Thi hành luật tổ chức chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính cấp huyện từ thực tiễn huyện gia lâm, thành phố hà nội - Pdf 69

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

………/………

…../…..

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THỊ UYÊN

THI HÀNH LUẬT TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN
ĐỊA PHƢƠNG Ở ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CẤP HUYỆN TỪ THỰC TIỄN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

HÀ NỘI – 2019
BỘ GIÁO
DỤC VÀ
ĐÀO TẠO


BỘ NỘI VỤ
…../…..

………/………

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THỊ UYÊN

luận văn.
Học viên xin bày tỏ lòng biết ơn đối với Ban Giám đốc, các thầy, cô
giáo của Học viện Hành chính quốc gia đã tận tình, chu đáo trong quá trình
giảng dạy và truyền đạt kiến thức cho học viên. Xin cảm ơn toàn thể cán bộ,
nhân viên của Học viện Hành chính quốc gia đã tạo những điều kiện thuận lợi
nhất cho tác giả trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành chƣơng
trình cao học.
Xin chân thành cảm ơn UBND huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội đã
nhiệt tình cung cấp số liệu, tài liệu cho tôi hoàn thiện luận văn.
Tuy đã có nhiều cố gắng trong nghiên cứu hoàn thành luận văn, nhƣng
do thời gian và năng lực có hạn nên chắc luận văn không thể tránh khỏi những
thiếu sót. Kính mong nhận đƣợc sự góp ý của các thầy, cô giáo, của đồng
nghiệp và các bạn học viên để luận văn đƣợc hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 9 năm
2019
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Uyên


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THI HÀNH

PHÁP LUẬT VÀ


2.2.2. Thi hành pháp luật về hoạt động điều hành của Hội đồng nhân dân huyện Gia
Lâm......................................................................................................................... 46
2.2.3. Đánh giá chung về thi hành pháp luật tổ chức và hoạt động của Hội đồng
nhân dân huyện Gia Lâm........................................................................................ 56

2.3. Thực trạng về thi hành Luật tổ chức chính quyền địa phƣơng đới với tổ
chức và hoạt động Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm.....................................60
2.3.1. Thi hành pháp luật về cơ cấu, tổ chức của Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm 60

2.3.2. Thi hành pháp luật về hoạt động điều hành Ủy ban nhân dân huyện Gia
Lâm......................................................................................................................... 65
2.3.3. Đánh giá chung về thi hành thi hành pháp luật tổ chức và hoạt động của Ủy
ban nhân dân huyện Gia Lâm.................................................................................. 67

Chƣơng 3. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VIỆC THI
HÀNH LUẬT TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƢƠNG Ở ĐƠN VỊ
HÀNH CHÍNH CẤP HUYỆN VÀ CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƢƠNG HUYỆN

GIA LÂM........................................................................................................72
3.1. Phƣơng hƣớng nâng cao việc thi hành Luật tổ chức chính quyền địa
phƣơng ở đơn vị hành chính cấp huyện......................................................... 72
3.1.1. Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền địa phƣơng cấp huyện .. 72

3.1.2. Đổi mới, nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của chính quyền địa phƣơng
cấp huyện................................................................................................................ 75
3.1.3. Nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức của hệ thống chính quyền địa
phƣơng cấp huyện cũng nhƣ của toàn hệ thống chính trị....................................... 76

3.2. Giải pháp nhằm hoàn thiện việc thi hành Luật tổ chức chính quyền địa
phƣơng ở đơn vị hành chính cấp huyện......................................................... 77

Đồ thị 2.1. Số lƣợng văn bản quản lý nhà nƣớc của Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn

thuộc huyện Gia Lâm ban hành từ năm 2016 - 6/2019 .............................................


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận văn
Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, chính quyền nhà nƣớc ta dƣới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản đƣợc thành lập theo hình thức chính thể dân chủ
cộng hòa, một chính quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và nguyên
tắc này tồn tại cho đến ngày nay. Trải qua gần 70 năm hình thành và phát
triển; với vai trò và nhiệm vụ trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau, chính
quyền địa phƣơng (CQĐP) luôn xứng đáng là ngƣời đại biểu trung thành của
nhân dân, luôn giữ đƣợc bản chất cách mạng tiến bộ, góp phần không nhỏ tới
công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Trong những năm gần đây, cùng với xu thế và chủ trƣơng chung của
Đảng, Nhà nƣớc, việc cải cách bộ máy nhà nƣớc và cải cách nền hành chính
đƣợc đặc biệt quan tâm. Các chủ chƣơng, chính sách và các nỗ lực hoàn thiện hệ
thống pháp luật đƣợc đƣa ra bƣớc đầu đã phần nào đáp ứng đƣợc yêu cầu của
việc cải cách. Các nghị quyết của Đảng cũng nhƣ Chƣơng trình tổng thể cải
cách hành chính đã thể hiện rõ quyết tâm đổi mới tổ chức, hoạt động của CQĐP,
xác định các nội dung cải cách: “Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
trách nhiệm của từng cấp CQĐP; đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động của
Hội đồng nhân dân (HĐND) và Uỷ ban nhân dân (UBND) các cấp; đổi mới
phương thức lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với HĐND và UBND các cấp”
[Nghị quyết số 30C/NQ-CP ngày 08/11/2011 và Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày
13/6/2013 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 30C/NQ-CP của
Chính phủ]. Tuy nhiên, trên thực tế việc cải cách tổ chức và hoạt động của
CQĐP diễn ra khá chậm và thiếu đồng bộ, còn nhiều lúng túng, vƣớng mắc
trong cả nhận thức lẫn triển khai tổ chức thực hiện. Hoạt động giám sát còn

theo quy định, HĐND đã có những cải tiến, đổi mới nhất định về cơ cấu tổ chức
cũng nhƣ về phƣơng thức hoạt động, thực hiện ngày càng tốt hơn các nhiệm vụ,
quyền hạn của mình. Kỳ họp đã có những cải tiến cả về công tác chuẩn bị nội
dung, cách thức điều hành, trình tự và thủ tục tiến hành nên chất

2


lƣợng đƣợc nâng lên. Công tác giám sát có những chuyển biến tích cực, có
trọng tâm, trọng điểm, đã kịp thời phát hiện các thiết sót, bất cập, vƣớng mắc
và đƣa ra đƣợc kiến nghị khả thi. Việc quyết định các vấn đề quan trọng của
địa phƣơng ngày càng thực chất hơn, khả thi hơn, giảm bớt tính hình thức, đã
đi vào thực tế. Các hoạt động tiếp xúc cử tri, tiếp công dân đã góp phần gắn
kết mối quan hệ giữa cử tri và đại biểu, phản ánh đƣợc nhiều tâm tƣ, nguyện
vọng, ý kiến của cử tri tới HĐND - UBND.
Trƣớc yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nƣớc, hội nhập kinh tế quốc
tế, nhất là yêu cầu xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân,
do dân, vì dân. Đồng thời với việc thi hành Luật Tổ chức chính quyền địa
phƣơng, hoạt động của chính quyền ở huyện Gia Lâm vẫn còn nhiều vấn đề
bất cập về thể chế; mô hình tổ chức bộ máy và phƣơng thức hoạt động của
chính quyền huyện còn nhiều điểm chƣa hợp lý; sự phân cấp cho chính quyền
huyện còn thiếu cụ thể; số lƣợng định biên và cơ cấu chức danh công chức
huyện còn cứng nhắc, nơi thiếu, nơi thừa; chƣa có sự phân công rõ ràng, rành
mạch thẩm quyền, trách nhiệm của cá nhân và tập thể… Đây chính là những
nguyên nhân làm hạn chế hiệu lực và hiệu quả hoạt động của chính quyền
huyện trong bối cảnh mới.
Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, học viên xin đƣợc lựa chọn đề tài:
“Thi hành Luật tổ chức Chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính cấp
huyện - Từ thực tiễn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội” làm đề tài luận
văn tốt nghiệp của mình, để qua đó nghiên cứu và đƣa ra đƣợc một số biện

Cuốn “Kinh nghiệm xây dựng và quản lý chính quyền các cấp trong

lịch sử” của tác giả Văn Tạo gồm 5 chƣơng, đề cập cụ thể và rõ ràng về các
vấn đề lý luận chung về CQĐP; lịch sử phát triển của chính quyền cơ sở; kinh
nghiệm lịch sử về xây dựng, quản lý chính quyền cấp huyện. Đặc biệt là tác
giả đã phân tích đƣợc những nét đặc trƣng của việc xây dựng chính quyền
huyện trong lịch sử và hiện tại; phân tích, đánh giá những tồn tại, hạn chế của
chính quyền nông thôn để từ đó luận giải các phƣơng hƣớng, giải pháp đổi
mới tổ chức và hoạt động của chính quyền huyện.
giả

Trong cuốn “Tìm hiểu về chính quyền địa phương các cấp”, tác

Nguyễn Kim Thoa tập trung giới thiệu về cơ cấu tổ chức và hoạt động của
CQĐP các cấp, quyền hạn và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức cơ
sở trong việc thực hiện quyền lực nhà nƣớc. Cuốn sách cũng tập trung phân
tích sâu về thẩm quyền của HĐND, UBND huyện trong việc giải quyết theo

4


Luật đất đai, Luật Giáo dục, Luật xây dựng, Luật khiếu nại tố cáo…Qua đó
giúp ngƣời đọc nhận thức sâu sắc hơn về vị trí, vai trò của HĐND và UBND
trong bộ máy chính quyền địa phƣơng các cấp.
-

Có khá nhiều luận văn thạc sỹ nhƣ: “Đổi mới tổ chức và hoạt động

của chính quyền huyện thuộc TP Hà Nội trong giai đoạn hiện nay (Qua
nghiên cứu thực tiễn huyện Đông Anh)” của tác giả Nguyễn Văn Quang [94];

Các bài viết trên đã đề cập đến nhiều nội dung, nhƣng các quan điểm
chủ đạo đƣợc đƣa ra bao gồm: Thứ nhất, CQĐP các cấp không thể làm tất cả
mọi việc giống nhƣ một nhà nƣớc thu nhỏ trên địa bàn. Thứ hai, trong việc tổ
chức quyền lực nhà nƣớc, CQĐP các cấp hiện nay có vai trò lớn hơn, thiết
thực hơn và chủ động hơn việc tổ chức quản lý các mặt đời sống kinh tế - xã
hội trên địa bàn. Thứ ba, mặc dù đƣợc nghiên cứu và đổi mới không ngừng,
việc thực thi quyền lực nhà nƣớc tại địa phƣơng vẫn còn nhiều bất cập.
Những nghiên cứu này có giá trị tham khảo lớn để phân tích, đánh giá, đề
xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện trong mối quan hệ giữa chính quyền
huyện và chính quyền các cấp trong tổng thể nền hành chính.
Nhìn chung, các đề tài, công trình, bài viết nêu trên đã phân tích khá toàn
diện cơ sở lý luận - thực tiễn cũng nhƣ bƣớc đầu đề xuất các quan điểm,
phƣơng hƣớng, giải pháp đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà
nƣớc nói chung và của chính quyền địa phƣơng ở nƣớc ta nói riêng. Tuy nhiên,
liên quan đến vấn đề này, hiện vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau cả về phƣơng
diện nhận thức cũng nhƣ tổ chức thực hiện; quan hệ giữa mô hình đổi mới của
CQĐP với các tổ chức trong hệ thống chính trị đang hoạt động ở đơn vị hành
chính - lãnh thổ chƣa đƣợc làm rõ; lộ trình cải cách và điều kiện thực hiện còn
có nhiều ý kiến khác nhau; nhiều phƣơng án cải cách mô hình tổ chức và hoạt
động của CQĐP đƣợc nêu ra nhƣng thực sự vẫn chƣa đủ cơ sở thuyết phục, do
đó chƣa áp dụng đƣợc vào thực tiễn. Vì vậy, trên thực tế, vấn đề xây dựng và
hoàn thiện CQĐP vẫn đang rất đƣợc quan tâm của các nhà khoa học, nhà lãnh
đạo, quản lý cũng nhƣ ngƣời dân. Việc đổi mới tổ chức và hoạt động của CQĐP
không chỉ nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của các cấp CQĐP mà còn
góp phần giải quyết căn bản mối quan hệ căn bản giữa chính quyền nhà nƣớc
với nhân dân, tạo ra động lực quan trọng cho quá trình đẩy mạnh toàn diện công
cuộc đổi mới đất nƣớc trong thời gian tới.

6


chế, nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm.
4.

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng
Luận văn tập trung nghiên cứu cụ thể là đối với HĐND và UBND

huyện về thi hành Luật tổ chức chính quyền địa phƣơng nói chung và tại
huyện Gia Lâm nói riêng.
* Phạm vi nghiên cứu
-

Về không gian: Luận văn nghiên cứu trong phạm vi các đơn vị hành

chính huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.

7


Về thời gian: Luận văn nghiên cứu trong nhiệm kỳ 2016 2021.
5.

Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
* Phương pháp luận
Luận văn dựa trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc ta về tổ chức
bộ máy nhà nƣớc nói chung và đổi mới mô hình chính quyền địa phƣơng nói
riêng đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nƣớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân
trong điều kiện phát triển kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và

thành phố Hà Nội.
7.

Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo. Nội dung chính của

luận văn bao gồm 3 chƣơng:
Chương 1. Những vấn đề chung về thi hành pháp luật và thi hành Luật
Tổ chức Chính quyền địa phƣơng ở đơn vị hành chính cấp huyện.
Chương 2. Thực trạng việc thi hành Luật tổ chức chính quyền địa phƣơng
ở đơn vị hành chính cấp huyện - Từ thực tiễn huyện Gia Lâm, thành phố
Hà Nội. Chương 3. Phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao việc thi hành
Luật Tổ

chức chính quyền địa phƣơng ở đơn vị hành chính cấp huyện và chính quyền
địa phƣơng huyện Gia Lâm.

9


Chƣơng 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THI HÀNH PHÁP LUẬT
VÀ THI HÀNH LUẬT TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƢƠNG
Ở ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CẤP HUYỆN
1.1. Những vấn đề chung về thi hành pháp luật
1.1.1. Khái niệm về thi hành pháp luật
Con ngƣời với tƣ cách là một một thực thể xã hội đƣợc hình thành bởi xã
hội, quan hệ xã hội. Và, xã hội cũng sẽ không tồn tại, phát triển nếu không có sự
giao tiếp giữa ngƣời với ngƣời bằng ngôn ngữ. Vì vậy, để có cơ sở tiếp cận khái
niệm THPL trƣớc hết cần tiếp cận nội dung này dƣới góc độ ngôn ngữ:


Thi hành pháp luật;

Sử dụng pháp luật là khả năng của các chủ thể pháp luật có thể sử dụng

khai thác hay không sử dụng, khai thác, hƣởng quyền mà luật dành cho mình;

-

Áp dụng pháp luật là hoạt động của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền

dựa trên các quy định pháp luật để giải quyết, xử lý những vấn đề thuộc trách
39 nhiệm của mình.
Từ điển tiếng Việt năm 2011 do Hoàng Phê chủ biên, định nghĩa “thi
hành pháp luật là làm các quy phạm do nhà nước ban hành có hiệu lực nhằm
điều chỉnh các quan hệ xã hội, bảo vệ trật tự xã hội” [98, tr.1458]. Trong đó,
-

Pháp luật là những quy phạm hành vi do nhà nƣớc ban hành, mọi

công dân buộc phải tuân theo, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và bảo vệ
trật tự xã hội;
Thi hành là làm cho thành có hiệu lực điều đã đƣợc chính thức
quyết định;

Thực hiện là làm cho trở thành sự thật bằng những việc làm
hoặc
hành động cụ thể hoặc làm theo trình tự, phép tắc nhất định.
Nhƣ vậy, dƣới góc độ ngôn ngữ nội hàm của khái niệm thi hành pháp
luật là hoạt động đảm bảo hiệu lực các quy phạm pháp luật trong thực tế. Nội


việc thi hành Hiến pháp và pháp luật”, Thủ tƣớng Chính phủ có thẩm quyền
“Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết
của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, Chính
phủ ra nghị quyết, nghị định, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định, chỉ thị và
kiểm tra việc thi hành các văn bản đó” [Khoản 2, Điều 11, Điều 115].
-

Hiến pháp năm 2013 quy định: Chính phủ “tổ chức thi hành Hiến

pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban
thường vụ Quốc hội, Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước”, Thủ tướng Chính
phủ có nhiệm vụ “tổ chức thi hành pháp luật”, “Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ, Bộ trưởng... ban hành văn bản pháp luật để thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn của mình, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó và xử lý các văn bản trái
pháp luật theo quy định của luật”, Bộ trưởng “chịu trách nhiệm quản lý nhà
nước về ngành, lĩnh vực được phân công; tổ chức thi hành và theo dõi việc
thi hành pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc”,
“Chính quyền địa phương tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và
pháp luật tại địa phương”, “Ủy ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến
pháp và pháp luật ở địa phương” [Điều 96, Điều 98, Điều 99, Điều 100, Điều
112, Điều 114].

12


THPL trong trƣờng hợp này là hình thức để nhà nƣớc thực hiện chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, là quá trình hoạt động có mục đích, có
lý trí, có ý chí của các cơ quan nhà nƣớc và những ngƣời có trách nhiệm,
quyền hạn để pháp luật đi vào cuộc sống (các quy định pháp luật trở thành

nằm trong giới hạn cho phép của pháp luật (hành vi hợp pháp), phù hợp với
những quy phạm pháp luật của chủ thể pháp luật trong xã hội.
Trên cơ sở kế thừa và phát triển các quan niệm, quan điểm của các nhà
khoa học trong và ngoài nƣớc về khái niệm thi hành pháp luật, nhất là quan
điểm thứ hai về thi hành pháp luật ở Việt Nam, có thể hiểu thi hành pháp luật
là hành vi hợp pháp của chủ thể pháp luật trong quá trình hiện thực hóa hoặc
đảm bảo hiệu lực các quy định pháp luật trong đời sống xã hội.
1.1.2. Đặc điểm về thi hành pháp luật
Một là, THPL là hoạt động pháp luật phát sinh trên cơ sở thực tiễn xã
hội, hoàn thiện hệ thống pháp luật và bảo đảm pháp luật phục vụ tốt nhất cho
con ngƣời và sự phát triển bền vững của quốc gia, dân tộc.
THPL trong thực tiễn chính là làm rõ tính quyết định của xã hội đối với
cơ chế tác động của pháp luật đến xã hội và ngƣợc lại, bởi vì các quy phạm
pháp luật đƣợc hình thành trên cơ sở của các quan hệ thực tế đang tồn tại. Các
quy phạm pháp luật phản ánh các quan hệ đó dƣới dạng đặc thù của mình phù
hợp với ý chí, lợi ích của Nhà nƣớc, với việc cân nhắc các khuynh hƣớng của
sự phát triển xã hội, các nhu cầu, nhiệm vụ của xã hội và Nhà nƣớc. Các quy
phạm pháp luật phản ánh các đòi hỏi của cuộc sống đúng đắn đến chừng mực
nào, các quy phạm đó có phù hợp với trạng thái thực tế của sự vật hay không,
chúng có tạo điều kiện cho sự phát triển tiếp theo của các quan hệ xã hội thực
tế hay không, chúng có ghi nhận đúng các quan hệ xã hội cần phải đƣợc ghi
nhận hay không, tất cả những vấn đề đó là một bộ phận thuộc nội dung của
tính quyết định xã hội của các quy phạm pháp luật và của các quan hệ pháp
luật do các quy phạm đó làm phát sinh. Bên cạnh đó, THPL còn giúp cơ quan
nhà nƣớc, cá nhân, tổ chức xem xét, làm rõ thực trạng hệ thống các quan hệ
xã hội năng động trong thực tế, đồng thời làm sáng tỏ khuynh hƣớng phát

14



15


Thứ nhất, mức độ hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật về THPL gồm:

Xác lập tƣ cách pháp lý của các chủ thể trong THPL: Nhà nƣớc với tƣ
cách chủ thể quản lý nhà nƣớc chịu trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm
quyền con ngƣời, quyền công dân và tạo môi trƣờng, điều kiện để các chủ thể
xã hội chủ động THPL nhằm đảm bảo pháp luật phục vụ hạnh phúc con
ngƣời; cá nhân, tổ chức xã hội với tƣ cách là thành viên hợp thành Nhân dân
thực hiện chủ quyền Nhân dân, quyền lực xã hội, quyền lực nhà nƣớc. Khi
THPL các quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể có thể tự xác định
trên cơ sở các quy phạm pháp luật hoặc do cơ quan có thẩm quyền quyết định
để đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý và khả thi. Điều này có liên quan chặt chẽ
đến sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật, chất lƣợng của hoạt động áp dụng
pháp luật, ý thức pháp luật, tính tích cực của chủ thể xã hội. Bên cạnh đó, tính
đa dạng của chủ thể pháp luật, giúp cá nhân, tổ chức có nhiều cơ hội lựa chọn
tƣ cách chủ thể để tham gia THPL nhằm đảm bảo pháp luật phục vụ tốt nhất
cho hạnh phúc con ngƣời.
Luật hóa THPL trong hệ thống pháp luật theo nguyên tắc thƣợng tôn
pháp luật. Có nhƣ vậy, THPL mới đáp ứng yêu cầu đầu tiên trong đời sống
pháp luật và trở thành hiện thực trong đời sống xã hội. Đồng thời các quy
phạm pháp luật về THPL phải đảm bảo các yếu tố về tính toàn diện; tính đồng
bộ, thống nhất; tính phù hợp; yêu cầu về trình độ kỹ thuật pháp lý.
Tính toàn diện của các quy phạm pháp luật về THPL thể hiện ở góc độ:
Các quy phạm pháp luật tạo lập đủ hành lang pháp lý để các chủ thể thực hiện
THPL gắn với đảm bảo quyền lực Nhân dân, quyền con ngƣời, quyền công
dân đƣợc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo mục đích của THPL trong thực
tiễn xã hội và quy định pháp luật;
Tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống quy phạm pháp luật về THPL,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status