Thực trạng việc thực hiện chính sách tCXH ở Việt nam - Pdf 69

Thực trạng việc thực hiện chính sách tCXH ở Việt nam
______________
2.1. Chủ trương của đảng
2.1.1. Gắn liền chính sách trợ giúp xã hội với chính sách đổi mới kinh tế,
đảm bảo phân phối công bằng trong toàn bộ nền kinh tế
Chủ trương này được thể hiện rõ trong Nghị quyết Đại hội đảng toàn
quốc lần thứ VI, VII, VIII và IX. Cụ thể Nghị quyết đại hội đảng toàn quốc lần
thứ VIII đã nêu: "Từng bước xây dựng chính sách Bảo trợ xã hội chủ nghĩa đối
với toàn dân, theo phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, mở rộng và
phát triển các công trình sự nghiệp bảo trợ xã hội, tạo lập nhiều hệ thống và
hình thức bảo trợ xã hội cho nhưng người có công với cách mạng và những
người gặp khó khăn. Nghiên cứu bổ sung chính sách, chế độ bảo trợ xã hội phù
hợp với quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội" (Đảng cộng
sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự Thật, Hà
Nội -1987, trang 94). Tiếp đó Đại hội đảng toàn quốc lần thứ 8 năm 1996 nhấn
mạnh quan điểm mục tiêu của tăng trưởng phát triển kinh tế phải đi đôi với
tiến bộ và công bằng xã hội, vấn đề phân phối... Cụ thể: "Tăng trưởng kinh tế
phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong
suốt quá trình phát triển. Công bằng xã hội phải thể hiện ở khâu phân phối
hợp lý tư liệu sản xuất lẫn khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều
kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình”
(Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
NXB Chính trị Quốc gia- Hà Nội- 1996, trang 113).
Hệ thống chính sách trợ giúp xã hội và trợ cấp xã hội cộng đồng được
xây dựng trên cơ sở quan điểm phù hợp với điều kiện và quá trình phát triển
kinh tế, với mục tiêu giải quyết vấn đề bình đẳng trong phân phối sản phẩm
quốc dân, theo định hướng mọi đối tượng xã hội đều được hưởng lợi từ thành
quả của tăng trưởng và phát triển kinh tế. Chính vì những mục tiêu đó mà các
chế độ TCXH luôn được đảng và nhà nước ta điều chỉnh và thay đổi phù hợp
với quá trình phát triển kinh tế và mức sống chung của cộng đồng dân cư,
không để tình trạng quá chênh lệch diễn ra trong xã hội.

hoá cũng được thể hiện ngay trong việc xác định mức trợ cấp. Nhà nước chỉ
hỗ trợ một phần, phần thiếu vận động xã hội giúp đỡ. Tinh thần xã hội hoá
được thể hiện trong chỉ đạo thực hiện: “Hình thành các tổ chức của người tàn
tật và vì người tàn tật, các hội từ thiện, tổ chức việc giúp đỡ người già cô đơn
và TEMC, những người cơ nhỡ, bất hạnh trong cuộc sống” (Đảng cộng sản Việt
nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB Sự Thật (trang 75),
Hà Nội-1991).
2.2. Thực trạng chính sách TCXH
2.2.1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển TCXH
2.2.1.1. Giai đoạn 1945-1965
Đây là giai đoạn hình thành chính sách trợ cấp xã hội. Giai đoạn này
chính sách trợ cấp xã hội được hiểu như chính sách cứu trợ đột xuất (cứu đói
cho người thiếu đói). Sau khi cách mạng tháng 8 năm 1945, nước ta phải
đương đầu với hai việc quan trọng là cứu đói ở miền Bắc và kháng chiến ở
miền Nam. Ngày 28/9/1945 Chính phủ đã ra lời kêu gọi đồng bào toàn quốc
ra sức cứu đói bằng hình thức “Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn
ăn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa 1 bơ) để cứu dân nghèo”
1
. Hưởng ứng lời kêu
giọi của Hồ Chủ Tịch và của Chính phủ, cả nước đã dấy lên phong trào nhường
cơm sẻ áo, lập hũ gạo, lập tổ chức nghĩa thương tiết kiệm để giúp đỡ dân
nghèo, những người khó khăn. Cùng với việc phát động phong trào Chính phủ
hình thành chính sách trợ giúp xã hội để ổn định đời sống của nhân dân lao
1 Hồ Chí Minh to n tà ập –NXB Sự Thật, T.4, tr.98
động. Kết quả đã có hàng chục vạn người nghèo được trợ giúp lương thực,
thực phẩm, quần áo, nạn đói được đẩy lùi.
Từ năm 1954, sau khi giải phóng miền Bắc nhiệm vụ của miền Bắc là
hàn gắn vết thường chiến tranh, khôi phục và phát triển đất nước. Đảng và
nhà nước ta thực hiện những chính sách cải cách kinh tế, đặc biệt là chính
sách cải cách ruộng đất, tạo sức cho phát triển kinh tế và xoá đói. Giai đoạn

không nơi nương tựa và TEMC mất nguồn nuôi dưỡng. Chế độ trợ cấp hàng
tháng từ 10-13 kg thóc/người/tháng. Ngoài mức này đối tượng TCXH còn
được chia đất phần trăm (khoảng 100m
2
/người do các hợp tác xã nông nghiệp
cấp) và họ hàng giúp đỡ. Canh tác để có thêm thóc và hoa màu nâng cao cuộc
sống. Chính phủ quy định các hợp tác xã nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
phải lập quỹ cứu tế để hỗ trợ cho đối tượng xã hội ĐBKK (người già cô đơn,
TEMC, người tàn tật). Cứu trợ xã hội cũng đã được tách thành hai hình thức là
cứu trợ thường xuyên và cứu trợ đột xuất (hỗ trợ lương thực cho hộ bị thiếu
đói do thiên tai, do chiến tranh). Cứu trợ thường xuyên (TCXH hàng tháng)
được thực hiện thường xuyên cho các đối tượng không có khả năng lao động,
không có người nuôi dưỡng, chăm sóc. Cứu trợ đột xuất trợ giúp một lần cho
các đối tượng nạn nhân chiến tranh, nạn nhân do hậu quả thiên tai và trợ cấp khó
khăn cho những người có thu nhập thấp.
Nhìn chung về nội dung chính sách, mức độ thể chế thông qua hệ thống
văn bản của hệ thống chính sách cứu trợ xã hội (trong đó có trợ cấp cứu trợ
xã hội thường xuyên) đã được phát triển một bước. Có sự đổi mới về cơ chế
thực hiện và nội dung, cũng như hình thức. Tính chất thường xuyên của chính
sách vẫn còn hạn chế, ở cấp quốc gia mang nặng tính xử lý tình huống, chưa
thiết lập hệ thống chính sách bền vững, mới quan tâm giải quyết khẩu phần ăn
cho đối tượng.
2.2.1.3. Giai đoạn 1976- 1985
Hậu quả chiến tranh đã gây tổn thất nặng về người và tài sản của nhân
dân. Sau chiến tranh có trên 4,7 triệu người tàn tật (chiếm khoảng 6% dân
số), trên 1 triệu người già bị mất người thân nuôi dưỡng; trên 100 ngàn trẻ
em mồ côi, trong đó có tỷ lệ lớn là TEMC cả cha và mẹ… Trước bối cảnh đó,
Chính phủ đã chỉ đạo nghiên cứu hoàn thiện hệ thống chính sách TCXH. Giai
đoạn này chế độ TCXH đã hình thành mức trợ cấp theo hai khu vực là từ 8-10
đồng/người/tháng ở nông thôn và 10-12 đồng/người/tháng ở thành thị. Cơ

cho các hoạt động xã hội, trong đó có TCXH.
2.2.1.5. Giai đoạn 2000- 2005
Giai đoạn này hệ thống văn bản về chế độ, chính sách, cơ chế tổ chức
thực hiện, theo dõi giám sát đánh giá, tiếp tục được hoàn thiện 5 năm đã ban
hành Nghị định 30/2002/NĐ-CP, Nghị định 120/2003/NĐ-CP về hướng dẫn thi
hành Pháp lệnh người cao tuổi; Nghị định 168/2004/NĐ-CP về sửa đổi bổ sung
một số điều của Nghị định 07/2000/NĐ-CP và một loạt thông tư hướng dẫn
thực hiện các chế độ chính sách mới TCXH được nâng từ 45.000 đồng
/người/tháng ở cộng đồng lên 65.000đ/người/tháng (bắt đầu thực hiện từ
năm 2005). Trong giai đoạn này có nghiên cứu đổi mới để mở rộng đối tượng
hưởng lợi và bước đầu thay đổi hình thức thực hiện trợ cấp. Chuyển từ hỗ trợ
cho đối tượng sang trợ giúp cho hộ gia đình nhận nuôi và hộ gia đình nhận
chăm sóc thay thế. Mức hỗ trợ được xây dựng trên cơ sở của việc đảm bảo chi
phí lương thực- thực phẩm cho đối tượng và chi phí chăm sóc của hộ gia đình.
Mặc dù mới thực hiện từ năm 2004, nhưng đến nay đã có hàng chục ngàn hộ
gia đình được hỗ trợ hàng tháng.
Tóm lại: Trong 60 năm hình thành và phát triển chính sách trợ cấp xã
hội đã liên tục được đổi mới, hoàn thiện phù hợp với tình hình chung của đất
nước. Năm 1945 hình thành chính sách cứu trợ xã hội cho đối tượng chịu thiệt
thòi. Đây là tiền đề và cơ sở của việc hình thành các nội dung chính sách xã hội
các giai đoạn sau này. Đến năm 1966, Chính phủ có văn bản quy định về đối
tượng trợ cấp xã hội và hình thành quỹ cho trợ cấp xã hội. Đến năm 1979
đánh dấu sự chuyển đổi từ trợ cấp bằng hiện vật sang tính giá trị bằng tiền.
Năm 1994 quy định chi tiết về mức trợ cấp (có tách từng nhóm đối tượng và
tính theo mức tối thiểu). Năm 2000, không quy định tương đương hiện vật và
cho phép điều chỉnh cao hơn mức tối thiểu, thuỳ thuộc và hoàn cảnh của địa
phương. Từ năm 2005 thực hiện theo mức trợ cấp mới và mở rộng chính sách
cho một số đối tượng mới.
2.2.2. Thực trạng chính sách TCXH hiện hành
Chính sách TCXH được quy định trong hệ thống các văn bản chính sách

1. Người cao tuổi cô đơn
không nơi nương tựa
2. Người cao tuổi tàn tật
thuộc diện nghèo
3. Người cao tuổi trên 90 tuổi
không có lương hưu và TCXH
1. Pháp lệnh người cao tuổi
2. Nghị định 30/2002/NĐ-CP, ngày
26/3/2002
3. Nghị định 120/2003/NĐ-CP, ngày
20/10/2003
4. Thông tư 36/2005/TT-BLĐTBXH,
ngày 26/12/2005
2.2. Người tàn
tật
1. Người tàn tật nặng không
có khả năng lao động, không
có thu nhập và người chăm
sóc
1. Pháp lệnh người tàn tật
06/1998/PL-UBTVQH10
2. Nghị định 55/1999/NĐ-CP ngày
10/7/1999
3. Thông tư 13/2000/TT-
BLĐTBXH, ngày 12/5/2000.
2.3. Người bị
nhiễm HIV
1. Người bị nhiễm HIV/AIDS
không có
1. Quyết định 313/2005/NĐ-CP,

2/12/2005
6. Người nhiễm HIV/AIDS không còn khả
năng lao động
65.000đ
(Nguồn: Tổng hợp từ các văn bản)
- Nội dung trợ cấp theo quy định này với mục đích đảm bảo cho đối
tượng xã hội không bị thiếu đói. Tức là đảm bảo khẩu phần ăn cho đối tượng.
Với có sơ lý luận ở Chương 1 thì đây là mức trợ cấp nuôi dưỡng tối thiểu. Mức
trợ cấp này được xây dựng dựa và điều chỉnh từ mức trợc ấp xã hội giai đoạn
trước năm 2000 (mức tương đương 12 kg gạo/người/tháng).
So với quá trình phát triển kinh tế và mặt bằng chung thu nhập, chi tiêu
và giá cả thị trường, mặt bằng các chế độ chính sách xã hội khác thì mức trợ
cấp không phù hợp và không phản ánh đúng được bản chất cung như nội
dung của chính sách TCXH.
+ Năm 2005 GDP khoảng 600 USD, bằng khoảng 9.000.000đ/năm và
tương đương trên 700.000đ/tháng. Theo kết quả điều tra mức sống dân cư
năm 2003-2004 của Tổng cục thống kê thu nhập bình quân là 484,38 ngàn
đồng (vùng nông thôn là 378,09 ngàn đồng, thành thị là 815,43 ngàn đồng).
Chia các nhóm hộ của mẫu khảo sát thành thành 5 nhóm (mỗi nhóm 20% số
hộ có thu nhập từ thấp đến cao) thì:
- Nhóm 1 (Nhóm 20% hộ có thu nhập thấp nhất) có thu nhập bình quân
là 141,75 ngàn/người/tháng.
- Nhóm 5 (Nhóm 20% hộ thu nhập cao nhất) có thu nhập bình quân là
1182,27 ngàn/người/tháng).
Chi tiêu bình quân năm 2004 là 396,8 ngàn đồng (thành thị là 652 ngàn,
nông thôn 314,3 ngàn), nhóm chi tiêu thấp nhất là 170,3 ngàn/người/tháng và
nhóm 20% hộ có chi tiêu cao nhất là 799 ngàn/người/tháng. Như vậy, mức
TCXH chỉ bằng 13,4% thu nhập bình quân chung, 46% thu nhập của nhóm 20%
hộ có thu nhập thấp nhất, bằng 16,38% chi tiêu bình quân chung, 38,23% chi
tiêu bình quân của nhóm 20% hộ chi tiêu thấp nhất. Với mức TCXH này thì đối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status