ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VŨ THỊ PHƯƠNG ANH
NGÀNH BẢO HIỂM VIỆT NAM TRƯỚC VÀ SAU
GIA NHẬP WTO
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Hà nội - 2007
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VŨ THỊ PHƢƠNG ANH
Đề tài:
NGÀNH BẢO HIỂM VIỆT NAM TRƢỚC VÀ SAU
GIA NHẬP WTO
Chuyên ngành: KTTG&QHKTQT
Mã số: 60 31 07
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS TRẦN THỊ THÁI HÀ
2
2.1.1 Sự ra đời và phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam: giai đoạn trƣớc
1993 ............................................................................................................. 39
2.1.2 Quá trình phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam: giai đoạn 1993 –
nay ............................................................................................................... 41
2.2 Đánh giá ................................................................................................ 53
2.2.1 Những mặt đạt đƣợc ........................................................................... 53
2.2.2 Những thách thức của ngành bảo hiểm Việt Nam trong điều kiện gia
nhập WTO và một số nguyên nhân ............................................................. 64
CHƢƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH BẢO HIỂM VIỆT
NAM TRONG ĐIỀU KIỆN GIA NHẬP WTO ......................................... 83
3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về phát triển hội nhập ngành bảo
hiểm ............................................................................................................. 83
3.2 Các cam kết trong lĩnh vực bảo hiểm của Việt Nam đối với tổ chức
thƣơng mại thế giới WTO ........................................................................... 85
3.3 Các giải pháp kiến nghị nhằm phát triển thị trƣờng ngành bảo hiểm Việt
Nam trong điều kiện gia nhập WTO ........................................................... 87
3.3.1 Hoàn thiện khung pháp lý cho sự phát triển của ngành ..................... 87
3.3.2 Phát triển thị trƣờng tài chính làm tiền đề cho sự phát triển thị trƣờng
bảo hiểm ...................................................................................................... 89
3.3.3 Giải pháp về phía ngành bảo hiểm ..................................................... 92
KẾT LUẬN………………………………………………………………101
PHỤ LỤC
3
DNTN:
Doanh nghiệp tƣ nhân
GATT:
General Agreement on Tariffs and Trade
Hiệp định chung về thƣơng mại và thuế quan
GDP:
Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm quốc nội
GNI:
Gross National Income - Tổng thu nhập quốc dân
NT:
Nhân thọ
PNT:
Phi nhân thọ
TNDS:
Trách nhiệm dân sự
TNHH:
trúc tƣơng đối hồn chỉnh. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế nƣớc ta có xuất phát điểm
thấp, lại vẫn cịn đang trong q trình chuyển đổi nên sự phát triển của thị trƣờng tài
chính nói chung cịn rất nhiều hạn chế. Thị trƣờng tài chính của chúng ta hiện nay vừa
nhỏ bé về quy mô vốn, lạc hậu về hạ tầng cơ sở và khoa học công nghệ, vừa nghèo nàn về
phƣơng thức và công cụ giao dịch. Về tổng thể vẫn là một thị trƣờng cịn non trẻ và phát
triển ở trình độ thấp so với các nƣớc trong khu vực và trên thế giới. Ngành bảo hiểm Việt
nam là một bộ phận tƣơng đối quan trọng trong thị trƣờng tài chính cũng khơng nằm
ngồi những nhận xét đó.
Phát triển ngành bảo hiểm nói riêng cũng nằm trong sự phát triển của thị trƣờng tài
chính Việt nam nói chung cịn là một địi hỏi của thực tế khách quan trong bối cảnh Việt
nam gia nhập Tổ chức thƣơng mại thế giới WTO hiện nay. Tuy nhiên muốn hội nhập
thành công hay là để cho hội nhập trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển tích cực của
ngành bảo hiểm Việt nam, bản thân ngành cũng phải đạt đến một trình độ phát triển hợp
lý để đủ mạnh tiếp thu những thay đổi tích cực và đối phó kịp thời với những biến động
của các nhân tố bên ngoài.
5
Câu hỏi đựơc đặt ra là: Thực trạng phát triển của ngành bảo hiểm Việt nam nhƣ thế nào
và cần phải có các giải pháp gì để phát triển ngành kinh doanh bảo hiểm Việt nam trong
điều kiện Việt nam đang trên đƣờng hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới
nói chung mà cụ thể là gia nhập Tổ chức thƣơng mại thế giới WTO và hội nhập thị trƣờng
tài chính quốc tế nói riêng. Đó là lý do để: "Ngành bảo hiểm Việt nam trƣớc và sau khi
gia nhập WTO" đƣợc chọn để làm để tài của luận văn thạc sỹ này.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài ở trong và ngoài nƣớc:
Ở nƣớc ngồi: Thị trƣờng tài chính nói chung, thị trƣờng bảo hiểm nói riêng là một
trong các vấn đề đƣợc quan tâm hàng đầu tại các quốc gia, nhất là trong giai đoạn hiện
nay. Sự mở rộng thông tin cùng với sự gia tăng của nhu cầu bảo hiểm cho các tất cả mọi
hoạt động kinh tế xã hội khiến cho ngành kinh doanh bảo hiểm đƣợc quan tâm sâu rộng.
nhập tổ chức thƣơng mại thế giới WTO". Vì vậy có thể nói đây là cơng trình đầu tiên
nghiên cứu về vấn đề này, đặc biệt trong chuyên ngành Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế
quốc tế.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về ngành
kinh doanh bảo hiểm và đánh giá thực trạng phát triển, mức độ hội nhập quốc tế hiện nay
của ngành bảo hiểm Việt nam, luận văn đề xuất các giải pháp để phát triển ngành bảo
hiểm Việt nam trong thời gian tới đáp ứng các yêu cầu của việc hội nhập ngành trong
WTO.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Khảo sát kinh nghiệm quốc tế về phát triển thị trƣờng bảo hiểm và tác động của mở
cửa thị trƣờng tài chính đối với bảo hiểm và qua đó tới nền kinh tế
- Khảo sát các khía cạnh của lĩnh vực bảo hiểm ở Việt nam và đánh giá cơ hội và
thách thức trong điều kiện hội nhập.
- Trên cơ sở các khảo sát trên thiết lập các luận cứ lý luận và thực tế cho những đề
xuất.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
7
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn chỉ nghiên cứu lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm (hay
còn gọi là Bảo hiểm thƣơng mại). Khơng nghiên cứu các loại hình bảo hiểm mang tính
chất cộng đồng, nhân đạo (BHXH, BHYT, BHTN)
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu thực trạng ngành bảo hiểm Việt nam trong
khoảng thời gian từ năm 1993 đến nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
-
Phƣơng pháp phân tích tổng hợp tài liệu
Theo Luật kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam: Kinh doanh bảo hiểm đƣợc định nghĩa là
hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo
hiểm chấp nhận rủi ro của ngƣời đƣợc bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí
bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho ngƣời thụ hƣởng hoặc bồi
thƣờng cho ngƣời đƣợc bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
1.1.2 Nguyên tắc của hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Cũng giống nhƣ bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào, ngoài mục tiêu bảo đảm, chia sẻ
rủi ro thì lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Để đạt đƣợc
mục tiêu này, hoạt động kinh doanh bảo hiểm cần phải tuân thủ 5 nguyên tắc sau:
Nguyên tắc số đơng bù số ít: Hoạt động bảo hiểm thƣơng mại chính là một hoạt động
nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời, theo đó cơng ty bảo hiểm nhận một khoản tiền gọi là
phí bảo hiểm để có thể phải chi trả một khoản tiền theo hợp đồng bảo hiểm cho ngƣời thụ
hƣởng hoặc bồi thƣờng cho ngƣời đƣợc bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra. Khoản
tiền bồi thƣờng hay chi trả này thƣờng lớn hơn rất nhiều lần mức phí mà ngƣời chủ hợp
đồng bảo hiểm bỏ ra để bảo đảm cho sự kiện đó. Nhƣ vậy, để có thể thực hiện đƣợc hoạt
động này, các cơng ty bảo hiểm phải tuân thủ theo nguyên tắc số đơng bù số ít. Đây là
ngun tắc xun suốt, khơng thể thiếu trong bất kỳ một hoạt động kinh doanh bảo hiểm
nào, theo đó hậu quả của rủi ro xảy ra đối với một hoặc một số ít ngƣời sẽ đƣợc bù đắp
bằng số tiền huy động đƣợc từ rất nhiều ngƣời có khả năng xảy ra những rủi ro tƣơng tự.
Thơng qua việc huy động đủ số phí cần thiết để chi bồi thƣờng trong trƣờng hợp có thiệt
hại xảy ra, công ty bảo hiểm đã thực hiện việc bù trừ rủi ro theo quy luật số lớn. Theo quy
luật này, càng nhiều ngƣời tham gia vào bảo hiểm cho một sự kiện thì việc chi trả cho sự
kiện đó càng trở nên dễ dàng, và rủi ro sẽ càng đƣợc san sẻ cho nhiều ngƣời hơn.
Nguyên tắc rủi ro có thể đƣợc bảo hiểm: Hoạt động kinh doanh bảo hiểm cung cấp các
dịch vụ sản phẩm bảo hiểm cho những cá nhân và tổ chức có nhu cầu, tuy nhiên không
9
phải mọi nhu cầu bảo hiểm đều có thể đƣợc bảo hiểm. Việc quyết định có bảo hiểm cho
Nguyên tắc trung thực tuyệt đối: nguyên tắc này đƣợc xác định với cả hai bên trong hợp
đồng bảo hiểm: cả công ty bảo hiểm và ngƣời đƣợc bảo hiểm.
Đối với cơng ty bảo hiểm: ngun tắc này địi hỏi công ty bảo hiểm phải cân nhắc các
điều kiện, điều khoản để soạn thảo hợp đồng bảo hiểm hợp lý, đảm bảo chất lƣợng sản
phẩm bảo hiểm, mức phí bảo hiểm và quyền lợi của ngƣời đƣợc hƣởng bảo hiểm. Do sản
phẩm bảo hiểm là một sản phẩm dịch vụ, khách hàng không thể đánh giá ngay từ lúc mua
mà phải thơng qua q trình thực hiện hợp đồng đến khi xảy ra sự kiện. Trong thời gian
đó, sản phẩm bảo hiểm chỉ là một lời hứa sẽ thực hiện, thế nên việc thực hiện theo nguyên
tắc này rất quan trọng đối với khách hàng.
Đối với khách hàng: nguyên tắc này cũng đòi hỏi khách hàng phải khai báo đầy đủ trung
thực các rủi ro tham gia bảo hiểm để cơng ty bảo hiểm xác định đƣợc một mức phí hợp lý.
Thực hiện nguyên tắc này đảm bảo cho hoạt động chi trả bồi thƣờng cho khách hàng từ
phía cơng ty bảo hiểm.
Nguyên tắc quyền lợi có thể đƣợc bảo hiểm: nguyên tắc này yêu cầu ngƣời tham gia
bảo hiểm phải có lợi ích tài chính bị tổn thất nếu đối tƣợng bảo hiểm gặp rủi ro. Nói cách
khác, ngƣời tham gia bảo hiểm phải có một số quan hệ với đối tƣợng đƣợc bảo hiểm và
đƣợc pháp luật công nhận. Mối quan hệ này thể hiện qua quyền sở hữu, quyền chiếm hữu,
quyền tài sản, quyền sử dụng, quyền và nghĩa vụ nuôi dƣỡng, cấp dƣỡng đối với ngƣời
đƣợc bảo hiểm. Nguyên tắc về quyền lợi có thể đƣợc bảo hiểm nhằm loại bỏ khả năng
bảo hiểm cho tài sản của ngƣời khác, hoặc cố tình gây thiệt hại hoặc tổn thất để thu lợi từ
một đơn bảo hiểm.
1.1.3 Phân loại bảo hiểm
Có thể căn cứ theo 3 tiêu chí sau để phân loại bảo hiểm thƣơng mại:
Theo hình thức tham gia: bảo hiểm thƣơng mại có thể phân loại thành bảo hiểm tự
nguyện và bảo hiểm bắt buộc. Bảo hiểm tự nguyện là việc tham gia bảo hiểm hay không
tùy thuộc vào nhu cầu và khả năng của ngƣời tham gia bảo hiểm. Bảo hiểm bắt buộc bao
gồm các sản phẩm bảo hiểm mà luật pháp quy định, trong đó quy định cả về điều kiện bảo
11
phá sản, kéo theo hàng loạt những đổ vỡ có thể có đối với nền kinh tế nhƣ thất nghiệp
hàng loạt, ảnh hƣởng xấu đến các doanh nghiệp cùng kinh doanh, giảm thuế cho Nhà
nƣớc…Rủi ro này có thể đến với tất cả mọi cá nhân hoặc doanh nghiệp. Khi chuyển nó
cho nhà bảo hiểm thơng qua cơ chế chia sẻ rủi ro, gánh nặng ấy đƣợc chia sẻ và trở nên có
thể chịu đựng đƣợc. Sự ổn định kinh tế đƣợc mạng lại thông qua hoạt động bảo hiểm sẽ
khuyến khích các cá nhân hay doanh nghiệp tiến hành chun mơn hóa, tạo nên của cải
vật chất và sẽ chỉ phải dự trù cho những khoản phải trả hoàn tồn đã nằm trong kế hoạch
của họ.
Khía cạnh thứ hai của bảo hiểm đóng góp cho sự phát triển kinh tế đất nước chính là
thơng qua việc giảm gánh nặng cho ngân sách quốc gia. Bảo hiểm, nhất là bảo hiểm
nhân thọ có thể thay thế cho các chƣơng trình an sinh của Chính phủ. Với các sản phẩm
bảo hiểm thay thế cho lƣơng hƣu khi về già cho các cá nhân, thay thế cho trợ cấp cho giáo
dục, y tế…có thể giúp Chính phủ khơng những góp phần ổn định đời sống kinh tế xã hội
mà còn giúp giảm ngân sách chính phủ đáng kể, giảm áp lực lên các hệ thống phúc lợi xã
hội và do đó tạo cơ hội cho các đầu tƣ khác thiết thực hơn cho sự phát triển kinh tế. Đồng
thời với các loại hình sản phẩm thiết kế phong phú có thể làm thỏa mãn những nhu cầu
khác nhau của mỗi cá nhân dựa trên tiềm lực tài chính và những địi hỏi khác nhau của họ,
điều này lại giúp nâng cao chất lƣợng cuộc sống ngƣời dân thông qua việc thỏa mãn tốt
hơn nhu cầu của họ. Đã có rất nhiều cơng trình nghiên cứu chứng minh rằng chi tiêu của
mỗi cá nhân dành cho bảo hiểm nhân thọ sẽ lớn hơn khi chi tiêu của Chính phủ cho bảo
hiểm xã hội giảm đi. Vai trò thay thế này trở nên càng quan trọng trong điều kiện những
thách thức tài chính ngày càng lớn đối với hệ thống bảo hiểm xã hội của các quốc gia trên
thế giới.
Khía cạnh thứ ba, bảo hiểm có thể giúp tập trung tiết kiệm, từ đó tạo ra tốc độ tăng
trưởng cao hơn. Các công ty bảo hiểm đóng một vai trị quan trọng trong việc thu hút tiết
kiệm cá nhân vào đầu tƣ cho nền kinh tế theo ba cách
13
14
càng trở nên quan trọng. Có thể thấy tầm quan trọng này thơng qua ví dụ tại Mỹ, các cơng
ty bảo hiểm cung cấp tài chính cho một phần ba tổng lƣợng nợ của các doanh nghiệp.
Một hệ thống tài chính phát triển hồn chỉnh sẽ có vơ số các định chế và cơng cụ tài chính
phục vụ cho nó. Số lƣợng các định chế và sản phẩm tài chính này biểu hiện cho độ phức
tạp và mức độ phát triển của thị trƣờng tài chính. Hệ thống ngân hàng sẽ tập trung cho các
khoản tiền gửi và cho vay ngắn hạn (tất nhiên cũng bao gồm cả dòng cho vay ngắn hạn
của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ), còn các định chế tiết kiệm theo hợp đồng nhƣ bảo
hiểm thƣờng chú trọng vào các dòng cho vay dài hạn hơn. Những dòng tiền dài hạn này là
những khoản đầu tƣ lý tƣởng cho các chính phủ và các doanh nghiệp tại tất cả các nền
kinh tế.
Khía cạnh thứ tư mà bảo hiểm góp phần vào phát triển nền kinh tế chính là việc bảo
hiểm giúp cho quản trị rủi ro trở nên hiệu quả hơn. Các hệ thống tài chính thực hiện
việc di chuyển, chia sẻ và giảm rủi ro. Nếu một hệ thống tài chính cung cấp đƣợc những
dịch vụ quản trị rủi ro này thì sẽ kích thích đƣợc tiết kiệm và đầu tƣ đồng thời phân bổ
nguồn lực một cách hiệu quả hơn. Thành công của một thị trƣờng cạnh tranh phụ thuộc
vào việc đặt giá. Định giá cho rủi ro là vấn đề căn bản của tất cả các trung gian tài chính,
cũng giống nhƣ bất kỳ một nhà sản xuất nào định giá cho sản phẩm của mình, điều này
thực sự quan trọng. Các công ty bảo hiểm định giá cho rủi ro của mình ở hai cấp độ: họ
đánh giá khả năng mất mát của các doanh nghiệp cá nhân và tài sản mà họ có thể bảo
hiểm và cải biến các rủi ro đó làm thay đổi khả năng hứng chịu rủi ro của các đối tƣợng
trên. Tiềm năng mất mát dự tính càng lớn thì mức phí càng cao. Bằng cách đánh giá tiềm
năng mất mát, các công ty bảo hiểm buộc các đối tƣợng đƣợc bảo hiểm phải tự lƣợng hóa
đƣợc các hoạt động gây rủi ro và giảm cũng nhƣ quản lý đƣợc rủi ro đó một cách hợp lý.
Khi các dự án trở nên quá rủi ro đối với bảo hiểm dù ở bất kỳ mức giá nào thì các nhà đầu
tƣ sẽ đƣợc báo trƣớc và sẽ kỳ vọng một mức hợp lý lợi tức có thể bù đắp đƣợc rủi ro đó.
Các rủi ro sau khi đƣợc chuyển giao cho các công ty bảo hiểm dƣới dạng một hợp đồng
hợp lý và một mức phí nhất định sẽ đƣợc biến thành các cơ hội sinh lời thông qua hoạt
vai trò của bảo hiểm đối với các nền kinh tế trong thời kỳ mở cửa hội nhập còn đƣợc
16
thể hiện ở vai trị của các cơng ty bảo hiểm nƣớc ngồi trong việc khuyến khích phát
triển nền kinh tế tại thị trƣờng nội địa.
Việc mở cửa hội nhập với nền kinh tế thế giới tạo điều kiện gia nhập mạnh mẽ của các
cơng ty bảo hiểm nƣớc ngồi tại thị trƣờng nội địa. Giống nhƣ việc gia nhập vào một thị
trƣờng mới, việc xuất hiện các hãng bảo hiểm nƣớc ngoài tại thị trƣờng nội địa trƣớc hết
sẽ tạo ta một làn sóng cạnh tranh cải thiện chất lƣợng các dịch vụ của ngành. Việc xuất
hiện thêm một số lƣợng lớn các hãng kinh doanh bảo hiểm nƣớc ngoài, cộng với các chi
nhánh và liên doanh sẽ làm đa dạng hóa thị trƣờng bảo hiểm, nâng cao sự quan tâm của
ngƣời dân và các tổ chức kinh tế trong nƣớc dẫn đến sự gia tăng tiết kiệm nội địa, gia tăng
đầu tƣ nội địa và cải thiện nền kinh tế. Điều này đƣợc thực hiện thông qua những hiệu
ứng lan tỏa về lợi ích trong nƣớc, bao gồm việc tạo ra những việc làm chất lƣợng cao,
những mối liên hệ giúp phát triển các khu vực dịch vụ liên đới và việc giảm bớt những
thiệt hại mang tính xã hội. Thị trƣờng bảo hiểm nằm trong sự phát triển chung của thị
trƣờng tài chính, trong đó có thị trƣờng ngành ngân hàng và chứng khoán. Sự phát triển
của thị trƣờng này nhất định sẽ có tác dụng tốt thúc đẩy kéo theo sự phát triển của các thị
trƣờng kia và ngƣợc lại. Đồng thời, sự xuất hiện của các hãng bảo hiểm nƣớc ngoài cũng
là sự xuất hiện của các nhà đầu tƣ tại thị trƣờng nội địa. Với số vốn huy động đƣợc, cùng
với các cơ hội đầu tƣ tại nƣớc đặt chi nhánh, họ có thể tiến hành các hoạt động đầu tƣ
kinh doanh kiếm lời ngay tại quốc gia đặt chi nhánh, điều này giúp nền kinh tế quốc gia
phát triển và lại càng thu hút nhiều cơ hội đầu tƣ từ quốc tế.
Có thể thấy đƣợc tầm quan trọng của sự xuất hiện các hãng bảo hiểm nƣớc ngoài tại các
quốc gia mở cửa thị trƣờng dịch vụ tài chính nói chung và thị trƣờng bảo hiểm nói riêng.
Qua đó thấy đƣợc vai trị đóng góp to lớn của bảo hiểm trong một nền kinh tế hội nhập,
vai trò của bảo hiểm trong nền kinh tế đang mở cửa còn thể hiện ở chỗ: bảo hiểm đƣợc
coi là đảm bảo cho hoạt động đầu tƣ phát triển một cách gần nhƣ bắt buộc với các
hiểm trong những nền kinh tế phát triển là do xuất hiện nhiều các định chế tài chính với
thị trƣờng tài chính phát triển tạo nên nhiều cơ hội kinh doanh kiếm lời cho các doanh
nghiệp bảo hiểm khiến nó dần dần phát triển thành một ngành kinh doanh kiếm lời nóng
18
trong các nền kinh tế phát triển thay vì chỉ là những công cụ để chia sẻ rủi ro nhƣ trƣớc
đây.
Khía cạnh thứ hai là tỷ lệ tiết kiệm trong nền kinh tế. Bảo hiểm nhân thọ đóng một vai trị
chủ yếu trong tiết kiệm của các hộ gia đình. Nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ trở nên mạnh
mẽ nhất trong các nƣớc có tỷ lệ tiết kiệm và tỷ lệ tiết kiệm trên thu nhập cao. Thực vậy,
các nghiên cứu về ngành công nghiệp bảo hiểm đã chỉ ra mức phí bảo hiểm gia tăng
nhanh hơn so với thu nhập của quốc gia. Tại một số nƣớc đang phát triển hoặc mới phát
triển, tham gia bảo hiểm đối với ngƣời dân đồng nghĩa với tiết kiệm một khoản tiền cho
tƣơng lai. Tỷ lệ tiết kiệm cao sẽ dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của thị trƣờng bảo hiểm
với các hợp đồng dài hạn, và do đó kích thích sự phát triển của cả ngành bảo hiểm
Một phần theo nhân tố kinh tế, yếu tố kinh tế nhƣ là lạm phát và chiều sâu thị trƣờng cũng
có ảnh hƣởng đến sự thâm nhập của ngành bảo hiểm. Sự gia tăng lạm phát thƣờng đi đôi
với sự gia tăng các yếu tố bất định chung trong cộng đồng. Trong thời gian có lạm phát
cao và tính khơng ổn định của nền kinh tế, ngƣời tiêu dùng thƣờng có xu hƣớng tìm kiếm
những khoản đầu tƣ ngắn hạn và có tính thanh khoản cao. Bảo hiểm nhân thọ vẫn là loại
hình đƣợc xem nhƣ là một khoản chi cố định và dài hạn, thế nên lạm phát cao thƣờng đi
đôi với sự suy giảm trong nhu cầu bảo hiểm nhân thọ. Ảnh hƣởng này bị trầm trọng thêm
do sự nhận thức đƣợc rằng lạm phát làm xói mịn giá trị của các hợp đồng bảo hiểm nhân
thọ cố định danh nghĩa. Khi lạm phát xảy ra, giá trị danh nghĩa trong các hợp đồng bảo
hiểm giảm xuống so với mức gia tăng giá của thị trƣờng chƣa kể đến sự suy giảm của cả
giá trị thực tế. Thế nên có thể kết luận rằng lạm phát có ảnh hƣởng xấu đến thị trƣờng bảo
hiểm
Chiều sâu thị trƣờng cũng có thể ảnh hƣởng đến nhu cầu bảo hiểm. Tại mỗi chiều sâu và
ngƣời dân về tầm quan trọng của bảo hiểm. Giáo dục tốt làm thay nhiệm vụ đó, vừa giảm
bớt thiệt hại khơng đáng có vừa hồn thành sớm hơn hoạt động tất yếu trong kinh tế và
tạo điều kiện tốt phát triển ngành bảo hiểm. Giáo dục cũng là điều kiện để các thành phần
kinh tế tham gia vào hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Với nhận thức rằng ngành bảo hiểm
không đơn thuần là một ngành để san sẻ rủi ro đơn thuần, đó cịn là một ngành kinh doanh
20
địi hỏi những kỹ năng hồn tồn khác biệt với chun mơn sâu và có thể mang lại nhiều
lợi nhuận, giáo dục và đào tạo mang lại nguồn nhân lực phục vụ cho sự phát triển của
ngành.
Yếu tố nhân khẩu thứ ba có ảnh hƣởng đến nhu cầu về bảo hiểm là các mơ hình cấu trúc
gia đình: Các xã hội phƣơng tây có mơ hình gia đình hạt nhân thống trị. Mơ hình gia đình
hạt nhân này bao gồm ngƣời chồng, ngƣời vợ và những đứa trẻ sống phụ thuộc. Trong các
xã hội khác thiên về nông nghiệp ruộng đất hoặc trong rất nhiều xã hội có các thị trƣờng
đang mở cửa, cấu trúc gia đình thống trị lại là gia đình mở rộng, trong đó có thế hệ ông bà
và có thể có cả họ hàng sinh sống và làm việc cùng nhau. Theo ý rằng các gia đình mở
rộng này cung cấp nơi nƣơng tựa cho những ngƣời già thì nhu cầu tiết kiệm lƣơng hƣu sẽ
giảm đi và thay vào đó là nhu cầu cho các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ. Nhƣ vậy là cấu
trúc gia đình có ảnh hƣởng nhất định đến sự gia tăng của các nhu cầu bảo hiểm và sự phát
triển của thị trƣờng bảo hiểm, qua đó cho thấy tiềm năng to lớn của nhu cầu cho thị
trƣờng bảo hiểm nhân thọ tại các nƣớc đang phát triển trong đó có Việt nam.
Yếu tố cuối cùng trong nhân khẩu có ảnh hƣởng đến sự phát triển của ngành bảo hiểm là
mức độ chun mơn hóa trong đời sống sản xuất. Q trình đơ thị hóa và cơng nghiệp hóa
dẫn đến sự chun mơn hóa trong lực lƣợng lao động. Khi đơ thị hóa và cơng nghiệp hóa
xảy ra trong mọi ngành nghề sẽ dẫn đến sự phân hóa sản xuất trong mọi tầng lớp xã hội.
Sự chun mơn hóa sẽ làm gia tăng tính dễ bị tổn thƣơng trong dân cƣ do hậu quả của
việc phải thay đổi sở thích thị hiếu, thay đổi công nghệ kỹ thuật và thay đổi các môi
trƣờng kinh tế tác động đến môi trƣờng sống. Điều này làm gia tăng sự lo sợ xảy ra những
tốt hơn. Sự khuyến khích về thuế cũng tạo nên một ảnh hƣởng mạnh mẽ trong sự gia tăng
của các quỹ và các cơng ty bảo hiểm. Hầu hết các chính phủ cung cấp ít nhất một vài
khoản giảm thuế vào các khoản tiết kiệm dài hạn thông qua các công cụ. Trong nhiều
trƣờng hợp, các hoạt động khuyến khích đƣợc tạo ra là để nhằm khuyến khích tiết kiệm
và cung cấp những khoản vay dài hạn.
Ngồi chính sách thuế, các chính phủ cũng có thể gây ảnh hƣởng đến sự tăng trƣởng của
bảo hiểm theo rất nhiều cách khác. Trong số này, một trong những can thiệp cơ bản là sự
22
cung cấp trực tiếp của chính phủ trong lĩnh vực bảo hiểm. Tại hầu hết các nƣớc, chính
phủ là nhà cung cấp lâu năm của bảo hiểm xã hội và cũng tại rất nhiều nƣớc, chính phủ
thậm chí trở thành nhà cung cấp năng động hoạt động trong thị trƣờng bảo hiểm. Động cơ
để khu vực công cung cấp bảo hiểm biến đổi theo từng quốc gia, nhƣng có thể bao gồm
những động cơ nhƣ: chủ nghĩa dân tộc, sở hữu công cộng của các nguồn lực kinh tế (nhƣ
tại các nền kinh tế mệnh lệnh), dự định mở rộng bảo đảm xã hội bằng cách cung cấp bảo
hiểm theo một dải rộng các sự kiện và trƣờng hợp các chính phủ mới tham gia vào các
hoạt động cơng nghiệp.
Sự ổn định chính trị cũng có thể ảnh hƣởng đến nhu cầu bảo hiểm. Khi bảo hiểm nhân thọ
đƣợc nhận thức có liên quan đến tầm nhìn dài hạn, sự ổn định kinh tế và chính trị có thể
dẫn đến một ngành công nghiệp bảo hiểm vững mạnh. Môi trƣờng chính trị khơng ổn
định sẽ làm suy giảm nhu cầu bảo hiểm (đặc biệt từ các công ty bảo hiểm địa phƣơng) bởi
vì các cá nhân có xu hƣớng mất niềm tin vào khả năng của các nhà bảo hiểm trong việc
thực hiện lời hứa của họ.
Các chính phủ cũng xác định môi trƣờng cạnh tranh cho các ngành công nghiệp đất nƣớc.
Một vấn đề cạnh tranh quan trọng mà các chính phủ phải đối mặt là liệu có cho phép sự
cạnh tranh quốc tế xâm nhập vào thị trƣờng nội địa hay khơng. Một số chính phủ coi các
nhà cạnh tranh quốc tế nhƣ là nhân tố tích cực thúc đẩy tăng trƣởng và hiệu quả, với nội
dung rằng đó là nguồn cho cả vốn tài chính và sự thành thạo cho thị trƣờng địa phƣơng và
nhiều hơn các khu vực phía nam. Bắc Mỹ là thị trƣờng bảo hiểm lớn nhất thế giới vào
năm 1999 với tổng phí trực tiếp chiếm đến 36% tổng phí bảo hiểm trực tiếp tồn thế giới.
Có 2 quốc gia có thị trƣờng bảo hiểm đƣợc đánh giá lớn nhất trên thế giới là Hoa Kỳ và
Nhật bản (thống kê năm 2000)
Trong một vài nền văn hóa, các tiêu chuẩn xã hội cũng có ảnh hƣởng đến sự xâm nhập
của bảo hiểm. Ví dụ, tại Hàn quốc, sẽ bị coi là bất lịch sự khi từ chối một lời mời từ
những ngƣời bạn thân hoặc họ hàng. Bảo hiểm lại thƣờng đƣợc bán chủ yếu qua phƣơng
thức vận động (từ ngƣời này đến ngƣời kia, qua các mối quan hệ quen biết), do vậy rất
nhiều hợp đồng đã đƣợc bán ở Hàn quốc chỉ với mục đích khơng bị cho là bất lịch sự.
24