ĐỒNG RUỘNG VÀ SINH THÁI HỌC ĐỒNG RUỘNG - Pdf 69


1
Chương I
ĐỒNG RUỘNG VÀ SINH THÁI HỌC ĐỒNG RUỘNG
Nội dung
Bên cạnh sinh thái học nông nghiệp, sinh thái học đồng ruộng đóng góp một phần
không nhỏ vào sự phát triển một nền nông nghiệp bền vững. Ðây là một môn khoa học
tổng hợp nghiên cứu về mối quan hệ giữa cây trồng với các thành phần sinh vật khác
(con người, động vật, vi sinh vật, nấm và cỏ dại) thông qua các dòng trao đổi vật chất,
thông tin và năng lượng trong môi trường ánh sáng, nhiệt độ, không khí, nước, độ
ẩm,
đất đai,... Trong suốt quá trình phát triển của nông nghiệp, các sinh vật chủ đạo trên
đồng ruộng đã có sự thay đổi sâu sắc (về thành phần giống, năng suất, kiểu hình, chất
lượng, khả năng chống chịu, v.v...). Ðồng thời, con người đã tạo ra các vùng phân bố
đặc trưng cho các kiểu đồng ruộng khác nhau. Chính vì vậy, các hệ sinh thái đồng ruộng
đã xuất hiện với các cấu trúc và chức nă
ng đặc trưng cụ thể cho từng vùng.
Các nội dung được đề cập trong chương I:
 Khái niệm chung về sinh thái học đồng ruộng.
 Quá trình hình thành và phát triển đồng ruộng.
 Cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái đồng ruộng.

Ảnh. Hệ canh tác nương rẫy tổng hợp của người Tày ở Ðà Bắc, Hòa Bình:
Ruộng bậc thang ở thung lũng, nương lúa và sắn ở trên lưng chừng đồi
và rừng tái sinh ở trên đỉnh đồi
Mục tiêu
Sau khi học xong chương này, sinh viên cần nắm vững:
 Khái niệm, nội dung, đối tượng của sinh thái học đồng ruộng.
 Sự hình thành và phát triển của đồng ruộng.

2


Liên hệ lẫn nhau giữa
các hệ sinh thái trong
hệ sinh thái lục địa Quá trình sản xuất của
quần thể cây trồng trong
hệ sinh thái đồng ruộng Cây
trồng
Hệ sinh thái
đồng ruộng
Nghiên cứu và nêu rõ
hệ sinh thái trong môi trường
do người điều khiển
Lớp đất (cm)

Phân tích tổng hợp
động thái hệ sinh thái
đồng ruộng (liên hệ lẫn
nhau của toàn bộ các
Quần thể cây trồng
Quang hợp Vận chuyển ChínChuyển hoá
năng lượng
Phân phối
năng lượng
Cất giữ
năng lượng
Nước
CO
2

sự diễn biến và quá trình thích ứng của cả hệ sinh thái, giải thích kết cấu, chức năng và
động thái của nó, đồng thời áp dụng phương pháp của kỹ thuật học hệ thống phân tích
cả hệ sinh thái, mới có thể hiểu hệ sinh thái đồng ruộng một cách toàn diện hơn.
2. Quá trình hình thành và phát triển đồng ruộng
2.1 Bắt đầu của nông nghiệp là sự hình thành và phát triển đồng ruộng
Theo hiểu biết hiện nay, loài người cổ xưa nhất (Australopithecus) sinh ra vào thời
kỳ băng hà thứ nhất (trước công nguyên khoảng 1 triệu năm), qua thời kỳ băng hà thứ tư
(trước công nguyên khoảng 25.000 năm) cho đến cuối thời đại đồ đá cũ (trước công
nguyên khoảng 7.000 năm), mới tiến hoá thành loài người ngày nay (Homosapiense),
thờ
i gian khoảng 1 triệu năm. Trong thời gian đó, loài người sinh sống dựa vào săn bắt
và hái lượm, sau đó mới bước vào thời đại chăn nuôi và làm ruộng. Do sự khác nhau
giữa các khu vực, việc phân chia ra các thời đại săn bắt, chăn nuôi, làm ruộng còn phụ
thuộc vào điều kiện thuận lợi và khó khăn của từng vùng. Nhưng dù thế nào, làm ruộng
vẫn là khuynh hướng đã làm cho loài người định cư thành bộ l
ạc, đồng thời cũng thúc
đẩy phát triển nhanh kỹ thuật sản xuất nông nghiệp và phát triển văn hoá-kinh tế-xã hội.
Buổi đầu của kỹ thuật nghề nông, theo truyền thuyết, là được gợi ra từ hạt cốc vùi
trong đất nẩy mầm và sinh trưởng. Nông cụ cổ xưa nhất là cây gậy và rìu đá để đào đất,
điều này cũng nói rõ kỹ thuật nghề nông đầu tiên là bắt đầ
u từ việc đào lật đất (Peake,
1928; Kumadai, 1970). Cày lật đất là cách điều khiển do con người bắt đầu tác dụng vào
hệ sinh thái tự nhiên như rừng, đồng cỏ, bãi sông..., kết quả là đã sinh ra đồng ruộng
chung quanh nhà ở của những người định cư. Nương rẫy đốt là hình thái đầu tiên của
từng mảnh ruộng, tức là đốt rẫy, chọc lỗ bỏ hạt, từ đó
đến thu hoạch không chăm sóc gì
cả, qua nhiều năm đất nghèo đi thì bỏ hoá chuyển đến nơi khác, lại tiến hành kiểu nông
nghiệp bóc lột đất như vậy. Ở Việt Nam đến thời các vua Hùng đã có nền nông nghiệp
ruộng nước, thể hiện qua các truyền thuyết như câu chuyện về Sơn Tinh, Thủy Tinh.
Trên mặt đất của hệ sinh thái nương rẫy có tro là nguồn phân vô cơ phong phú.

Việt Nam đã hình thành hệ thống đê điều và hệ thống “dẫn thuỷ nhập điền”. Vì thế, hệ
sinh thái đồng ruộng của nông nghiệp đất thấp, thông qua các biện pháp trị thuỷ và d
ẫn
tưới, lấy việc khống chế nước làm trung tâm, duy trì cân bằng sinh thái của cả hệ thống
(Morimoto, 1941; Marukufuchi, 1968).
2.2. Sự phân bố của đồng ruộng
Nước là một trong những nhân tố hạn chế sự tồn tại hay không tồn tại của đồng
ruộng, do đó, đối chiếu sự phân bố mưa của lục địa cho thấy: vùng có lượng mưa nhỏ
hơn 250 mm hầu như không có diệ
n tích đồng ruộng. Ngay lúa mì, một cây trồng chiếm
diện tích đồng ruộng rộng nhất thế giới với tổng số 257 khu vực trồng thì 83% số khu
vực là nằm trong vùng có lượng mưa 500 - 1000 mm/năm.
Sự phân bố của đồng ruộng, nói một cách khái quát là do nước, nhiệt độ, địa hình
và vĩ độ hạn chế. Ðối với các loại cây trồng chủ yếu thì bị các điều kiện môi trường nh
ất
định liên hệ với giống cây đó hoặc quan hệ tổ hợp của một số điều kiện nào đó hạn chế.
Ở từng khu vực cục bộ thường bị ảnh hưởng của sâu bệnh. Vì thế, về mặt quy hoạch đất
thích hợp với cây trồng, việc nghiên cứu địa lý sinh thái cây trồng là một trong những
lĩnh vực quan trọng của sinh thái học đồ
ng ruộng. Việt Nam có hai vựa lúa chính là
Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long, đó là hai vùng địa hình bằng
phẳng nhất so với các vùng khác trong cả nước.
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status