các giá trị chân – thiện – mĩ.
mạnh, văn minh, “góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc, giàu chất nhân văn, dân chủ, vươn lên hiện đại, phản ánh chân thật, sâu sắc
đời sống, lịch sử dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước”.
Vậy: “Quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa là sự quản lý của Nhà nước đối
với toàn bộ hoạt động dịch vụ văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của Nhà nước,
thông qua Hiến pháp, pháp luật và các cơ chế, chính sách, nhằm đảm bảo nền văn
hóa phát triển đúng định hướng mà Đảng và Nhà nước đề ra”.[29, tr307]
1.1.2.Phân loại dịch vụ văn hóa
Dưới tác động của quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu và giao lưu văn
hóa thế giới, đã xuất hiện nhiều loại hình văn hóa ở nước ta: karaoke, vũ trường,
băng đĩa nhạc, cà phê video, internet,… Các loại hình này càng phát triển nhằm
thỏa mãn nhu cầu về đời sống tinh thần của con người.
Chúng ta có thể làm rõ đặc trưng các hình thức dịch vụ văn hóa đang có
trên địa bàn huyện Hoài Đức như sau:
1.1.2.1.Hoạt động Karaoke:
Karaoke là một loại hình giải trí được du nhập vào Việt Nam từ những năm
90 của thế kỷ XX. Karaoke đã phát triển một cách nhanh chóng mạnh mẽ và rộng
lớn. Đó là một dịch vụ mang tính cộng đồng và đáp ứng nhu cầu giải trí của cá
nhân. Tuy nhiên đây là loại hình dịch vụ văn hóa mang nhiều tai tiếng nhất thời
gian quá. Cơ quan chức năng đã phát hiện nhiều loại hoạt động mại dâm trong
các quán karaoke trá hình. Ở nhiều địa phương, hoạt động của dịch vụ karaoke
nhức nhối đến nỗi các cơ quan quản lý Nhà nước đề xuất ngừng cấp giấy phép
kinh doanh cho dịch vụ này. Trong quá trình phát triển, do nhiều nguyên nhân
hoạt động kinh doanh karaoke đã có những biến tướng, đe dọa đến sự phát triển
lành mạnh của xã hội, làm băng hoại nhân cách của một bộ phận dân chúng.
Nhưng không phải cứ không quản lý được thì ra lệnh cấm mà vấn đề đặt ra là:
làm sao để hoạt động kinh doanh karaoke phát huy được mặt mạnh, ưu thế của