LỜI MỞ ĐẦU
Bất kì nhà nước nào cũng thực hiện song hành hai chức năng cai trị và phục vụ.
Cùng với xu thế đổi mới, sự phát triển của xã hội loài người thì chức năng phục vụ
được đặt lên hàng đầu, điều này đánh giá tính tích cực của một nhà nước nhất định.
Cung ứng DVCC nói chung và DVCI nói riêng là một trong những hoạt động thể
hiện chức năng phục vụ của nhà nước. Sự phát triển ngày càng cao của xã hội đòi hỏi
nhà nước phải cung ứng DVCI với chất lượng tốt, phục vụ nhu cầu của người dân, nâng
cao chất lượng cuộc sống, xây dựng hình ảnh địa phương văn minh, hiện đại. Ngược lại
muốn phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, tạo bộ mặt, điểm nhấn cho địa phương
thì không thể thiếu nhiệm vụ cung ứng DVCI.
Một nhà nước tốt không phải là nhà nước chăm chăm vào cung ứng DV HCC hay
phát triển kinh tế mà không chăm lo đến việc phục vụ nhu cầu người dân, đảm bảo điều
kiện sinh hoạt, nâng cao chất lượng cuộc sống, không cung ứng những dịch vụ để tạo
cuộc sống an toàn, tiện nghi cho nhân dân.
Có rất nhiều đề tài nghiên cứu về cung ứng DVC, DV HCC tuy nhiên mảng DVCI
cho dù rất quan trọng nhưng vẫn bị bỏ ngỏ;các đề tài nguyên cứu của Học viện, đặc biệt
là đề tài của sinh viên cuối khóa ít tập trung cho lĩnh vực này-DVCI gần như còn khá
mới.
Vì vậy sinh viên chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý nhà nước về dịch vụ công ích
trên địa bàn thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu”. Vì lý do DVCI bao gồm
nhiều lĩnh vực khác nhau: điện, nước, chiếu sáng, vệ sinh môi trường, cây xanh đô
thị,... Để đảm bảo bài báo cáo đúng theo hướng dẫn của bộ môn Quản lý công và đảm
bảo làm rõ về nội dung nên sinh viên tập trung vào hai mảng DV CSCC và DV VSMT.
Các phần cơ sở lý luận sinh viên phân tích theo khái niệm DVCI, tuy nhiên ở phần đánh
giá, giải pháp và những phần cần thiết có sự tách bạch 2 dịch vụ CSCC và VSMT thÌ
sinh viên tách riêng nhằm đảm bảo sát về nội dung từng loại DV cụ thể.
PHẦN 2: BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
I. TỔNG QUAN VỀ ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
Ủy ban nhân dân thành phố Vũng Tàu là cơ quan hành chính Nhà nước trước
tác dân tộc, ngoại vụ; tham mưu cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố về chỉ đạo,
điều hành của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố; cung cấp thông tin phục vụ quản lý
và hoạt động của Uỷ ban nhân dân và các cơ quan nhà nước ở địa phương; đảm bảo cơ
sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động của Uỷ ban nhân dân và thực hiện một số nhiệm vụ,
quyền hạn theo sự phân công của Uỷ ban nhân dân thành phố và theo quy định của
pháp luật.
1.1.3.
Nhiệm vụ, quyền hạn:
Giúp Uỷ ban nhân dân thành phố triển khai và tổ chức thực hiện Hiến pháp,
pháp luật, văn bản chỉ đạo của cấp trên tại địa phương. Đồng thời phối hợp, theo dõi,
kiểm tra, đôn đốc các xã, thị trấn và các cơ quan, đơn vị liên quan thực hiện các quyết
định, chỉ thị và văn bản chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân thành phố.
Tham mưu tổng hợp, xử lý thông tin phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo diều hành của
Uỷ ban nhân dân; thống nhất vệc biên tập, phát hành và lưu trữ các văn bản thuộc thẩm
quyền của Uỷ ban nhân dân thành phố
Tổ chức các hoạt động của Uỷ ban nhân dân thành phố trong chỉ đạo, điều hành
chung của bộ mấy hành chính Nhà nước; giúp Chủ tịch UBND thành phố tổ chức về
việc điều hòa, phối hợp hoạt động của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành
phố;
Tiếp nhận và tham mưu đề xuất Uỷ ban nhân dân thành phố giải quyết hồ sơ,
kiến nghị của các cơ quan, đơn vị; Trực tiếp quản lý Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hồ
sơ của tổ chức, công dân theo cơ chế một của, một cửa liên thông.
Tham mưu, giúp việc cho Uỷ ban nhân dân thành phố thuwch hiện công tác quản
lý Nhà nước về Dân tộc.
Giúp việc Uỷ ban nhân dân thành phố thực hiện công tác quản lý Nhà nước về
ngoại vụ.
Chuyên
viên
( thương
mại, dịch
vụ)
Chuyên
viên
( khiếu
nại- tố
cáo)
Chuyên
viên
( công tác
tổ chức, cải
cách hành
chính)
Phó CVP
Bộ phận kỹ thuật
tác nghiệp
Chuyên
viên
( nônglâm – ngư
nghiệp)
Về trình độ: đội ngủ cán bộ, công chức Văn phòng Uỷ ban có trình độ đại học là 10
người, chiếm tỉ lệ 43,5%, trình độ cao đẳng 1 người chiếm 4,3%, trình độ trung cấp 3
người chiếm 13%, còn lại là 9 người chiếm 39%.
1.4. Mối quan hệ giữa Văn phòng Uỷ ban nhân dân thành phố với các phòng,
ban chuyên môn và các cơ quan khác
Đối với Uỷ ban nhân dân thành phố: Văn phòng Uỷ ban nhân dân thành phố do
Uỷ ban nhân dân thành phố quyết định thành lập, là cơ quan chuyên môn trực thuộc và
chịu sự chỉ đạo trực tiếp và toàn diện của Uỷ ban nhân dân thành phố. Văn phòng Uỷ
ban nhân dân thành phố thực hiện đầy đủ chế độ thông tin báo cáo tình hình hoạt động
của văn phòng theo quy định.
Đối với Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh: Văn phòng Uỷ ban nhân dân thành
phố có trách nhiệm quan hệ chặt chẽ với Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh, Văn phòng
các sở, câc ngành của tỉnh để kịp thời nắm bắt thông tin, nhằm giúp Uỷ ban nhân dân
thành phố chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh
trên địa bàn thành phố đúng với quy định của Chính phủ, Uỷ ban nhân tỉnh và các cơ
quan quản lý nhà nước cấp trên. Hằng năm Văn phòng Uỷ ban nhân dân thành phố báo
cáo kết quả công tác cho Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh và Uỷ ban nhân dân thành
phố theo quy định.
Đối với Văn phòng Thành phố ủy: Văn phòng Uỷ ban nhân dân thành phố có
mối quan hệ phối hợp với Văn phòng Thành phố Uỷ để thực hiện các nội dung công
việc do Thành phố uỷ giao; chuẩn bị các nội dung báo cáo trình trước các kì họp Ban
chấp hành Đảng bộ thành phố, Ban thường vụ Thành phố ủy; nắm thông tin để xây
dựng lịch công tác của Chủ tịch, các Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố được
thống nhất, tránh chồng chéo.
Đối với các cơ quan, ban ngành và Uỷ ban nhân dân các xã, thị trấn:
Văn phòng Uỷ ban nhân dân thành phố có mối quan hệ phối hợp với các cơ quan,
ban ngành và Uỷ ban nhân dân các xã, thị trấn để thực hiện tốt các Quyết định, Chỉ thị
và văn bản chỉ đạo của UBND Thành phố.
xem xét; chuyển
cho chuyên viên
phụ trách
Công văn đến sẽ được bộ phận văn thư tiếp nhận, sau đó tiến hành đóng dấu văn
bản đến, ghi số, vào sổ. Việc này được tiến hành theo quy định thống nhất tại ...... Văn
thư chuyển văn bản cho lãnh đạo văn phòng. Lãnh đạo xem xét văn bản thuộc lĩnh vực
nào,lãnh đạo trực tiếp xử lý hoặc chuyển cho chuyên viên phụ trách.
Ví dụ: xã Bình Châu gửi công văn xin ý kiến chỉ đạo về quy hoạch, phát triển
ngành biển. Lãnh đạo văn phòng xem xét, có ý kiến chỉ đạo chuyên viên phụ trách lĩnh
vực nông-lâm-ngư nghiệp soạn công văn chỉ đạo. Văn bản đến này làm phát sinh văn
bản đi.
Quy trình quản lý công văn đi:
Từ một văn bản đến
Từ văn bản
kiến nghị, chỉ
đạo; từ nhiệm
vụ trên lĩnh
vực cụ thể
CVP xử lý,
chuyển cho
chuyên viên
soạn thảo văn
bản chỉ đạo
Lãnh đạo văn
II. TỔNG QUAN VỀ CHUYÊN ĐỀ BÁO CÁO
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Các khái niệm
Dịch vụ công
Theo nghĩa rộng, dịch vụ công là những hàng hoá, dịch vụ mà Chính phủ can
thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng. Theo đó, dịch vụ công
là tất cả những hoạt động nhằm thực hiện các chức năng vốn có của Chính phủ, bao
gồm từ các hoạt động bah hành chính sách, pháp luật, toà án… cho đến những hoạt
động y tế, giáo dục, giao thông công công.
Theo nghĩa hẹp, dịch vụ công được hiểu là những hàng hoá, dịch vụ phục vụ trực
tiếp nhu cầu của các tổ chức và công dân mà Chính phủ can thiệp vào việc cung cấp .
Dịch vụ công cộng
DVCC là từ thường được dùng để chỉ các dịch vụ mà chính phủ cung ứng cho các
công dân của mình, có thể là trực tiếp thông qua khu vực công hay là cấp tài chính cho
khu vực tư nhân cung ứng. Từ này kết hợp với một sự đồng thuận xã hội rằng một số
dịch vụ trong đó phải đến được với tất cả mọi người, bất kể thu nhập bao niêu. Cho dù
DVCC không phải do chính phủ cung ứng hay caapss tài chính đi nữa nhưng vì các lý
do xã hội và chính trị mà chúng vẫn có khuôn khổ pháp lý khác với phần lớn các ngành
kinh tế khác…và chúng có thể gắn với quyền cơ bản của con người (như quyền được
cấp nước).
DVCC là các hoạt động phục vụ các lợi ích chung tối cần thiết của cả cộng đồng,
do Nhà nước trực tiếp đảm nhận hay ủy nhiệm cho các cơ sở ngoài nhà nước thực
hiện nhằm bảo đảm trật tự và công bằng xã hội. DVCC nhằm tỏa mãn các nhu cầu
thiết yếu và quyền cơ bản của người dân trong việc hưởng thụ các của cải vật chất và
tinh thần của xã hội.
Xét trên giác độ kinh tế học, DVCC là các hoạt động cung ứng cho xã hội những
cộng đồng dân cư của một khu vực lãnh thổ mà Nhà nước cần bảo đảm vì lợi ích
chung hoặc đảm bảo quốc phòng an ninh;
- Việc sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ này theo cơ chế thị trường khó có
khả năng bù đắp chi phí;
-Được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đặt hàng, giao kế hoạch, tổ chức đấu thầu
theo giá hoặc phí do nhà nước quy định.
Dịch vụ vệ sinh môi trường
Dịch vụ vệ sinh môi trường là dịch vụ cần thiết cho người dân, đặc biệt với sự
phát triển ngày càng cao của xã hội hiện nay. Dịch vụ bao gồm thu gom rác thải, vệ
sinh đường phố, xử lý, tiêu hủy rác; đem lại môi trường sống an toàn cho người dân,
đáp ứng yêu cầu về mĩ quan đô thị. Rác thải ngày càng trở thành một vấn đề khiến
Chính phủ các nước phải quan tâm giải quyết. Đây là một nguồn phế thải được tạo ra
với tốc độ ngày càng lớn cùng với sự phát triển của đời sống công nghiệp hiện đại và
nhịp độ đo thị hóa. Việc thu gom và xử lý rác thải là một nhiệm vụ quan trọng để bảo
vệ và giữ vệ sinh môi trường.
Dịch vụ chiếu sáng công cộng
Dịch vụ CSCC: đây là lĩnh vực do nhà nước cung cấp, không có khả năng thu hồi
vốn. Nhà nước phải sử dụng vốn ngân sách để đáp ứng loại dịch vụ này. Nhưng trên
nguyên tắc dịch vụ trọn gói nhà nước có thể ký hợp đồng cho các doanh nghiệp khác
nhau để tổ chức cung cấp dịch vụ chiếu sáng trên các tiêu chuẩn kỹ thuật cụ thể.
2.1.2. Cơ sở pháp lý đối với hoạt động cung ứng dịch vụ công ích
hoạt động cung ứng DVCI ngày càng trở nên rất quan trọng cùng với sự phát triển
kinh tế-xã hội nên đã được nhà nước ta quan tâm, có những hướng dẫn, quy định rõ
ràng trong việc cung ứng DV. các văn bản quy định: Nghị định số 130/2013/NĐ-CP
của Chính phủ : Về sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích; nghị định số
56-CP của chính phủ quyđịnh về doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích;
2.1.3. Chủ thể cung ứng và đối tượng cung ứng dịch vụ công ích
2.2.1. Đơn vị cung ứng dịch vụ
Thực hiện chủ trương xã hội hóa, đổi mới hoạt động cung ứng DVCC của nhà
nước, các kế hoạch đổi mới của UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, UBND thành phố
Vũng Tàu cũng đã nỗ lực rất nhiều trong đổi mới hoạt động cung ứng DVCI nói
chung và DV CSCC và DV VSMT nói riêng; nâng cao hiệu quả của hoạt động cung
ứng, đáp ứng nhu cầu của người dân.
Hiện nay DV CSCC và DV VSMT trên địa bàn thành phố Vũng Tàu do công ty
Cổ phần Dịch vụ Đô thị và Công cộng Vũng Tàu chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý và
cung ứng dưới sự chỉ đạo của UBND thành phố Vũng Tàu và Phòng Kinh tế Hạ tầng.
Công ty CP DV Đô thị và Công cộng Vũng Tàu khi thành lập là công ty nhà
nước.nhưng về sau thì thực hiện cổ phần hóa. Hiện nay công ty thuộc sự quản lý của
UBND thành phố.
Công ty Cổ phần Dịch vụ Đô thị và Công cộng Vũng Tàu có trụ sở tại quốc lộ
55, khu phố Phước Hòa, thị trấn Phước Bữu. Công ty được thành lập vào năm 1997,
là công ty nhà nước. Đến năm 2009 thực hiện cổ phần hóa với 31% vốn nhà nước,
còn lại là vốn tư nhân.
2.2.2. Quy trình quản lý việc cung ứng dịch vụ
Từ sau khi thực hiện cổ phần hóa công ty Dịch vụ công ích Vũng Tàu thành công
ty Cổ phần Dịch vụ Đô thị và Công cộng Vũng Tàu đến đầu năm 2012, việc quản lý
DVCI về DV CSCC và VSMT được giao cho UBND các xã và thị trấn trên địa bàn
thành phố trực tiếp quản lý. Mọi hoạt động giám sát, kiểm tra, nghiệm thu việc cung
ứng DV đều do UBND các xã, thị trấn thực hiện. Các đơn vị này chịu trách nhiệm báo
cáo hoạt động cho UBND thành phố.
Bắt đầu từ cuối năm 2012 đến nay, quy trình quản lý DVCI có sự thay đổi, đó là
UBND thành phố, trực tiếp là phòng Kinh tế và Hạ tầng sẽ quản lý lĩnh vực này. Cụ
thể như sau.
Phòng Kinh tế và Hạ tầng trực tiếp kí hợp đồng với công ty cổ phần Dịch vụ Đô
thị và Công cộng Vũng Tàu. Công ty sẽ thực hiện cung ứng DV theo yêu cầu được
Phước Bửu, dọc tỉnh lộ 328, 329, tuyến đường ven biển Bình Châu. Hệ thống chiếu
sáng thuộc các xã do xã tự chi trả.
Về về sinh môi trường: thành phố thanh toán các khoản thu gom rác ở thị trấn
Phước Bửu cụ thể là đường quốc lộ 55, đường tỉnh lộ 328,329, đường số 5, đường số
8, 8 nhánh đường xương cá, đường khu tái định cư, đường số 4, khu vực Thành phố
ủy, UBND thành phố, Hội trường UBND thành phố; thành phố chi trả cho khoản vận
chuyển rác từ khu để rác tập trung tại các xã về hố chôn lấp tập trung,... Còn khoản
chi phí từ thu gom rác ở từng hộ gia đình do xã phụ trách, phân công và quản lý.
2.2.3. Thực trạng cung ứng dịch vụ chiếu sáng công cộng
Trong thời gian qua, cùng với sự nỗ lực của chính quyền địa phương, được sự
quan tâm của UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, CSCC trên địa bàn thành phố đã có
những thay đổi, tạo nên diện mạo mới cho toàn thành phố. Có thể nói hệ thống chiếu
sáng của thành phố đã khá hoàn thiện đáp ứng được nhu cầu của người dân địa
phương đồng thời xây dựng hình ảnh mới văn minh, hiện đại, không chỉ “sáng” mà
còn “đẹp”, đạt yêu cầu về thẩm mỹ.
Hệ thống chiếu sáng từ khi được lắp đạt được giao cho công ty Công ty Cổ phần
Dịch vụ Đô thị và Công cộng Vũng Tàu vận hành, chịu trách nhiệm theo dõi tình
hình chiếu sáng của cả hệ thống chiếu sáng trên toàn thành phố, báo cáo trực tiếp với
phòng Kinh tế và Hạ tầng thành phố.
Hiện tại trên địa bàn thành phố đã trang bị hệ thống chiếu sáng dọc các trục
đường chính của thành phố đó là: quốc lộ 55, tuyến đường 38, 39, Trần Phú,... Đường
bờ biển Lộc An, Hồ Tràm, Hồ Cốc và các trục đường chính ở khắp 12 xã trên toàn
thành phố. Hệ thống chiếu sáng hoạt động dọc các công trình giao thông với tổng
chiều dài hơn 265km trong đó có 160km đường nông thôn ở các xã, 55km tại thị trấn
Phước Bửu và 50km dọc đường bờ biển.
Theo thống kê của phòng Kinh tế và Hạ tầng thành phố, đến nay trên địa bàn
thành phố đã có 4012 điểm sáng chủ yếu tập trung ở trung tâm thành phố, các khu phố
tại thị trấn Phước Bửu, các trục đường chính tại các xã, đường bờ biển phục vụ cho du
Vệ sinh môi trường là vấn đề rất quan trọng cần được quan tâm hàng đầu vì nó
ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống, sức khỏe của người dân và mỹ quan. DV
VSMT mà được quan tâm đầu tư cung ứng sẽ đem lại hiệu quả tích cực, tạo bộ mặt
mới văn minh cho đô thị, sạch đẹp cho nông thôn.
Được sự quan tâm của UBND thành phố Vũng Tàu nên các dự án về VSMT, hoạt
động cung ứng DV này được đầu tư, hoạt động tốt và đem lại hiệu quả cao. Hiện tại
việc thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải do Công ty Cổ phần Dịch vụ Đô thị và
Công cộng Vũng Tàu thực hiện dưới sự quản lý trực tiếp của phòng Kinh tế và Hạ
tầng, UBND thành phố.
Theo báo cáo, mỗi ngày lượng rác thu gom được khoảng 9,5 tấn, chủ yếu là thu
gom từ khu dân cư, chợ thị trấn Phước Bửu và một số hôn ven tỉnh lộ 328. Trong đó:
Rác đường phố và rác thải khu dân cư: 7 tấn/ 1 ngày
Rác chợ thị trấn Phước Bửu: 2,5 tấn/ 1 ngày
Ngoài ra công ty nhận hợp đồng thu gom rác tại các chợ Bình Châu, Bưng Riềng
trung bình khoảng 40 tấn/ ngày. Cụ thể:
Chợ Bưng Riềng: 16 tấn/ tháng
Chợ Bình Châu: 24 tấn/ tháng
Ngoài ra rác từ khu du lịch ven biển khoảng 17 tấn/ngày. Rác tự quản ở xã Bầu Lâm
(15 tấn/tháng), xã Phước Thuận (30 tấn/tháng), các xã tự tổ chức thu gom và đổ vào
bãi rác. Lượng rác phát sinh còn lại ở khu vực nông thôn người dân tự thu gom xử lý
tại hộ gia đình.
Trước đây thành phố Vũng Tàu có bãi rác lộ thiên hoạt động từ năm 2000 với tổng
diện tích mặt bằng khoảng 6000 m 2, tiếp nhận toàn bộ lượng rác thải thu gom của
công ty Công trình Đô thị. Do thiết kế bãi rác không đáp ứng được việc xử lý rác thải
cả về quy mô và hiệu quả xử lý, gây ô nhiễm môi trường nên đến tháng 3/2012 đã
ngưng hoạt động chuyển qua bãi chôn lấp rác ở xã Bưng Riềng. Bãi chôn lấp này hoạt
động vào tháng 3/2012 với diện tích 4 ha. Phục vụ cho nhu cầu thu gom và xử lý rác
trên toàn địa bàn thành phố với tổng khối lượng ước tính 30 tấn/ ngày. Rác được xử lý
trung tâm thành phố, thị trấn Phước Bửu và các xã đã có những tiến bộ nhất định theo
hướng làm rõ trách nhiệm QLNN tách bạch với hoạt động cung ứng DV, tránh ôm
đồm bao cấp, từng bước nhân rộng mô hình cung ứng ngoài nhà nước và phát huy
tính tích cực của mô hình này.
Về dịch vụ chiếu sáng công cộng:
Việc cung ứng DV CSCC trên địa bàn thành phố Vũng Tàu trong nững năm gần
đây đạt kết quả đáng ghi nhận. Hệ thống chiếu sáng được lắp đặt, phủ khắp các tuyến
đường chính của thành phố. Đặc biệt ở thị trấn Phước Bửu, các tuyến đường hầu như
đã có đèn chiếu sáng kể cả đường quốc lộ, đường tỉnh lộ và các trục đường xương cá.
Ở các xã đèn chiếu sáng cũng đã được đầu tư lắp đặt, chủ yếu tập trung ở trung tâm
xã, UBND, chợ, khu vui chơi, những điểm dân cư đông đúc,...
Nhìn chung hệ thống đèn được trang bị đều đáp ứng yêu cầu chiếu sáng, đó là
loại đèn cao áp đơn hoặc đôi, cho ánh sáng dễ chịu không bị lóa mắt người nhìn.
Ngoài chức năng “ sáng”, hệ thống đèn cũng rất “ hợp thẩm mỹ”, đáp ứng yêu cầu về
mặt mỹ thuật,cảnh quan.
Chiếu sáng trang trí cũng rất được UBND thành phố quan tâm, cho lắp đặt đặc
biệt vào những ngày lễ tết. Trướcvà sau tết khoảng một tháng, ở trung tâm thành phố
Vũng Tàu rực rỡ với những ánh đèn được trang trí bằng các biểu tượng, hình thù rất
đẹp. Điều này đã tạo được điểm nhấn cho thành phố, đem lại hiệu quả về mặt thẩm
mỹ, phục vụ văn hóa “ nhìn” của người dân đặc biệt cũng góp phần thu hút khách du
lịch cho 1 thành phố với dịch vụ du lịch khá phát triển như Vũng Tàu.
Chiếu sáng không gian công cộng cũng được quan tâm đầu tư. Các điểm công
viên, trường học, bệnh viện, các khu vui chơi giải trí đã được trang bị hệ thống chiếu
sáng. Việc này tạo nên không gian sinh hoạt công cộng một cách an toàn, hạn chế
được các tệ nạn xã hội, đảm bảo nhu cầu học tập, vui chơi giải trí của người dân.
Đánh giá chung thì hệ thống chiếu sáng ở thành phố Vũng Tàu đã khá hoàn thiện,
cho thấy sự quan tâm đầu tư của cấp quản lý. Bộ mặt thành phố như được khoác lên
mình tấm áo mới, đẹp đẽ hơn. Việc này nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân,
Tại các xã đều có điểm để rác tập trung, rác sinh hoạt trên địa bàn mỗi xã được
tập trung tại điểm này, sau đó công ty công trình đô thị sẽ tiến hành xúc rác chở về bãi
chôn lấp tại xã Bưng Riềng theo định kì hàng tuần. Việc quy hoạch bãi rác tập trung
tại mỗi xã đem lại hiệu quả cao trong bảo vệ môi trường sống. Người dân tập quen
dần với việc bỏ rác đúng nơi quy định, không vứt rác tùy tiện gây ô nhiễm; việc này
cũng giúp cho việc thu gom rác thuận tiện, tiết kiệm thời gian, công sức và chi phí.
Ở các xã, việc thu gom rác ở từng hộ dân được khoán cho cá nhân hoặc đơn vị
nhất định. Việc này giúp nâng cao hiệuquả của dịch vụ, nhà nước không còn đưa cánh
tay dài của mình để ôm đồm tất cả mọi việc. Việc ôm đồm quá nhiều việc không bao
giờ đưa lại hiệu quả cho từng việc cụ thể. Vì vậy mở rộng chủ thể cung ứng dịch vụ
công ích là yêu cầu tất yếu.
Công ty nhận hợp đồng với UBND thành phố trong việc cung ứng dịch vụ trước
đây là công ty 100% vốn nhà nước nhưng nay đã được cổ phần hóa còn 31% vốn nhà
nước. Đây là một bước tiến tích cực trong quá trình quản lý cũng như cung ứng DVCI
nói chung. Việc thay đổi này cũng dẫn theo thay đỗi trong cách làm việc, có những
sáng tạo mới đem lại hiệu quả đáng ghi nhận. Ngoài ra UBND thành phố cũng kí hợp
đồng với một số công ty, cá nhân để cung ứng DV. Không còn sự độc chiếm về cung
ứng nên đòi hỏi chất lượng dịch vụ phải được nâng lên, tính cạnh tranh ngày càng
cao.
2.3.2. Mặt chưa đạt được
Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được thì việc cung ứng DVCI trên địa
bàn thành phố Vũng Tàu vẫn còn những hạn chế:
Về dịch vụ chiếu sáng công cộng
Trên địa bàn thành phố hệ thống chiếu sáng ở một số nơi đã xuống cấp do đã
được trang bị từ lâu hoặc lúc trang bị ko lựa chọn những loại đèn tốt. Các cột đèn
không đồng đều nhau về khoảng cách. Hệ thống chủ yếu đầu tư ở thị trấn, các trục
đường chính, vùng nông thôn vẫn còn nhiều vùng chưa có chiếu sáng. Theo quan sát
thực tế nhiều bóng đèn đã hỏng, không sáng được nữa; đặc biệt có những bóng đèn vỡ
thị.
Một thành phố còn đậm tính “ nông thôn” như Vũng Tàu thì vấn đề vệ sinh môi
trường còn rất khó để bảo đảm. Một phần do cơ quan quản lý còn quan niệm đây chưa
phải là “ trọng tâm” vì một thành phố phát triển kinh tế sẽ được xem là “ giỏi” hơn
thành phố có dịch vụ vệ sinh môi trường tốt. Mặt khác người dân vẫn nặng quan niệm
“ cthành phố của ông nhà nước” nên gần như không có sự tham gia nào để nhà nước
“tự tính, tự lo” trong khi chính người dân là người thụ hưởng.
2.3.3. Nguyên nhân của mặt chưa đạt được về cung ứng dịch vụ công ích
2.3.3.1. Nguyên nhân khách quan
- Nười dân và cả chính quyền địa phương chưa nhận thức đầy đủ đối với vai trò
và tầm quan trọng của DVCI nói chung DV CSCC và VSMT nói riêng. Người dân
cho rằng với cuộc sống chưa được cải thiện như hiện nay thì việc mỗi năm chi tiền tỷ
cho các dịch vụ trên là lãng phí và tiền đó đem “ chia đều cho dân còn hơn”.
- Ngân sách nhà nước đầu tư cho DVCI còn chưa đáp ứng được nhu cầu đầu tư.
Hằng năm ngân sách chi cho DVCI chủ yếu để duy trì hoạt động, sữa chữa bảo
dưỡng, còn lắp đạt hay thay mới rất hạn chế, chủ yếu tập trung ở thị trấn mặc dù nhu
cầu lắp mới rất nhiều.
- Ý thức của người dân trong việc bảo quản tài sản chung này chưa cao. Cho dù
người dân là người trực tiếp thụ hưởng nhưng họ xem các loại tài sản phục vụ cho
DVCI này là của nhà nước, “ của chùa” nên nhiều khi vui tay thì đập vỡ hoặc lấy cắp.
- Các điều kiện tự nhiên về vị trí địa lý, đặc điểm phân bố dân cư làm cho việc
cung ứng các DV cũng gặp nhiều khó khăn. Các điều kiện về tự nhiên, thiên nhiên
cũng không ngoại lệ, như gió bão, nắng nóng,..cũng gây hư hại cho hệ thống cơ sỏ vật
chất.
2.3.3.2. Nguyên nhân chủ quan
- Do chưa có quy hoạch tổng thể, dài hạn cho việc đầu tư các điều kiện cần thiết
cho việc cung ứng DVCI. Việc đầu tư các trang thiết bị cho cung ứng dịch vụ còn
mang tính “ thời vụ”. Có nghĩa là khi nào cần thì mua hoặc khi nào có kinh phí thì
tốt khi khung pháp lý hoàn chỉnh, có đủ cơ sở, căn cứ cho việc quản lý được tiến hành
thuận lợi, rõ ràng, nhất quán.
Trao thẩm quyền đồng thời gán trách nhiệm cụ thể cho cơ quan quản lý và cung
ứng DV. Có biện pháp chế tài để đảm bảo việc ngăn ngừa, xử lý tốt các hành vi vi
phạm hoạt động quản lý và cung ứng DV.
Ban hành các tiêu chuẩn về chất lượng DV, tránh việc cung ứng DV một cách
“đại khái” mang tính cơ bản, thiết yếu, chưa chủ động đổi mới để có hệ thống cung
ứng DV tốt nhất đem lại hiệu quả cao nhất dẫn tới trường lợp “ dân la mới làm”; tránh
làm iệc theo kiểu rập khuôn luôn giữ khư khư cách làm “ cổ điển” kém năng động,
không phù hợp với điều kiện xã hội ngày càng phát triển.
Hai là: Đổi mới phương thức cung ứng DV
Xã hội hóa dịch vụ là quá trình mở rộng sự tham gia của các chủ thể xã hội và
tăng cường vai trò của nhà nước đối với DV.
Việc nhà nước bao cấp đã làm phát sinh nhiều mâu thuẫn: mâu thuẫn giữa khoản
kinh phí bao cấp quá lớn với ngân sách nhà nước còn hạn hẹp; mâu thuẫn giữa khối
lượng cung ứng với năng lực của bộ máy nhà nước; mâu thuẫn giữa sự phát triển
nhanh của nền kinh tế với khả năng cung ứng có hạn của nhà nước.
Trước đây, DV CSCC và DV VSMT do nhà nước cung cấp, nhưng nay đã lỗi
thời. nhà nước không đủ sức đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các tổ chức và công
dân, do vậy buộc phải xã hội hóa trong lĩnh vực này với các lý do sau:
Thứ nhất: việc chuyển giao hoạt động cung ứng DV cho các cơ sở ngoài nhà
nước sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh, tạo điều kiện cho người tiêu dùng lựa chọn và
sử dụng những loại dịch vụ tốt nhất.
Thứ hai: xét cho cùng việc tư nhân cung ứng DV sẽ tốt hơn, tốc độ nhanh hơn,
nhân viên làm việc nhiệt tình, chất lượng DV tốt hơn.
Thứ ba: xã hội hóa DV ( CSCC vàVSMT) nhằm để huy động mọi nguồn lực xã
hội đáp ứng nhu cầu cho người dân. Tạo điều kiện cho mọi người tham gia tích cực
vào các hoạt động này, phát huy năng lực của xã hội; khơi dậy tính sáng tạo, huy động
hợp với các phòng, ban, xã, phường, thị trấn và các đơn vị có liên quan nghiên cứu
lập quy hoạch chiếu sáng đô thị.
Xây dựng hệ thống chiếu sáng khoa học, hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả; ưu tiên cho
những nhiệm vụ cấp bách; tổ chức thực hiện một cách đồng bộ thống nhất hệ thống
chiếu sáng đã được quy hoạch.
Việc xây dựng quy hoạch hệ thống đem lại những lợi ích lớn: giúp hỗ trợ
phát triển các hoạt động kinh tế- xã hội của địa phương, ổn định và nâng cao chất
lượng cuộc sống cho người dân; giúp sử dụng năng lượng có hiệu quả hơn, tiết kiệm
tối đa nhưng vẫn đảm bảo việc chiếu sáng đầy đủ; giúp hạn chế ảnh hưởng xấu đến
môi trường vì không phải chiếu sáng nhiều là tốt, không có quy hoach dễ dẫn đến việc
“ ô nhiễm”, ánh sáng chói lóa, dùng tùy tiện các đèn có công suất lớn gây ảnh hưởng
đến tâm lý và sức khỏe của người dân. Hệ thống chiếu sáng ngoài việc “ sáng” còn
phải chú trọng đến mĩ quan, và đáp ứng tính mĩ thuật.
Đối với DV vệ sinh môi trường:
Quy hoạch hệ thống VSMT phải phù hợp với yêu cầu, mục tiêu phát triển đô thị
tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu và của UBND thành phố Vũng Tàu.
Phòng Kinh tế và Hạ tầng có nhiệm vụ quản lý quy hoạch hệ thống, phối hợp với
các ban ngành liên quan lập quy hoạch đảm bảo cho việc cung ứng DV hiệu quả,