ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
--------- ---------
DOÃN THỊ BÌNH
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CHUYỂN
ĐỔI NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM KHI THU HỒI ĐẤT NÔNG
NGHIỆP Ở HUYỆN TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2011
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
--------- ---------
DOÃN THỊ BÌNH
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ
CHUYỂN ĐỔI NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM KHI THU HỒI ĐẤT
NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
việc làm cho người dân
33
Chƣơng 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HỖ TRỢ CHUYỂN ĐỔI NGHỀ
VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI
ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN TỪ LIÊM
38
2.1. Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
2.1.2. Tình hình quản lý, sử dụng đất của huyện Từ Liêm
2.2. Tình hình thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Từ Liêm
2.2.1. Khái quát về công tác thu hồi đất nông nghiệp
2.2.2.Mục đích sử dụng đất nông nghiệp thu hồi trên địa bàn huyện Từ Liêm
2.2.3. Đặc điểm của người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa
bàn huyện Từ Liêm
2.3. Thực trạng về công tác hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm khi
thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Từ Liêm
2.3.1. Thực trạng công tác hỗ trợ về kinh tế
2.3.2. Thực trạng hỗ trợ dạy nghề và học nghề
2.3.3. Thực trạng công tác hỗ trợ tạo việc làm mới
2.4. Những vấn đề bất cập của các chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề và
tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện
Từ Liêm
3
Chƣơng 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM HỖ TRỢ CHUYỂN ĐỔI
QĐ-CP
Quyết định - Chính phủ
UBND
Ủy ban nhân dân
TTCN
Tiểu thủ công nghiệp
HTX
Hợp tác xã
TTGTVL
Trung tâm giới thiệu việc làm
GTVL
Giới thiệu việc làm
XKLĐ
Xuất khẩu lao động
5
huyện Từ Liêm……………………………………………………………………69
Bảng 2.18: Hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm cho các hộ mất đất trên 30% từ
ngày 1/1/2008 đến 30/9/2009 tại huyện Từ Liêm………………………………...71
Bảng 2.19: Tình hình hỗ trợ đền bù và thực trạng đời sống của các hộ dân……...72
6
Bảng 2.20: Tỷ lệ người lao động được trợ giúp sau khi thu hồi đất………………73
Bảng 2.21: Kết quả đăng ký dạy nghề, học nghề năm 2011 tại huyện Từ Liêm…75
Bảng 2.22: Khu vực làm việc trước và sau khi diễn ra việc thu hồi đất…………..78
Bảng 2.23: Tình hình tuyển dụng lao động NN trên đại bàn huyện Từ Liêm…….78
Bảng 2.24: Mục đích sử dụng tiền đền bù khi thu hồi đất của các hộ gia đình…...80
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biều đồ 2.1: Biến động các loại đất giai đoạn 2006-2011………………………...45
PHIẾU ĐIỀU TRA
Phiếu số 01: Nguyễn Thị Mận - xã Xuân Phương
Phiếu số 38: Hoàng Thị Lương - xã Đông Ngạc
Phiếu số 60: Ngô Văn Lịch - xã Mễ Trì
Phiếu số 120: Nguyễn Thị Gấm - xã Mỹ Đình
Phiếu số 135: Nguyễn Ngọc Vàng - xã Phú Diễn
7
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình đô thị hoá đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi cả nước nói
chung và Hà Nội nói riêng. Ở tầm vĩ mô, một mặt đô thị hoá là một trong những
kế như thế nào để có thể thích nghi với hoàn cảnh và điều kiện sống mới? Và Nhà
nước ta đã có những giải pháp, chính sách như thế nào để hỗ trợ, giúp đỡ người
dân ổn định đời sống và sản xuất?
Từ tính cấp thiết trên tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Đánh giá việc thực
hiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm khi thu hồi đất nông
nghiệp ở huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội”
2. Mục tiêu nghiên cứu
-
Đánh giá tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc
làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyê ̣n Từ Liêm giai
đoạn 2000-2011.
-
Đề xuất các giải pháp hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm cho người
lao động nông nghiệp bị thu hồi đất trên địa bàn huyêṇ Từ Liêm.
3. Giới hạn phạm vi, nội dung nghiên cứu
-
Phạm vi nghiên cứu: huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
-
Nội dung nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu đánh giá tình hình thực hiện
chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi
đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
quan tới đối tượng nghiên cứu nhằm rà soát, phát hiện và hệ thống hoá các vấn đề.
-
Phương pháp so sánh: Tiến hành phân lập các nhóm đối tượng và nhóm
chỉ tiêu, đối chiếu các chỉ số định lượng hoặc cấp độ định tính tương ứng để xác
định mức độ giống nhau, khác nhau, từ đó xác định hoặc dự đoán, dự báo các quy
luật, diễn biến của các hiện tượng hoặc mối quan hệ hay tính chất của các đối
tượng nghiên cứu;
-
Phương pháp phân tích: Thông qua các số liệu thống kê từ nguồn thông tin
thu thập được tiến hành phân tích, so sánh từ đó đưa ra những nhận định chủ quan,
những nhận định của những nhà quản lý về vấn đề nghiên cứu.
-
Phương pháp kế thừa: Khảo cứu tài liệu và kế thừa có chọn lọc các kết quả
nghiên cứu của các chương trình, công trình, đề tài khoa học có liên quan tới vấn
đề nghiên cứu;
-
Phương pháp chuyên gia: Tham vấn, trưng cầu ý kiến các nhà khoa học,
các chuyên gia có kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu thông qua
đối thoại trực tiếp, góp ý hoặc phản biện kết quả nghiên cứu.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn gồm 3 phần chính sau:
Chƣơng 1: Tổng quan các vấn đề về thu hồi đất nông nghiệp và các chính sách
thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa
điểm mới [17].
Giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với
một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định [17] .
Trong bồi thường, hỗ trợ đất nông nghiệp, khi Nhà nước thu hồi đất của
nông hộ thì Nhà nước phải tính toán “bồi thường” tiền cho người dân một khoản
tương ứng và phù hợp với giá trị hiện tại của mảnh đất đó. Ngoài ra khi thu hồi đất
thì người nông dân không có việc làm do mất tư liệu sản xuất, Nhà nước tiếp tục
tính toán “bù” thêm một khoản cho người nông dân chuyển đổi nghề mới, tạo việc
làm và ổn định cuộc sống.
Nội dung của các khoản tiền bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp gồm:
11
-
Tiền bồi thường đất: Là khoản tiền bồi thường cho hộ do bị mất tư liệu sản
xuất, cụ thể ở đây là đất nông nghiệp.
-
Tiền bồi thường hoa mầu: Là khoản tiền bồi thường do việc thu hồi đất
làm thiệt hại đến hoa mầu chưa được thu hoạch trên diện tích thu hồi. Mức bồi
thường đối với cây hàng năm tính bằng giá trị sản lượng thu hoạch một vụ tính
theo mức thu hoạch bình quân của ba vụ trước đó theo giá nông sản thực tế ở thị
trường địa phương tại thời điểm bồi thường.
-
Tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp.
khía cạnh quan trọng của sự vận động đi lên của xã hội. Đô thị hoá là một quá trình
lịch sử trong đó nổi lên một vấn đề kinh tế - xã hội là nâng cao vai trò của đô thị
trong sự phát triển mọi mặt của xã hội. Quá trình này bao gồm sự thay đổi trong
phân bố lực lượng sản xuất, trước hết là trong sự phân bố dân cư, trong kết cấu
nghề nghiệp - xã hội, kết cấu dân số, trong lối sống, văn hoá.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt thuận lợi đối với sản xuất và đời sống con
người, sự phát triển nhanh chóng của các đô thị cũng là nguyên nhân chính gây ảnh
hưởng đến cân bằng sinh thái do tài nguyên đất bị khai thác để xây dựng đô thị,
giảm diện tích cây xanh và mặt nước, bùng nổ giao thông cơ giới. Cùng với đó là
sự gia tăng khối lượng khai thác và sử dụng nguồn nước sạch, mức độ ô nhiễm các
chất thải công nghiệp và sinh hoạt ngày càng một lớn. Ngoài ra, sự gia tăng dòng
người di dân từ nông thôn ra đô thị cũng gây nên những áp lực đáng kể về nhà ở và
vệ sinh môi trường,…
Đối với nước ta, từ một nền kinh tế nông nghiệp truyền thống muốn trở
thành nước có nền công nghiệp hiện đại, cần phải đẩy mạnh quá trình CNH - HĐH
đất nước, đó là con đường để sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển,
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Cũng như ở các quốc gia
khác, CNH - HĐH ở nước ta tất yếu kéo theo quá trình đô thị hoá. Tốc độ công
nghiệp hoá càng nhanh sẽ dẫn đến trình độ đô thị hoá càng cao. Đô thị hoá và sự
hình thành các đô thị hiện đại là một trong những chỉ tiêu cơ bản phản ánh trình độ
hiện đại hoá. Về thực chất, CNH - HĐH và đô thị hoá là quá trình cơ cấu lại nền
kinh tế theo hướng phát triển mạnh khu vực công nghiệp, dịch vụ, giảm mạnh lao
động nông nghiệp. Như vậy, phần lớn lao động nông thôn làm nông nghiệp sẽ phải
chuyển sang làm phi nông nghiệp, dân sống ở nông thôn trở thành dân thành thị.
Đến nay, tốc độ CNH - HĐH và đô thị hoá ở Việt Nam đã và đang được đẩy
mạnh, nhưng so với thế giới Việt Nam vẫn ở mức thấp. Theo báo cáo thống kê của
Liên Hợp Quốc, các nước công nghiệp phát triển cho thấy trình độ, đô thị hoá của
nước ta thấp hơn nhiều và năm 2009 mức thu nhập bình quân tính theo đầu người
xếp 138/193 nước. Mức thu nhập bình quân đầu người năm 2010 của Việt Nam
13
14
chuyển đổi mục đích sử dụng sang các loại đất phi nông nghiệp. Nhờ đó đã xây
dựng được nhiều KCN, các cụm công nghiệp, mở rộng và xây dựng mới các khu
đô thị, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội giao thông, cấp điện, cấp thoát
nước, thông tin liên lạc, trường học, bệnh viện,… hoàn thiện và phát triển các cơ
sở dịch vụ như khách sạn, nhà hàng, siêu thị, trung tâm thương mại, trung tâm dịch
vụ, du lịch; mở rộng và xây dựng mới các khu vui chơi giải trí, công viên, cây
xanh,… chính điều đó làm cho quá trình CNH - HĐH có bước tiến đáng kể, quá
trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ hơn.
Tóm lại, nếu CNH - HĐH và đô thị hoá là tất yếu khách quan đối với nước
ta thì việc thu hồi đất để phục vụ cho quá trình này là vấn đề có ý nghĩa quan trọng.
Vì vậy, trong quá trình CNH - HĐH, bất cứ nước nào cũng phải chuyển đổi một số
lượng đất đai từ mục đích nông nghiệp sang mục đích phi nông nghiệp để phục vụ
cho việc phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
1.1.2. Khái quát chung về thực trạng thu hồi đất nông nghiệp phục vụ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá ở Việt Nam
Thực tiễn ở nước ta trong những năm qua cho thấy, CNH - HĐH và đô thị
hoá tất yếu sẽ dẫn đến một bộ phận đất đai được chuyển đổi mục đích sử dụng.
Trong quá trình đó, Nhà nước sẽ thực hiện thu hồi đất để xây dựng các KCN, khu
đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích
quốc gia.
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước cùng nhiệm vụ đặt ra trong
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam 10 năm, quá trình thu hồi đất để
phát triển và xây dựng mới các đô thị, KCN và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở
nước ta diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt đối với đất nông nghiệp.
Theo số liệu của Viện Nghiên cứu định cư (Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn), hàng năm, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi cho phát triển công
nghiệp là khoảng trên 70.000 ha, chưa kể cho phát triển đô thị là khoảng 10.000 ha.
Tuyên Quang
2
Hà Nội
3
Hải Phòng
4
Hưng Yên
5
Hải Dương
6
Vĩnh Phúc
7
Bắc Ninh
8
Kiên Giang
Nguồn: Tổng cục Quản lý đất đai
29 tháng 2 năm 1987 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước giao đất
cho các đối tượng có nhu cầu để sử dụng ổn định lâu dài, có thời hạn hoặc tạm thời
theo quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất được duyệt. Cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền giao đất nào thì có quyền thu hồi đất đó.
Ngày 31 tháng 5 năm 1990 Hội đồng Bộ trưởng ban hành quyết định số
186/HĐBT về việc đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi bị chuyển mục
đích sử dụng vào mục đích khác thì phải bồi thường. UBND các tỉnh, thành phố
quy định cụ thể mức bồi thường thiệt hại của địa phương mình sát với giá đất
17
thực tế ở địa phương nhưng không thấp hơn hoặc cao hơn khung giá định mức. Tổ
chức, cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào
mục đích khác thì phải bồi thường về đất nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước.
Trong giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1993 nhà nước chỉ mới có một số quy
định riêng lẻ về đền bù thiệt hại, chưa hình thành chính sách thu hồi đất. Nguyên
nhân là khi đó đất đai chỉ được xem là tài nguyên có giá trị sử dụng, mặt khác do
nền kinh tế có nhiều khó khăn nên nhu cầu thu hồi đất cũng không lớn.
1.2.1.2. Sau khi có Luật đất đai 1993 đến nay
Hiến pháp năm 1992 vẫn quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và Nhà
nước giao đất, cho thuê đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định, nhưng tiếp
theo đó tuyên bố trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì
lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá
nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường (Điều 23).
Giai đoạn này việc thu hồi và bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất
đã có điều chỉnh so với giai đoạn trước trên cơ sở thực hiện Luật đất đai năm 1993
xác lập quyền sử dụng đất của hộ dân. Chính phủ ban hành Nghị định 90/CP ngày
17 tháng 8 năm 1994 của Chính phủ quy định về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà
nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi
ích công cộng thay thế tất cả các văn bản, chính sách trước đây của Nhà nước về
Nghị định 197/2004 và Nghị định 22/1998 có bố cục về cơ bản thống nhất
với nhau, nhưng Nghị định 197 đã khắc phục được những tồn tại trong Nghị định
22, trong đó quy định “giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử
dụng” do UBND tỉnh quy định. Tại điều 29 quy định: “ 1- Hộ gia đình, cá nhân
trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi bị thu hồi trên 30% diện tích đất sản xuất nông
nghiệp thì được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người trong độ tuổi lao động,
mức hỗ trợ và số lượng lao động cụ thể được hỗ trợ do UBND cấp tỉnh quyết định
phù hợp với thực tế địa phương. 2 - Việc hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp
được thực hiện chủ yếu bằng hình thức cho đi học nghề tại các cơ sở dạy nghề”.
Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về
sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai.
Điểm mới là quy định trường hợp tại thời điểm có quyết định thu hồi đất mà giá
đất chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong
điều kiện bình thường thì UBND cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể cho phù hợp.
19
Sau một thời gian thực hiện Chính Phủ ban hành Nghị Định số 84/2007/NĐCP ngày 25/5/2007 đã thể hiện được tính khả thi và vai trò tích cực của các văn
bản pháp luật. Tại Điều 48 quy định: “Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông
nghiệp bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp trong trường hợp không được
Nhà nước bồi thường bằng đất nông nghiệp tương ứng mà không có nguyện vọng
nhận bồi thường bằng đất làm mặt bằng sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ phi nông
nghiệp thì được bồi thường bằng giao đất ở có thu tiền sử dụng đất tại khu tái định
cư hoặc tại các vị trí trong khu dân cư phù hợp với quy hoạch” [4].
Ngày 13/8/2009 Chính Phủ ban hành Nghị định số 69/2009/NĐ-CP quy
định về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư, bãi bỏ Điều 48 Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 và một số Nghị định
khác của Chính Phủ.
Tại Điều 22 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP quy định:
1.
Tại Khoản 1 điều 23 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP quy định:
1.
Ngoài việc hỗ trợ theo quy định, căn cứ vào tình hình thực tế tại địa
phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định biện pháp hỗ trợ khác để
bảo đảm có chỗ ở, ổn định đời sống và sản xuất cho người bị thu hồi đất; trường
hợp đặc biệt trình Thủ tướng Chính phủ quyết định [5].
Như vậy, khi thu hồi đất Nhà nước có những phương thức xử lý khác nhau
về việc bồi thường, hỗ trợ cho người dân mất đất, có thể bồi thường hỗ trợ bằng
tiền, và cũng có thể bồi thường bằng đất. Tuy nhiên trên thực tế, bồi thường hỗ trợ
bằng tiền được áp dụng rộng rãi hơn cả.
Trên cơ sở các quy định của Nhà nước, để thực hiện và áp dụng cho phù hợp
với tình hình phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, trong những năm qua
UBND thành phố Hà Nội cũng như huyện Từ Liêm đã ban hành các cơ chế chính
sách về công tác bồi thường, hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm khi thu hồi đất
nông nghiệp cho khu vực nông thôn nói chung, lao động trong khu vực thu hồi đất
nông nghiệp nói riêng như sau:
- Chính sách hiện hành được áp dụng theo Quyết định số 108/2009/QĐUBND ngày 29/9/2009 của UBND thành phố Hà Nội quy định:
Tại Điều 40: Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm đối với hộ
gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất
“ 1. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu
hồi đất nông nghiệp thì được hỗ trợ bằng tiền để chuyển đổi nghề nghiệp và tạo
việc làm bằng 05 lần giá đất nông nghiệp quy định đối với diện tích đất nông
nghiệp thực tế bị thu hồi nhưng tối đa không vượt quá hạn mức giao đất nông
nghiệp tại địa phương (diện tích tính hạn mức bao gồm cả diện tích đất đã thu hồi
trước đây).
Hộ gia đình, cá nhân đã được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm
bằng một trong các hình thức: bằng tiền một lần, đăng ký mua căn hộ chung cư,
Thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ
ổn định đời sống trong thời gian 6 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong
thời gian 12 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở;
b)
Thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ ổn
định đời sống trong thời gian 12 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong
thời gian 24 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở;
c)
Mức hỗ trợ cho một nhân khẩu quy định tại các điểm a và b khoản này được tính
bằng tiền tương đương 30 kg gạo trong 01 tháng theo thời giá trung bình ở Hà Nội
tại thời điểm hỗ trợ do Sở Tài chính công bố.
Hộ gia đình, cá nhân chỉ được hỗ trợ theo quy định này một lần, sau này khi Nhà
nước tiếp tục thu hồi đất không được hưởng khoản hỗ trợ này nữa” [13].
22