Thực tiễn thực thi chính sách tiền tệ ở Việt Nam - Pdf 69

Thực tiễn thực thi chính sách tiền tệ ở Việt Nam.
I. THỰC TIỄN THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM TRONG THẬP KỈ 90.
Trong công cuộc đổi mới nền kinh tế Việt Nam thời gian qua.việc đổi
mới cải cách hoạt động Ngân hàng là khâu rất cơ bản, được coi là mũi “Đột
phá khẩu” tạo những bước tiến vững chắc đưa nền kinh tế chuyển sang kinh tế
thị trường. Đặc biệt, điều được quan tâm nhất trong qúa trình đổi mới là làm
thế nào để xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ một cách hiệu quả nhất.
Chính sách tiền tệ là một công cụ của chính sách kinh tế vĩ mô, đóng góp
vai trò quan trọng trong điều tiết, quản lí nền kinh tế thị trường. Việc đề ra
chính sách tiền tệ là chức năng của ngân hàng Nhà nước, tuy vậy, chính sách
tiền tệ là một bộ phận trong chính sách kinh tế Nhà nước nên cần phải gắn liền
với việc phảt triển kinh tếvà chính sách kinh tế của Nhà nước. Việc thực thi
chính sách tiền tệ hiệu quả có nhiều đóng góp to lớn trong kiềm chế lạm phát,
thúc đẩy nền kinh tế phát triển và tăng trưởng. Nền kinh tế Việt Nam ta những
năm 90 có 2 giai đoạn chủ yếu. Với bước đột phá của đường lối đổi mới, giai
đoạn thứ nhất 90-95 được coi là giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế, thoát qua
cơn thử thách khó khăn của chặng đường đầu của quá trình đổi mới sang kinh
tế thị trường. Giai đoạn 1996 -2000 là giai đoạn đầu tư phát triển kinh tế cao,
tạo tiền đề vật chất và nền tảng cho bước phát triển lâu bền của nền kinh tế
sang thềm thế kỉ 21. Vậy ta thử xem tác động trong từng giai đoạn như thế
nào?
1. Nhận định chung.
Vượt qua cơn thử thách khắc nghiệt của những năm cuối thập kỉ 80,
Nền kinh tế Việt Nam đã và đang bước sang giai doạn tạo đà phát triểnvới tốc
độ cao. Đó là nhờ hàng loạt chính sách đổi mới theo cơ chế thị trường có tác
dụng to lớn thu hút lòng tin đối với đầu tư nước ngoài. Liên tục từ năm 1988
đến vay, mọi nỗ lực của chính phủ Việt Nam là làm thế nào để kiềm chế lạm
phát ở mức từ 3 con xuống còn một con số. Thành công đáng nói là trong khi
lạm phát được kéo xuống nhưng nền kinh tế vẫn tăng trưởng cao, khá ổn định.
Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế bình quân tăng hàng năm từ 7 - 8%. Thêm vào đó,
lòng tin của nhân dân đối với đồng tiền Việt Nam từng bước được khôi phục,

quanh 4 - 12%, nhưng ngân hàng Nhà nước chưa có khả năng kiểm soát theo
mong muốn. Một khi có những cơn sốc về phía cung, nền kinh tế sẽ vấp phải
những vấn đề khó khăn khó tránh khỏi.
Chẳng hạn như năm 1993 ngân hàng Nhà nước dự kiến lạm phát ở mức
10 - 13%, nhưng thực tế chỉ có 5,2%. Sở dĩ như vậy, bởi vì hàng mùa hè của
Trung Quốc tràn sang với giá rẻ do chính sách điều tiết tỷ giá của họ. Điều này
dẫn đến giảm phát ở nước ta. Nếu năm 1994 chúng ta dự tính lạm phát chỉ ở
mức một con số thì tình hình lại ngược lại. Lũ lụt ở đồng bằng sông Cửu
longlàm mất mùa khiến giá cả lương thực và thực phẩm tăng cao. Tỷ lệ lạm
phát năm 1994 tăng lên. Do đó, có thể nói, khả năng kiểm soát lạm phát của
Nhà nước ta chưa đồng đều, chưa hạn chế được những trở ngại khách quan.
Hơn thế nữa, do nền kinh tế bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ của
khu vực, chính phủ đã cắt giảm chi tiêu, đưa ra các qui định hạn chế nhập khẩu
tạm thời. Tiến hành phá giá đồng tiền Việt Nam khoảng 17% và hạn chế tăng
trưởng tiền tệ. Chính vì vậy, nhịp độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong
những năm gần đây giảm sút nghiêm trọng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đã
giảm từ 8% năm 1990 xuống còn 5,85% năm 1998. Thêm vào đó, tình hình
kinh tế hiện nay đang có dấu hiệu mau chóng dần đến thiểu phát khiến cho sự
phục hồi kinh tế càng trở nên khó khăn. Hệ thống tiền tệ tín dụng ngân hàng
hoạt động không hiệu quả, khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế kém. Ở các
doanh nghiệp sản suất , hàng tồn kho quá nhiều, một bộ phận dân cư còn bị
thiếu đói do ảnh hưởng của hạn hán, gây ảnh hưởng xấu đến các vấn đề xã hội.
Có thể nói, nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu
và có xuất phát điểm rất thấp so với các nước ngoài. Do đó để tránh tụt hậu,
chúng ta phải đề ra những chính sách tiền tệ phù hợp, góp phần ổn định và
phát triển kinh tế.
2. Nội dung của chính sách tiền tệ.
2.1 Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước là chính sách mà ngân hàng
nhà nước thực hiện cung ứng tiền cho nền kinh tế ở mức kiểm soát được lạm

nghiêm trọng. Sự khó khăn trong việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm
đã tác động không nhỏ đến tốc độ chu chuyển vốn trong nền kinh tế, hiệu quả
sản suất kinh doanh và nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp. Mặt khác, khu vực
kinh tế nhà nước - nơi chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế lại hoạt động kém
hiệu quả, quy mô vốn nhỏ, lại đang trong quá trình tổ chức sắp xếp đã ảnh
hưởng lớn đến nhu cầu và điều kiện vay vốn, đến quan hệ tín dụng trong nền
kinh tế. Hơn thế nữa, cùng với sự đổi mới cơ chế quản lí việc thẩm định các dự
án cho vay và việc sử dụng vốn, đến quan hệ tín dụng của các tổ chức tín dụng
có nhiều diễn biến tích cực, chặt chẽ hơn nhằm đảm bảo hiệu quả nguồn vốn
vay. Vì vậy, các quyết định đi vay để đầu tư không dễ dàng như trước. Tất cả
những điều này dẫn đến dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng có xu hướng
chậm lại, khả năng hấp thụ vốn giảm đi.
Do đó, chúng ta thấy rằng việc sử dụng công cụ hạn mức tín dụng của
NHNN Việt Nam chưa thật sự hiệu quả. Đây vẫn là công cụ cứng nhắc, làm cho
hệ thống NHTM không phát triển được, dẫn đến tình trạng phi trung gian hoá.
Theo đó, hệ thống huy động vốn và cho vay ngoài sự kiểm soát của NHNN đi
vào quỹ đạo hoạt động mạnh, gây cản trở chung cho hoạt động của toàn hệ
thống ngân hàng và thị trường tài chính ở Việt Nam.
2.2.2. Chính sách tái chiết khấu
Đây là công cụ gián tiếp mà NHNN Việt Nam sử dụng để đảm bảo an
toàn cho toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng như bảo đảm khả năng chi trả và
thanh toán của hệ thống tín dụng.
Vậy chúng ta hãy xem xét cơ chế hoạt động của nghiệp vụ này của NHNN
Việt Nam như thế nào?
Chính sách tái chiết khấu của NHNN Việt Nam thực chất là việc cung
ứng tín dụng của NHTW thông qua: chiết khấu giấy tờ có giá, cho vay chiết
khấu, hoặc chiết khấu giấy tờ có giá, cho vay tái cấp vốn. Tín dụng là hoạt động
truyền thống của ngân hàng nói chung. Có ngân hàng là có tín dụng, đặc biệt là
tín dụng dưới hình thức chiết khấu. Đó là việc bán hoặc vay theo giá ấn định
thấp hơn giá trị của vật bán hoặc mức vốn phải trả nợ. Có thể chia thành các

thể dẫn đến tình trạng vay đầu cơ để mua giấy tờ có giá với lãi suất cao hơn.
Có hai điểm lợi đối với người đi vay là giảm được chi phí nhận tiền vay, hai là
mua chứng khoán tiền lãi được nhận trước.
Do đó, vay chiết khấu hoặc tái cấp vốn là một đặc ân đối với tổ chức tín
dụng, nên quyền được vay chỉ có giới hạn và nhất thiết phải có điều kiện.
Với cơ chế hoạt động đó, ta hãy xem thực trạng của chính sách tái chiết
khấu và việc ấn định lãi suất tái chiết khấu của Việt Nam như thế nào?
Ngoài việc phân loại các hình thức tái cấp vốn, các chứng từ có giá,
NHNN còn quy định cả lãi suất tái cấp vốn của mình đối với các tổ chức tín
dụng, cả khung lãi suất huy động và cho vay của các tổ chức tín dụng đối với
nền kinh tế. NHNN đã phát huy hiệu quả cao độ trong việc điều hoà linh hoạt
công cụ tái cấp vốn, nhằm đáp ứng kịp thời vốn cho nhu cầu phát triển kinh tế.
Năm 1999, sau 4 lần điều chỉnh lãi suất tái cấp vốn từ mức 1,1% tháng tại thời
điểm đầu năm đến nay chỉ còn 0,5% tháng. Đặc biệt là theo quyết định 238
(31/7/2000) của NHNN về điều chỉnh hạ lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái cấp
vốn đã giảm từ 0,455, chỉ còn 0,35% tháng. Với công cụ tái cấp vốn, trong thời
gian gần đây, NHNN đã giảm dần tính bao cấp về vốn, thực hiện là người cho
vay cuối cùng, thúc đẩy các ngân hàng tăng cường huy động vốn, tận dụng các
nguồn vốn trên thị trường tiền tệ trước khi trông cậy vào NHNN. Qua đó các
NHTM quốc doanh đã chủ động, tích cực lo nguồn vốn và khả năng thanh
khoản của mình hơn, thực sự chuyển sang kinh doanh hơn, gắn với thị trường
hơn và bắt đầu có ý thức cạnh tranh trên thị trường.
Tuy nhiên công cụ tái cấp vốn ở Việt Nam chưa phát huy được hiệu quả
của mình. Nếu ở Nhật, một sự thay đổi nhỏ trong tỷ lệ tái chiết khấu được xem
như thay đổi trong quan điểm cơ bản về chính sách tiền tệ của các công ty, hộ
gia đình (tác động hiệu ứng thông báo) thì ở Việt Nam, sử ảnh hưởng của công
cụ này là rất nhỏ.
2.2.3. Dự trữ bắt buộc.
Dự trữ bắt buộc là một công cụ đã bước đầu áp dụng để kiểm soát chặt
chẽ khả năng cho vay của các tổ chức tín dụng. Thông qua đó, Nhà nước khống

tiền tệ. Nền kinh tế của hầu hết các nước trên thế giới hoạt động có sôi nổi hay
không là dưa vào hiệu quả của chính sáchnghiệp vụ thị trường mở. Chính vì
vậy, suốt năm đầu của thập kỉ 90, ngân hàng nhà nướcta đã có nhiều cỗ gắng
để tạo tiền đề cho nghiệp vụ thị trườngmở ra đời. Vậy tại sao nghiệp vụ thị
trường mở lại cần thiết như vậy? Tiền đề nào là nềnmóng cho sự ra đời nghiệp
vụ thị trường mở ở Việt Nam ? Liệu sự phát triển thị trường mở ở Việt Nam
trong tương lai như thế nào?
Tầm quan trọng của thị trường mở đối với nền kinh tế Việt Nam Nghiệp
vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua bán nghiên cứu các giấy tờ có giá ngắn
hạn do ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện trên thị trường tiền tệ nhằm
thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
Qua việc mua bán các giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị trường tiền tệ,
ngân hàng Nhà nước tác động đến khả năng cung ứng vốn tín dụng cho nền
kinh tế. Cụ thể là khi ngân hàng trung ương mua các giấy tờ có giá ngắn hạn
sẽ làm tăng khả năng cho vay của các tổ chức tín dụng. Ngược lại khi ngân
hàng Nhà nước bán các giấy tờ có giá làm giảm khả năng tín dụng dẫu đến về
lâu dàigiảm khả năng cung ứng tiền đối với nền kinh tế. So với các công cụ
điều hành chính sách tiền tệ khác như dự trữ bắt buộc hoặc chiết khất, nghiệp
vụ thị trường mở có nhiều ưu điểm hơn. Trước hết , bằng nghiệp vụ này, ngân
hàng Nhà nước hoàn toàn giữ thế chủ động trong khống chế khối lượng giấy
tờ có giá được mua hoặc bán theo ý đồ định trước. Ngân hàng Nhà nước có
thể mua hoặc bán một khối lực lượng giấy tờ có giá rất nhỏ hoặc rất lớn.
Chính vì vậy khả năng điều tiết của ngân hàng Nhà nước vào thị trường tiền tệ
thông qua thị trương này rất lớn, đảm bảo tới mọimức độ điều tiết cần thiết.
Thư hai , nghiệp vụ này giúp cho ngân hàng Nhà nước có thể dễ dàng chỉnh
sửa lại các quyết định đã được thực hiên trước đó. Thứ ba, nghiệp vụ thị
trường mở hoạt động thường xuyên, vì vậy nó cho phép ngân hàng Nhà nước
có thể can thiệp vào thị trường tiền tệ bất cứ lúc nào mà không bị chậm trễ
bởi các thủ tục hành chính. Thứ tư, đây là công cụ điều hành chính sách tiền tệ
một cách gián tiếp. Nó tác dụng vào thị trường tiền tệ thông qua việc tham gia

đến việc ban hành quy chế, quy trình của nghiệp vụ thị trường mở, các quy
định về đăng kí các giấy tờ có giá ngắn hạn, quy chế phát hành, đấu thầu hạch
toán tín phiếu Nhà nước. Nhất nhất, các khâu đã sẵn sàng.
Về hàng hoá: Mục đích điều tiết thị trường của Ngân hàng Nhà nước
thông qua nghiệp vụ thị trường mở chỉ có thể đạt được khi Ngân hàng Nhà
nước thực hiện mua hoặc bán một khối lượng hàng hoá đủ lớn. Hiện tại hàng
hoá thị trường mở không chỉ giới hạn về khối lượng mà còn đơn điệu về chủng
loại. Về chủng loại, đến thời điểm hiện nay chỉ có hai lôại hàng hoá duy nhất
được giao dịch trên thị trường mở là tín phiếu kho bạc Nhà nước và tín phiếu
Ngân hàng Nhà nước. Theo Vụ tín dụng - Ngân hàng Nhà nước, tổng khối
lượng của hai loại hàng hoá này đang được các tổ chức tín dụng lưu giữ chỉ
vào khoảng 3.000 tỉ đồng, trong đó có 1.000 tỉ đồng tín phiếu Ngân hàng Nhà
nước sẽ đến hạn thanh toán vào ngày 27/7/2000. Mặc khác, số hàng hoá này
chỉ tập trung chủ yếu vào một số tổ chức tín dụng quốc doanh (Ngân hàng
Công thương: 1400 tỉ, Ngân hàng Ngoại thương: 800 tỉ, Ngân hàng Đầu tư:
530 tỉ), các tổ chức tín dụng khác chỉ nắm giữ vài chục tỉ đồng. Đồng thời, khối
lượng các giấy tờ có giá ngắn hạn mà các tổ chức tín dụng ở Việt Nam đang
lưu giữ là quá nhỏ, chưa chiếm tới 1% tổng tài sản của các tổ chức tín dụng.
Tại các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, các tổ chức tín dụng coi việc
kinh doanh giấy tờ có giá trị là một trong những nghiệp vụ quan trọng. Chính
vì thế, tỉ trọng vốn đầu tư vào giấy tờ có giá so với tổng tài sản có rất cao. Tại
Thái Lan, tỉ lệ này là khoảng 30%, Hungari khoảng 15%, Mỹ khoảng 30%. Do
đó, một trong những nhiệm vụ đặt ra cho việc triển khai và vận hành có hiệu
quả thị trường mở ở Việt Nam là phải tạo ra được một khối lượng hàng hoá
đủ lớn cho thị trường này hoạt động. Để làm được điều này trong thời gian tới,
Ngân hàng Nhà nước phải phát hành các đợt tín phiếu Ngân hàng Nhà nước.
Việc này chưa chắc đã được thoả thuận từ nhiều phía. Chính bởi vậy, việc tạo
thêm công cụ cho thị trường mở thông qua việc phát hành tín phiếu kho bạc
được coi là biện pháp tối ưu. Để làm được điều này nên chăng, Bộ tài chính
dừng việc huy động vốn cho ngân sách thông qua việc phát hành trái phiếu bán

Nhà nước đang gấp rút lắp đặt thiết bị máy móc và dự đoán các tổ chức tín
dụng sẽ chuẩn bị xong và triển khai hoạt động trong quý III/2000.
Cung ứng tiền Lãi suất Mức độ rủi ro
1. Qua nghiệp vụ TTM Là lãi suất đấu thầu Thấp nhất
2. Qua chiết khấu giấy
tờ có giá
Là lãi suất ấn định
(lãi suất chiết khấu)
Thấp hơn
3. Qua cho vay chiết
khấu hoặc cho vay
tái cấp vốn
a. Có bảo đảm
b. Mức ấn định
Lãi trả trước
Lãi trả sau hàng tháng
Lãi suất ấn định
Lãi suất ấn định
Thấp hơn
Chấp nhận rủi ro để
đảm bảo an toàn hệ
thống
4. Qua cho vay thanh
toán bù trừ
Lãi suất ấn định cao
Không có cơ sở đảm
bảo
5. Qua mua ngoại tệ Tỉ giá ấn định An toàn
6. Dự trữ bắt buộc Không lãi suất An toàn
Ta có thể hiểu rõ các nghiệp vụ, mức lãi suất, độ rủi ro của các công cụ

lượng tiền cung ứng, khối lượng tiền cần phát hành tính trên cơ sở tính toán
mức tiền cung ứng tăng thêm vào đầu kì kế hoạch dựa vào các yếu tố: Tỉ lệ
tăng trưởng kinh tế dự tính, sự thay đổi tốc độ lưu thông tiền tệ và các nhân tố
khác. Công thức tính được cụ thể hoá là:
Lượng tiền cung ứng tăng thêm trong kì = Lượng tiền lưu thông đầu kì
*(tỉ lệ tăng trưởng kinh tế dự kiến + tỉ lệ lạm phát dự tính).
Căn cứ vào kết quả này, Ngân hàng Nhà nước xác định lượng tiền cần
phát hành thêm ra lưu thông. Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước có thể xem xét
đến các yếu tố khác để điều chỉnh số liệu này, ví dụ như sự chênh lệch giữa tốc
độ tăng tiền và tỉ lệ GDP danh nghĩa trong quá khứ hoặc những cam kết của
Ngân hàng Nhà nước với IMF về tốc độ tăng tiền. Theo cách xác định này, hệ số
tạo tiền cũng như sự biến động của tài sản có ngoại tệ dòng không được tính
đến. Vì thế, lượng tiền trung ương cần phát hành vượt quá nhu cầu tiền tệ
thực tế gây khó khăn trong việc kiểm soát sự biến động của lượng tiền cung
ứng.
Từ năm 1996 đến nay, Ngân hàng Nhà nước áp dụng phương pháp xác
định lượng tiền trung ương cần phát hành theo đúng nguyên lí với hai bước:
Thứ nhất, dự tính sự biến động tổng lượng tiền cung ứng MS căn cứ
vào các nhân tố ảnh hưởng đến nhu câù tiền tệ gồm có mức độ tăng trưởng
kinh tế dự tính, tỉ lệ lạm phát dự kiến, sự biến động tốc độ lưu thông tiền tệ dự
kiến.
Thứ hai, xác định lượng tiền trung ương cần tăng thêm trên cơ sở dự
đoán sự biến động của hệ số gia tăng tiền và lượng tiền cung ứng ở bước thứ
nhất. Tuy nhiên, hiện nay vì kỹ thuật thống kê và các dữ liệu cơ sở của thống kê
cũng như dự báo của Ngân hàng Nhà nước chưa được chính xác nên các chỉ số
dự tính về lạm phát, tăng trưởng và tốc độ lưu thông tiền tệ chưa đủ tin cậy để
làm căn cứ dự báo khối lượng tiền cung ứng tăng thêm. Vì thế, cùng với kết
quả trên, Ngân hàng Nhà nước còn xem xét đến sự biến động của nguồn đối

Trích đoạn Các biện pháp hỗ trợ:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status