NGUYỄN ÁI QUỐC TRUYỀN BÁ CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
VÀO VIỆT NAM VÀ CÁC TỔ CHỨC TIỀN THÂN CỦA ĐẢNG
Giảng viên phụ trách: Tiến sĩ Lê Văn Manh
1. Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước, tiếp thu chủ nghĩa Mác-
Lênin và xác định luận điểm cách mạng giải phóng dân tộc theo con
đường CMVS
1.1. Qúa trình Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường cứu nước đúng
đắn, đến với chủ nghĩa Mác-Lênin và trở thành người cộng sản
a. Cuộc khủng hoảng về con đường cứu nước cuối thế kỷ XIX đầu
thế kỷ XX
* Xã hội thuộc địa, nửa phong kiến Việt Nam
Cuối thế kỷ XIX, sau khi cơ bản kết thúc giai đoạn vũ trang xâm lược,
thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa. Để bóc lột được lợi nhuận
thuộc địa tối đa, thực dân Pháp duy trì phương thức sản xuất phong kiến,
thiết lập một cách hạn chế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Chúng
thực hiện chính sách độc quyền kinh tế về các mặt: xuất nhập khẩu, khai thác
mỏ, giao thông vận tải, ngân hàng, tài chính, thuốc phiện, muối, rượu, chiếm
đất lập đồn điền, lập ra hàng trăm thứ thuế vô lý và vô nhân đạo. Chúng bóc
lột dân ta đến tận xương tuỷ, khiến cho dân ta càng nghèo khổ, nước ta xơ
xác, tiêu điều. Chúng thực hành chính sách chuyên chế về chính trị, làm cho
dân ta không có một chút tự do, dân chủ nào. Để ngăn chặn tình đoàn kết
của dân tộc ta, chúng thực hiện chính sách "chia để trị".
Cùng với độc quyền về kinh tế, chuyên chế về chính trị, về văn hoá,
thực dân Pháp thi hành chính sách ngu dân, nhằm giam hãm dân tộc ta trong
vòng nô lệ.
Những chính sách trên của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam
thay đổi, từ một xã hội phong kiến độc lập, Việt Nam trở thành một xã hội
thuộc địa, nửa phong kiến.
Về cơ cấu xã hội, bên cạnh giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp
nông dân đã tồn tại từ lâu, xuất hiện giai cấp công nhân, giai cấp tiểu tư sản
thành thị và giai cấp tư sản.
biểu cho ý chí chiến đấu bất khuất, kiên cường, bền bỉ của nông dân Việt
Nam là cuộc khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo. Thực dân
Pháp đã bốn lần dùng lực lượng lớn tiến công Yên Thế, nhưng đều bị nghĩa
quân đánh bại. Chỉ sau khi Hoàng Hoa Thám hy sinh (10-3-1913), cuộc khởi
nghĩa Yên Thế (kéo dài 30 năm từ 1883-1913) mới kết thúc.
- Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng tư sản
Sau khi phong trào "Cần Vương" thất bại, nhiều sĩ phu yêu nước
hướng ra nước ngoài tìm con đường cứu nước mới.
Đầu thế kỷ XX, trào lưu dân chủ tư sản qua sách báo của Khang Hữu
Vi, Lương Khải Siêu, gương Duy Tân của Nhật Bản, cuộc vận động hiến
pháp của Trung Quốc (1898), cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc (1911) đã
lôi cuốn nhiều sĩ phu yêu nước, tiêu biểu là Phan Bội Châu và Phan Châu
Trinh.
Là ngọn cờ của phong trào yêu nước chống Pháp hồi đầu thế kỷ, lúc
đầu Phan Bội Châu chủ trương lập chế độ quân chủ lập hiến, năm 1904 đã
lập Duy Tân hội để khôi phục độc lập dân tộc. Tuy vậy, ông vẫn chưa thấy
vai trò chủ lực của nông dân.
Năm 1912, ông cùng một số nhà yêu nước lập ra Việt Nam Quang
phục hội, từ bỏ lập trường quân chủ lập hiến, chuyển sang lập trường dân
chủ tư sản với chủ trương: đánh đuổi giặc Pháp, thành lập Cộng hoà dân
quốc Việt Nam. Năm 1924, ông quyết định cải tổ Việt Nam Quang phục
hội thành Việt Nam Quốc dân Đảng, vạch đường lối chính trị phỏng theo
cương lĩnh Trung Hoa Quốc dân Đảng do Tôn Dật Tiên lãnh đạo. Ông
cũng có cảm tình với nước Nga Xôviết, chủ nghĩa xã hội và có ý đặt hy
vọng vào Nguyễn Ái Quốc.
Hạn chế lớn của ông là chủ trương dựa vào Nhật để đuổi Pháp. Sau
này, trong tác phẩm Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch,
Trần Dân Tiên đã nhận xét con đường đó chẳng khác gì "đưa hổ cửa trước,
rước beo cửa sau".
Con đường cứu nước của Phan Bội Châu đã không thành công. Trong
Nguyễn Sinh Cung, ra đời tại quê mẹ là làng Hoàng Trù (thường gọi là làng
Trùa), xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay
thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).
Thân phụ là Nguyễn Sinh Sắc, sinh năm 1862, quê ở làng Kim Liên
(thường gọi là làng Sen), cùng thuộc xã Chung Cự, cách Hoàng Trù 2km
(nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An). Xuất thân từ gia
đình nông dân, sớm mồ côi cha, mẹ, từ nhỏ đã chịu khó lao động và ham
học. Vì vậy, được cụ Hoàng Đường ở làng Hoàng Trù xin họ Nguyễn Sinh
đem về nuôi. Ông vừa lao động vừa tiếp tục học tập. Khi trưởng thành ông
thành hôn với người con gái đầu của cụ.
Thân mẫu là Hoàng Thị Loan, sinh năm 1868. Bà là một phụ nữ cần
mẫn, đảm đang, đôn hậu, sống bằng nghề làm ruộng và dệt vải, hết lòng
chăm lo cho chồng con ăn học.
Nguyễn Sinh Cung là con thứ ba trong gia đình.
Chị là Nguyễn Thị Thanh, còn có tên là Nguyễn Thị Bạch Liên, sinh
năm 1884.
Anh là Nguyễn Sinh Khiêm, còn có tên là Nguyễn Tất Đạt, sinh năm
1888.
Gia đình Nguyễn Sinh Cung sống trong một căn nhà nhỏ ba gian, lợp
tranh, trên đất vườn của ông bà ngoại tại Hoàng Trù.
Năm 1890 - 1895, Nguyễn Sinh Cung sống ở làng Hoàng Trù trong
tình thương yêu và chăm sóc của bố mẹ và ông bà ngoại. Ông ngoại là
Hoàng Đường, dạy chữ Hán ngay tại nhà cho một số trẻ em trong làng. Bà
ngoại là Nguyễn Thị Kép, làm ruộng để nuôi gia đình.
Ngày 22 tháng 5 năm 1893, Nguyễn Sinh Cung chịu tang ông ngoại.
Khoảng tháng 6 năm 1894, Nguyễn Sinh Cung đón nhận tin vui: Cha
đậu cử nhân, khoa thi giáp Ngọ năm thành Thái thứ 6 tại trường thi Nghệ
An.
Khoảng gần cuối năm 1895, Nguyễn Sinh Cung cùng anh theo cha mẹ
vào Huế. Thời kỳ này từ Nghệ An đi Huế chưa có đường xe lửa và ô tô. Mọi
(Sinh Cung).
Cũng như nhiều vùng khác ở nông thôn Nghệ An, Làng Sen vốn đã
nghèo lại càng nghèo thêm từ khi mất nước. Tại đây, ngoài nghề làm ruộng,
bà con nông dân còn làm nhiều nghề khác như dệt vải, đan lát hoặc nghề sơn
tràng, kiếm củi, đốt than...
Xưa kia, vùng này gọi là Trại Sen với những địa danh toàn sen: nào
Đồng Sen Cạn, Đồng Sen Sâu, Giếng Sen, Đầm Sen; nào Vực Sen, Bàu Sen,
Chợ Sen, Cồn Sen...
Sen góp phần tạo nên cảnh trí thiên nhiên đặc sắc ở đây nên mới gọi là
Làng Sen. Nhân dân Làng Sen tự hào vì làng mình đẹp, lại có nhiều nho sĩ
thường hay lui tới đàm đạo văn chương, thời thế.
Với tâm hồn thơ mộng, rất yêu thiên nhiên, Nguyễn Tất Thành tự hào
với cảnh đẹp của làng quê mình. Nhưng điều đáng tự hào hơn cả là làng Kim
Liên có nhiều di tích lịch sử và anh hùng hào kiệt. Ngay trước ngõ nhà cậu,
chếch về phía phải là Giếng Cốc, nơi bọn thực dân Pháp đã ra lệnh tát cạn
nước để tìm vũ khí của "chung nghĩa binh", khi chúng đã đàn áp được cuộc
khởi nghĩa Vương Thúc Mậu (năm 1886). Hình ảnh người anh hùng của quê
hương, người bạn dạy học của ông ngoại cậu đã hy sinh ngay tại làng để bảo
toàn khí tiết đã từng gây xúc động mạnh trong lòng Nguyễn Tất Thành.
Sau tháng 9 năm 1901, một vinh dự lớn cho Nguyễn Tất Thành là
được cha gửi sang học chữ Hán với thầy Vương Thúc Quý và thầy Trần
Thân ở ngay trong làng Kim Liên. Thầy Vương Thúc Quý vốn là nhà nho,
giàu lòng yêu nước cho nên Nguyễn Tất Thành và bạn học đều chịu ảnh
hưởng chí hướng của thầy. Nguyễn Tất Thành là một học trò nhanh trí và có
trí nhớ tốt, được thầy yêu mến. Học với thầy Vương Thúc Quý, Tất Thành
cảm thấy thoải mái, dễ hiểu vì thầy thức thời, không nệ cổ, không bắt học trò
nhồi sọ cổ văn theo lối "tầm chương trích cú". Là tấm gương sáng cho học
trò noi theo, thầy gợi cho Nguyễn Tất Thành những vấn đề mà trong bước
trưởng thành, anh còn phải tìm hiểu cho đến nơi đến chốn.
Khoảng năm 1901-1902, Nguyễn Tất Thành bước đầu tiếp thu tư
Xương, tỉnh Thái Bình trong dịp ông Nguyễn Sinh Sắc đi gặp các sĩ phu ở
vùng đó.
Theo cha đi khắp đó đây, tầm mắt Tất Thành được mở rộng, quả là "đi
một đoạn đàng, học một sàng khôn". Anh thấy đâu đâu cảnh nghèo đó cũng
phơi bày ra trước mắt. Nhan nhản người ăn xin ở khắp mọi nơi. Hầu như
làng quê nào cũng chỉ nổi lên vài ba ngôi nhà đồ sộ bên cạnh hàng trăm túp
lều xơ xác, tiêu điều. Mùa đông giá lạnh càng nhiều cảnh thê thảm hơn.
Không đủ manh áo che thân, nhiều người phải quấn tơi, chiếu hoặc bao tải
rách. Bọn đế quốc và địa chủ phong kiến đang hút tủy, rút xương dân chúng
bằng hàng trăm thứ thuế nặng nề và phu đài, tạp dịch. Từ người lớn đến trẻ
con ai ai cũng sợ "ông Tây". Anh Thành cảm thấy nỗi nhục mất nước hằn rõ
trên gương mặt mỗi người Việt Nam.
Tháng 9 năm 1905, Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Tất Đạt được thân
phụ xin cho theo học lớp dự bị Trường tiểu học Pháp - bản xứ ở thành phố
Vinh, cách Kim Liên khoảng 14 km.
Hai anh em trọ ở một gia đình nghèo mạn Cầu Rầm (Vinh) và thường
thường chiều thứ bảy đi bộ về thăm nhà, sáng thứ hai lại xuống Vinh.
Chính tại Trường tiểu học này, Nguyễn Tất Thành lần đầu tiên tiếp
xúc với khẩu hiệu TỰ DO - BÌNH ĐẲNG - BÁC ÁI.
Cái nôi quê hương giàu truyền thống bất khuất với bản sắc riêng của
xứ Nghệ đã tạo cho Nguyễn Tất Thành sớm có lòng yêu nước, thương dân,
căm thù giặc và ý chí "Làm trai cho đáng nên trai". Những tấm gương của