NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TÁON BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO AASC THỰC HIỆN - Pdf 69

Khóa luận tốt nghiệp
NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC KỸ
THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM
TÁON BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO AASC THỰC HIỆN.
I. Bài học kinh nghiệm rút ra từ việc áp dụng các kỹ thuật thu thập
bắng chứng kiểm toán trong kiểm toán BCTC tại Công ty AASC.
1. Về thiết kế chương trình kiểm toán
2. Về sự kết hợp giữa các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán
khác nhau.
3.Về sự kết hợp giữa các khoản mục trong thu thập bằng chứng
kiểm toán.
4. Về cách ghi chép trên giấy tờ làm việc.
II. Sự cần thiết phải hoàn thiện các kỹ thuật thu thập bằng chứng
kiểm toán tại AASC.
III. Phương hướng hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm
toán tại AASC.
1. Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán.
1.1 Kiến nghị về việc xác định mức độ trọng yếu, rủi ro và số lượng
bằng chứng kiểm toán cần thu thập.
AASC đã xây dựng một quy trình đánh giá mức độ trọng yếu thống
nhất trong toàn Công ty gồm 5 bước. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện
kiểm toán với một số khách hàng có quy mô nhỏ KTV chỉ đánh giá ở mức độ
khái quát về tính trọng yếu chưa thể hiện đầy đủ trên giấy tờ làm việc. Điều
đó đã gây khó khăn cho KTV khi xác định quy mô bằng chứng cần thu thập.
Vì vậy, kiểm toán viên AASC cần đánh giá mức độ trọng yếu đối với tất cả
các khách hàng theo đúng quy trình mà Công ty đã xây dựng.
1.2 Về việc áp dụng thủ tục phân tích
Tại AASC, thủ tục phân tích sử dụng chủ yếu là phân tích xu hướng và
phân tích tỷ suất. Thông tin phân tích chỉ là thông tin tài chính. Khi tiến hành
Trần Thị Trang Kiểm toán 45A
1

Trần Thị Trang Kiểm toán 45A
2
2
Khóa luận tốt nghiệp
soát nội bộ và sử dụng thêm nhiều câu hỏi mở để có được đánh giá chính xác
hơn về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với từng khoản mục từ đó có thể hạn
chế được các thủ tục kiểm tra chi tiết đối với khoản mục đó.
2.3 Kiến nghị về việc chọn mẫu kiểm toán
Tại AASC, chọn mẫu chủ yếu là theo mẫu số lớn với mức bao quát
tổng thể trên 60% là hợp lý và nhận định nghề nghiệp của kiểm toán viên. Với
cách chọn mẫu trên, quy mô mẫu sẽ giảm, giúp KTV tập trung vào các khoản
mục trọng yếu. Nhưng việc chọn mẫu như thế có thể dẫn đến rủi ro do chọn
mẫu sẽ cao do số còn lại không được lựa chọn mà có thể có sai phạm rất
nhiều. Vì vậy để hạn chế mức độ rủi ro kiểm toán, KTV nên kết hợp thêm
phương pháp chọn mẫu xác xuất theo bảng số ngẫu nhiên (BSNN).
2.4 Kiến nghị về ước tính của kiểm toán viên.
Tại AASC, KTV chỉ thực hiện tính toán các phép tính mà kế toán đơn vị
đã thực hiện mà không đưa ra các ước tính của mình. Điều này làm giảm hiệu
quả của cuộc kiểm toán nhất là khi phải thực hiện nhiều phép tính mới đánh giá
được tính chính xác của số dư một số tài khoản. KTV AASC nên thực hiện việc
tính toán kết hợp với việc xem xét, kiểm tra quá trình tính toán của đơn vị với
việc độc lập ước tính của KTV.
3. Trong giai đoạn kết thúc kiểm toán
3.1 Kiến nghị về việc tổng hợp bút toán điều chỉnh của kiểm toán viên.
Trong quá trình thực hiện kiểm toán, KTV thấy có sai sót là điều chỉnh
và không quan tâm đến mức sai sót có thể bỏ qua. Từ đó, dẫn đến việc đưa ra
kết luận kiểm toán có quá nhiều bút toán điều chỉnh sai sót mà các sai sót đó
không được coi là trọng yếu. Như vậy, khi tiến hành tổng hợp bút toán điều
chỉnh sai sót đối với Công ty khách hàng, KTV nên căn cứ vào tính trọng yếu
của các bộ phận để từ đó đưa ra bút toán điều chỉnh thích hợp.

một trong hai Công ty kiểm toán độc lập đầu tiên ở Việt Nam vào năm 1991.
Với bề dày kinh nghiệm lâu năm cùng sự nỗ lực không ngừng của Ban Giám
đốc và toàn thể cán bộ trong Công ty, AASC đã thực sự phát triển, đóng góp
một phần đáng kể đối với sự phát triển của ngành nghề kế toán, kiểm toán nói
riêng và sự phát triển của nền kinh tế đất nước nói chung.
Một trong những yếu tố hết sức quan trọng góp phần làm nên thành
công của cuộc kiểm toán đó là bằng chứng kiểm toán. Bằng chứng kiểm toán
là cơ sở để kiểm toán viên hình thành nên ý kiến của mình về Báo cáo tài
chính được kiểm toán từ đó hình thành nên kết luận kiểm toán. Trong đó, các
kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán lại là sự đúc kết, khái quát hóa những
kinh nghiệm kiểm toán trên cơ sở phương pháp luận biện chứng và phương
pháp cụ thể khoa học giải tích, về quy hoạch, về xác suất và thống kế toán. Do
đó, hệ thống các phương pháp này cần được hoàn thiện không ngừng qua hoạt
động thực tiến kiểm toán. Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì
việc thu thập được bằng chứng kiểm toán thích hợp và đầy đủ càng trở khó
khăn, đòi hỏi bắt kịp với sự đa dạng của thông tin, mức độ tinh vi cuả hành vi
gian lận.
Chính vì vậy, việc hoàn thiện các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm
toán để nâng cao chất lượng và giảm thiểu chi phí cuộc kiểm toán nói chung
và kiểm toán báo cáo tài chính nói riêng là một vấn đề không thể thiếu được
đối với AASC cũng như đối với bất cứ một Công ty kiểm toán nào trong quá
trình phát triển của mình.
Trần Thị Trang Kiểm toán 45A
5
5
Khóa luận tốt nghiệp
Nhận thức được tầm quan trọng của các kỹ thuật thu thập bằng chứng
kiểm toán, với những kiến thức đã học ở trường đại học và qua quá trình thực
tập tại Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC) em
đã lựa chọn đề tài “ Hoàn thiện các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán

trọng trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực pháp lý. Muốn quy kết
tội danh cho một tổ chức hoặc cá nhân, các cấp có thẩm quyền phải đưa ra
được các bằng chứng xác đáng với tội danh ấy, đó là các bằng chứng pháp lý.
Bằng chứng pháp lý là những gì chứng minh được một sự kiện hoặc một quan
hệ pháp luật, chẳng hạn: bằng chứng được xác định bằng vật chứng, lời khai
của người làm chứng, bị can, bị cáo…Các tài liệu văn bản, sổ sách cũng được
coi là bằng chứng pháp lý. Chủ thể tiến hành thu thập bằng chứng pháp lý là
cơ quan bảo vệ và thừa hanh pháp luật. Trong nhiều trường hợp khác nhau,
bằng chứng đưa ra phải thỏa mãn rất nhiều tiêu chí (trung thực, khách quan,
hợp lý, thuyết phục, có tính liên quan…) thì bằng chứng mới được coi là có
ích.
Trong lĩnh vực kiểm toán, có nhiều khái niệm khác nhau về bằng chứng
kiểm toán. Các khái niệm đều là những hướng dẫn cơ bản về bằng chứng
kiểm toán, qua đó KTV tiến hành thu thập bằng chứng kiểm toán và căn cứ
vào đó hình thành nên ý kiến của mình. Theo quan điểm thứ nhất: “Bằng
chứng kiểm toán là những thông tin và tài liệu mà kiểm toán viên thu thập
được trong quá trình kiểm toán để làm cơ sở cho những nhận xét, đánh giá và
kết luận của mình về tình hình và kết quả hoạt động cũng như báo cáo tài
chính của đơn vị được kiểm toán”. Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 250
“Việc đánh giá và xác định hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định
nói chung không phải là trách nhiệm nghề nghiệp của kiểm toán viên và công
ty kiểm toán”, vì vậy KTV và Công ty không cần thực hiện các thủ tục kiểm
tra khác đối với việc tuân thủ pháp luật và các quy định của đơn vị, nếu những
thủ tục đó nằm ngoài phạm vi kiểm toán báo cáo tài chính. Qua đây cho thấy,
bằng chứng kiểm toán có thể bao gồm các bằng chứng về việc không tuân thủ
Trần Thị Trang Kiểm toán 45A
7
7
Khóa luận tốt nghiệp
pháp luật của đơn vị được kiểm toán làm ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài

bằng chứng kiểm toán của KTV. Một khi KTV không thu thập đầy đủ và
đánh giá đúng các bằng chứng thính hợp thì KTV khó đặt ra nhận định xác
đáng về đối tượng được kiểm toán .
Đối với các tổ chức kiểm toán độc lập hoặc cơ quan kiểm toán Nhà
nước, cơ quan pháp lý, bằng chứng kiểm toán còn là cơ sở đánh giá chất
lượng hoạt động của KTV trong quá trình thực hiện kiểm toán.
Trong trường hợp có xảy ra tranh chấp kiện tụng giữa công ty kiểm
toán với người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính thì bằng chứng kiểm
toán còn là cơ sở để cơ quan chức năng kiểm tra, đánh giá lại công việc của
kiểm toán viên và công ty kiểm toán.
1.3 Quyết định của kiểm toán viên về thu thập bằng chứng kiểm
toán.
Kiểm toán tài chính có đối tượng là các Báo cáo tài chính – bao gồm
các thông tin tài chính tổng hợp liên quan đến toàn bộ hoạt động sản xuất kinh
doanh trong một niên độ tài chính được kiểm toán. Với đối tượng kiểm toán
rộng như vậy, KTV không thể kiểm tra, đánh giá được tất cả các phiếu thu,
phiếu chi đã thanh toán, các hóa đơn của bên bán, các hóa đơn bán hàng,
chứng từ vận chuyển…và các loại chứng từ sổ sách có liên quan. Do đó, KTV
cần phải xác định số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập để có thể đánh
giá toàn diện về đối tượng kiểm toán. Quyết định này của KTV về thu thập
bằng chứng kiểm toán có thể chia thành:
1.3.1 Quyết định về thể thức kiểm toán cần áp dụng.
Thể thức kiểm toán là những hướng dẫn chi tiết về quá trình thu thập ở
một loại bằng chứng kiểm toán cá biệt phải thu thập ở một điểm nào đó trong
một cuộc kiểm toán. Ví dụ hướng dẫn chi tiết về quá trình thu thập biên bản
kiểm kê vật tư, tiền tại két, các bút toán nhật kí hay các chi tiết trong quá trình
vận chuyển.
Trần Thị Trang Kiểm toán 45A
9
9

Khóa luận tốt nghiệp
Theo cách này bằng chứng được phân loại theo độ tin cậy tăng dần như
sau:
Bằng chứng có độ tin cậy thấp nhất là bằng chứng do đơn vị phát hành
và luân chuyển nội bộ: Phiếu thu, phiếu chi, phiếu nhập kho, phiếu xuất kho,

Bằng chứng có độ tin cậy cao hơn là bằng chứng do doanh nghiệp phát
hành và luân chuyển ra bên ngoài đơn vị sau đó quay trở lại đơn vị như Các
ủy nhiệm chi, các hợp đồng,…
Tiếp đến là bằng chứng do bên ngoài lập, lưu tại đơn vị như hóa đơn
bán hàng, sổ phụ ngân hàng,…và bằng chứng do những người bên ngoài cung
cấp trực tiếp cho KTV như bảng xác nhận nợ của chủ nợ, bảng xác nhận các
khoản phải thu của khách nợ,…
Bằng chứng có độ tin cậy cao nhất là bằng chứng do KTV tự khai thác
và đánh giá thông qua kiểm tra, quan sát và phỏng vấn.
1.4.2 Phân loại bằng chứng kiểm toán theo loại hình
Bằng chứng vật chất : như là biên bản kiểm kê hàng tồn kho, biên bản
kiểm kê quỹ tiền mặt….Bằng chứng vật chất được đưa ra từ việc kiểm tra trực
tiếp để xác minh tài sản có thực hay không. Vì thế, bằng chứng vật chất là
bằng chứng có độ tin cậy cao nhất.
Các bằng chứng tài liệu : là bằng chứng mà KTV thu thập được qua
việc cung cấp tài liệu, thông tin của cá bên liên quan theo yêu cầu của kiểm
toán viên gồm có:
- Các ghi chép kế toán và các ghi chép nghiệp vụ của doanh nghiệp, các
báo cáo kế toán, các bản giải trình của các nhà quản lý doanh nghiệp…Các
chứng từ, tài liệu do đối tượng bên ngoài doanh nghiệp cung cấp như: Các
văn bản, các giấy xác nhận, các báo cáo của bên thứ ba có liên quan đến báo
Trần Thị Trang Kiểm toán 45A
11
11

12
Khóa luận tốt nghiệp
“Giá trị” hay “hiệu lực” hoặc “thích hợp” đều thể hiện chất lượng hay
mức độ đáng tin cậy của bằng chứng kiểm toán. Bằng chứng kiểm toán có giá
trị cao sẽ giúp cho việc chứng thực các báo cáo tài chính được trình bày trung
thực. Những yếu tố ảnh hưởng đến tính hiệu lực, bao gồm:
Thứ nhất là loại hình bằng chứng kiểm toán: Bằng chứng bằng văn bản
có độ tin cậy cao hơn bằng chứng bằng miệng. Ví dụ như “Biên bản kiểm kê”
có được sau khi KTV chứng kiến hoặc tham gia kiểm kê thì có độ tin cậy cao
hơn bằng chứng thu thập được qua phỏng vấn.
Thứ hai là hệ thống kiểm soát nội bộ: Bằng chứng thu được có độ tin
cậy cao hơn khi hệ thống kiểm soát nội bộ tồn tại và hoạt động hiệu quả hơn.
Thứ ba là nguồn gốc thu thập bằng chứng kiểm toán: Bằng chứng kiểm
toán có nguồn gốc càng độc lập thì càng có hiệu lực.
Thứ tư là sự kết hợp các bằng chứng kiểm toán: Nếu nhiều bằng chứng
cùng xác minh cho một vấn đề thì bằng chứng sẽ có giá trị hơn.
1.5.2 Tính đầy đủ.
Số lượng bằng chứng thu thập quyết định tính đầy đủ của bằng chứng
kiểm toán. Do đó quy mô mẫu mà KTV cần lựa chọn rất quan trọng trong
việc quyết định tính đầy đủ của bằng chứng. Đối với một thủ tục kiểm toán đã
xác đinh, bằng chứng thu được từ một mẫu 200 cá thể sẽ đầy đủ hơn từ một
mẫu gồm 100 cá thể. Khi đánh giá về “tính đầy đủ” của bằng chứng kiểm
toán, KTV thường xem xét ảnh hưởng của các nhân tố chủ yếu như tính giá trị
của bằng chứng, tính trọng yếu và mức độ rủi ro của thông tin tài chính để từ
đó xác định quy mô mẫu cần có.
Những yếu tố ảnh hưởng đến tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán
bao gồm:
Thứ nhất là tính hiệu lựu của bằng chứng: Bằng chứng có độ tin cậy
càng thấp, số lượng bằng chứng thu thập càng nhiều.
Trần Thị Trang Kiểm toán 45A

DR=
IR x
AR = IR x CR x DR
14
14
Khóa luận tốt nghiệp
AR : Rủi ro kiểm toán mong muốn CR : Rủi ro kiểm soát
IR : Rủi ro tiềm tàng DR : Rủi ro phát hiện
Quan hệ giữa các loại rủi ro và lượng bằng chứng kiểm toán cần thu
thập được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1: Quan hệ giữa các loại rủi ro và số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập
Trường
hợp
Rủi ro kiểm
toán (AR)
Rủi ro cố hữu
(IR)
Rủi ro kiểm
soát (CR)
Rủi ro phát
hiện (DR)
Số lượng bằng chứng
cần thu thập
1 Cao Thấp Thấp Cao Thấp
2 Thấp Thấp Thấp Trung bình Trung bình
3 Thấp Cao Cao Thấp Cao
4 Trung bình Trung bình Trung bình Trung bình Trung bình
5 Cao Thấp Trung bình Trung bình Trung bình
(*Nguồn: Alvin Arens và James K.Loebbecke,Auditing, NXB Thống Kê,1995)
Qua bảng 1, ta có thể thấy khi rủi ro phát hiện thấp, rủi ro kiểm toán

là vô cùng quan trọng. Chuẩn mực Quốc tế 501 cũng đã quy định rõ: “Nếu
chuyên gia kiểm toán không thể có mặt tại ngày kiểm kê thực tế vì lý do đột
xuất, chuyên gia kiểm toán phải thực hiện kiểm kê hoặc tham dự vào một
buổi kiểm kê tại thời điểm khác, và nếu cần, phải kiểm tra những biến động
kho trong khoảng thời gian giữa thời điểm cuối năm và thời điểm kiểm kê sau
này…Trong trường hợp chuyên gia kiểm toán không thể tham dự vào hoạt
động kiểm kê, chẳng hạn do tính chất và đặc điểm của hoạt động này, thì
chuyên gia kiểm toán phải xác định xem mình có thể thực hiện những thủ tục
kiểm toán thay thể nhằm thu thập các bằng chứng đầy đủ và thích hợp về tính
hiện hữu và tình trạng tồn kho, để sao cho không phải đưa ra ý kiến chấp nhận
từng phần vì giới hạn trong phạm vi công việc”
Ký thuật này có ưu điểm cung cấp cấc bằng chứng có độ tin cậy cao
nhất vì kiểm tra vật chất là quá trình xác minh minh tính có thực của tài sản
và quá trình này hoàn toàn mang tính khách quan. Hơn nữa kỹ thuật này thực
hiện đơn giản, phù hợp với chức năng xác minh của kiểm toán.
Trần Thị Trang Kiểm toán 45A
16
16
Khóa luận tốt nghiệp
Tuy nhiên đối với tài sản cố định như đất đai, nhà xưởng, máy móc…
kỹ thuật kiểm kê chỉ cho biết sự hiện hữu của tài sản, không cho biết quyền sở
hữu của đơn vị đối với tài sản đó có thể hiện hữu nhưng lại là tài sản thuê
ngoài hay đã đem thế chấp…Còn đối với hàng hoá, nguyên vật liệu tồn kho,
kiểm kê chỉ cho biết sự tồn tại về số lượng còn chất lượng, tình trạng kỹ thuật,
phương pháp đánh giá đúng hay sai thì chưa thể hiện. Vì vậy, khi thu thập
bằng chứng khác để chứng minh quyền sở hữu và giá trị của tài sản đó.
2.2 Lấy xác nhận
Là quá trình thu thập thông tin từ bên thứ ba độc lập cung cấp để xác
minh tính chính xác của thông tin mà KTV nghi vấn và các đối tượng mà
KTV thường gửi thư xác nhận được khái quát trong bảng số 2

Người nhận cầm cố
Trần Thị Trang Kiểm toán 45A
17
17
Khóa luận tốt nghiệp
Trái phiếu phải trả
Vốn chủ sở hữu
Các cổ phần đang lưu hành
Người giữ trái phiếu
Người giữ sổ đăng ký và đại lý chuyển nhượng
Cổ đông
Các loại thông tin khác
Loại bảo hiểm
Nợ ngoài ý muốn
Hợp đồng trái khoán
Vật kỹ quỹ cho chủ nợ
Công ty bảo hiểm
Luật sư của Công ty, ngân hàng
Người giữ trái khoán
Chủ nợ
Ưu điểm của kỹ thuật này là bằng chứng thu được có độ tin cậy cao nếu
KTV thực hiện đúng quy trình và đảm bảo các yêu cầu: Thông tin cần phải
được xác nhân theo yêu cầu của KTV, sự xác nhận phải được thực hiện bằng
văn bản, sự độc lập của người xác nhận thông tin, KTV phải kiểm soát được
toàn bộ quá trình thu thập thư xác nhận.
Tuy nhiên , kỹ thuật này có chi phí thực hiện khá lớn và do phạm vi áp
dụng tương đối giới hạn nhất là khi đơn vị được kiểm toán có quy mô lớn,
quan hệ rộng, đa quốc gia…Hơn nữa, KTV cũng có quan tâm đến khả năng
các xác nhận của bên thứ ba đã qua sự dàn xếp trước của đối tượng được kiểm
toán .

động của đơn vị được kiểm toán.
Theo VSA số 500 : Quan sát là việc theo dõi một hiện tượng, một chu
trình hoặc một thủ tục do người khác thực hiện.
Quan sát là phương pháp mà KTV sử dụng các giác quan của mình để
đánh giá hoặt động nhất định. Ví dụ: kiểm toán viên có thể đi thị sát đơn vị
được kiểm toán để có ấn tượng chung về máy móc thiết bị của đơn vị, quan
sát tính cũ, mới cũng như sự vận hành của máy móc…
Kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán này thu được bằng chứng có
độ tin cậy cao nhưng chỉ đúng ở thời điểm quan sát. Phương pháp này rất hữu
ích để thu thập bằng chứng kiểm toán nhưng bản thân nó chưa thể hiện tính
đầy đủ. Do vậy, cần kết hợp các phương pháp khác. Mặt khác, tính hiệu quả
Trần Thị Trang Kiểm toán 45A
19
19
Khóa luận tốt nghiệp
của phương pháp này phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm của kiểm toán viên
2.5 Phỏng vấn
Phỏng vấn là quá trình KTV thu thập thông tin bằng văn bản hay bằng
lời nói qua việc phỏng vấn những người hiểu biết về vấn đề mà KTV cần
quan tâm. Việc thu thập được bằng chứng kiểm toán khách quan và đáng tin
cậy phụ thuộc vào nhiều kỹ thuật và kinh nghiệm phỏng vấn của kiểm toán
viên. Quá trình phỏng vấn thường bao gồm ba giai đoạn:
Giai đoạn lập kế hoạch phỏng vấn: KTV phải xác định được mục đích,
đối tượng và nội dung cần phỏng vấn, thời gian và địa điểm phỏng vấn…
Giai đoạn thực hiện phỏng vấn: KTV giới thiệu lý do phỏng vấn, trao
đổi về những trọng điểm đã xác định. Khi phỏng vấn kiểm toán viên có thể sử
dụng câu hỏi đóng hoặc mở.
Câu hỏi “mở” giúp được KTV thu được câu trả lời chi tiết và đầy đủ.
Loại câu hỏi này được sử dụng khi KTV muốn thu thập thêm thông tin. Loại
câu hỏi này thường có các cụm từ “thế nào”, “cái gí”, “tại sao”

chứng kiểm toán, là phương pháp áp dụng ở tất cả các chu trình của kiểm toán
tài chính. Phân tích là kỹ thuật chủ yếu của KTV để tìm ra những quan hệ bất
thường hay những thay đổi thực tế khi tiến hành thiết lập những giả thuyết về
sự liên hệ giữa các số liệu, ước tính các số liệu cần kiểm toán và so sánh với
số liệu thực tế, kỹ thuật phân tích thường gồm ba yếu tố: dự đoán, so sánh và
đánh giá:
- Dự đoán là sự ước đoán về số dư tài khoản, giá trị tỷ suất hoặc xu
hướng .
- So sánh là việc đối chiếu ước đoán trên với số báo cáo.
- Đánh giá là việc sử dụng các phương pháp chuyên môn và kỹ thuật
khác (như phỏng vấn, quan sát) để phân tích và kết luận về các chênh lệch khi
so sánh.
Trần Thị Trang Kiểm toán 45A
21
21
Khóa luận tốt nghiệp
Kỹ thuật phân tích được tiến hành theo cách: Kiểm tra tính hợp lý, phân
tích xu hướng, phân tích tỷ suất.
Kiểm tra tính hợp lý thường bao gồm những so ánh chủ yếu như:
So sánh giữa số liệu thực tế của đơn vị với số liệu kế hoạch, dự toán: Từ
kết qua so sánh, việc điều tra những sai biệt lớn giữa số thực tế và số kế hoạch
sẽ gíup KTV phát hiện những sai sót trong Báo cáo tài chính hoặc các biến
động lớn trong tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị.
So sánh giữa chỉ tiêu của đơn vị với chỉ tiêu bình quân nghành: Thông
thường, các chỉ tiêu của đơn vị được kiểm toán có sự tương đồng chỉ tiêu của
nghành trong một phạm vi nhất định. Thí dụ, tỷ lệ lãi gộp trên doanh thu, tỷ lệ
chi phí nguyên vật liệu chính trong giá thành sản phẩm… Sự so sánh số liệu
của đơn vị với số liệu của ngành làm cho thông tin thu được có đọ tin cậy cao
hơn hơn việc so sánh đơn thuần trong nội bộ đơn vị. Tuy vậy , KTV cần chú ý
rằng số liệu của nghành là số trung bình và trên một phạm vi rộng. Do đó mức

Phân tích được đánh giá là một thủ tục kiểm toán có hiệu quả cao nhất
vì thời gian ít, chi phí thấp, mà lại có thể cung cấp các bằng chứng về sự đồng
bộ, chuẩn xác và có giá trị về các số liệu kế toán; đồng thời giúp đánh giá
được những nét tổng thể và không bị sa vào các nghiệp vụ cụ thể. Tuy nhiên
khi áp dụng thủ tục này cần phải chú ý những vấn đề sau:
- Mối quan hệ bản chất giữa các chỉ tiêu được so sánh: việc phân tích sẽ
vô nghĩa nếu các chỉ tiêu không đồng nhất về nội dung và phương pháp tính,
giữa chúng phải có mối quan hệ hay liên hệ nhất định.
- Với những khoản mục trọng yếu KTV không chỉ đơn thuần áp dụng
kỹ thuật phân tích, mà còn phải kết hợp với các kỹ thuật khác để tìm bằng
chứng kiểm toán thích hợp.
Trần Thị Trang Kiểm toán 45A
23
23
Khóa luận tốt nghiệp
- Trong điều kiện hệ thống kiểm soát nội bộ của Công ty khách hàng là
yếu kém, KTV phải cẩn thận trong khi phân tích để tìm kiếm bằng chứng
kiểm toán và KTV nên kết hợp với các kỹ thuật khác.
- Đánh giá chênh lệch khi phân tích của KTV sẽ sai lầm nếu thiếu sự
hiểu biết về những mức chuẩn ngành kinh doanh của khách hàng.
II. THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG QUY
TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH.
1. Thu thập bằng chứng kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch
kiểm toán
Lập kế hoạch kiểm toán không chỉ xuất phát từ yêu cầu của cuộc kiểm
toán mà còn là nguyên tắc cơ bản trong kiểm toán đã được quy định thành
chuẩn mực và đòi hỏi KTV phải tuân thủ theo đầy đủ nhằm đảm bảo kiểm
toán có hiệu quả và chất lượng. Đối với bằng chứng kiểm toán, lập kế hoạch
kiểm toán giúp KTV thu thập các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị
làm cơ sở để đưa ra các ý kiến xác đáng về các báo cáo tài chính, từ đó hạn

Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro kiểm
toán
Tìm hiểu cơ cấu kiểm soát nội bộ và
đánh giá rủi ro kiểm soát
Lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và
soạn thảo chương tình kiểm toán
25
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status