(Luận văn thạc sĩ) tác động của các khu công nghiệp đến sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh hưng yên - Pdf 70

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TRẦN TIẾN DŨNG

TÁC ĐỘNG CỦA CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
CỦA TỈNH HƯNG YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Hà Nội, 2007


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TRẦN TIẾN DŨNG

TÁC ĐỘNG CỦA CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
CỦA TỈNH HƯNG YÊN

Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
Mã số :
60 31 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TIẾN SĨ ĐINH QUANG TY


CNH, HĐH:

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

KCN:

Khu cơng nghiệp.

KCX:

Khu chế xuất.

KT - XH:

Kinh tế - xã hội.

UBND:

Uỷ ban nhân dân.


MỤC LỤC
Mở đầu............................................................................................................... 1
Chương 1. Khu công nghiệp: một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực
tiễn trong nước.................................................................................................. 6
1.1

Khu cơng nghiệp nhìn dưới góc độ lý luận.........................................

1.2

Đánh giá chung về tác động của các khu công nghiệp........................ 73

Chương 3. Quan điểm, định hướng và giải pháp phát huy tác động của
các khu công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn 2006-2010 và đến
năm 2020............................................................................................................ 81
3.1

Bối cảnh, quan điểm và định hướng phát triển các khu cơng nghiệp


Việt

Nam

nói

chung



tỉnh

Hưng

n

nói

riêng................................
3.2

khu kinh tế mở” [10]. Tiếp tục chủ trương này, Báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ
phát triển KT - XH 5 năm 2006-2010 đã được Đại hội X thơng qua, có đoạn nhấn
mạnh: “ Hoàn chỉnh quy hoạch phát triển các khu, cụm, điểm cơng nghiệp trên cả
nước; hình thành vùng công nghiệp trọng điểm; gắn việc phát triển sản xuất với
bảo đảm các điều kiện sinh hoạt cho người lao động” [11].
Trong quá trình hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường Việt Nam,
nhiều KCN, KCX đã đáp ứng các mục tiêu thu hút vốn, công nghệ, tạo nguồn lực
xuất khẩu, giải quyết việc làm và đã có những đóng góp đáng kể vào tăng trưởng
chung của nền kinh tế.
Thực tiễn trong nước hơn một thập niên vừa qua cho thấy, một số KCN đã
thể hiện khá rõ vai trò là mũi đột phá, là động lực thúc đẩy q trình CNH, HĐH đất
nước. Ngồi ra, các KCN cịn góp phần đẩy nhanh q trình chuyển dịch CCKT, cơ
cấu lao động xã hội và thúc đẩy tiến trình CNH, HĐH nơng nghiệp, nơng thơn ở
nhiều địa phương và cả nước. Đồng thời, với vai trò là hạt nhân thúc đẩy sự hình
thành những đơ thị mới, các KCN cịn có ảnh hưởng quan trọng đến việc cải tạo và
phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, mở rộng các dịch vụ công cộng... Tuy nhiên, cho
đến nay, nhìn trên phạm vi cả nước, việc quy hoạch tổng thể mạng lưới các KCN

7


cịn nhiều bất cập, hiệu quả KT - XH nhìn chung còn thấp nếu so sánh với một số
nước trong khu vực và nhất là so với các nước công nghiệp phát triển.
Riêng ở tỉnh Hưng Yên, từ năm 1997 đã xây dựng chiến lược phát triển KT XH đến năm 2010 và một số định hướng đến năm 2020, trong đó xác định “Hưng
n khơng thể làm giàu nếu chỉ dựa vào nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, do
vậy phải tập trung cao độ để phát triển nhanh mạnh, vững chắc công nghiệp và tiểu
thủ công nghiệp làm động lực cho phát triển nông nghiệp, dịch vụ và các lĩnh vực
khác”.
Ngay sau khi được tái lập (năm 1997), Tỉnh ủy và UBND đã chỉ đạo các cấp,
các ngành tiến hành quy hoạch các khu, cụm công nghiệp và đã dành những mặt

Bên cạnh những tác động tích cực đến q trình phát triển KT - XH của địa
phương, các KCN trên địa bàn tỉnh Hưng n cũng gặp phải khơng ít những vướng
mắc về cơ chế chính sách và đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức gây
ảnh hưởng bất lợi đến hiệu quả phát triển KT - XH: Cịn có những biểu hiện lúng
túng trong việc thiết kế và hoàn thiện quy hoạch phát triển KCN. Hệ thống chính
sách phát triển KCN còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục bổ sung và hoàn thiện; việc
xây dựng và phát triển hạ tầng các KCN còn nhiều bất cập; việc đền bù, giải phóng
mặt bằng nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp. BQL các KCN cấp tỉnh và thủ tục hành
chính trong KCN còn nhiều mặt chưa hợp lý. Việc đào tạo đội ngũ cán bộ và chăm
lo đời sống công nhân trong các KCN cịn nhiều khó khăn. Việc xây dựng các tổ
chức đảng, đoàn thể trong doanh nghiệp ở các KCN cũng nảy sinh nhiều vấn đề
mới, chưa có hướng giải quyết hợp lý,...
Xuất phát từ tình hình nêu trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Tác động
của các khu công nghiệp đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hưng Yên“
để thực hiện luận văn thạc sĩ kinh tế, chuyên ngành kinh tế chính trị, với hy vọng sẽ
có những đóng góp nhất định vào công cuộc đổi mới và phát triển của địa phương.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến vấn đề phát triển các KCN, trong những năm gần đây ở nước
ta đã có một số đề tài nghiên cứu, nhiều hội thảo khoa học và các bài viết được cơng
bố trên các tạp chí, kỷ yếu khoa học.
Ở đây, xin điểm qua một số cơng trình có liên quan gần với đề tài luận văn:
Luận án PTS kinh tế của Nguyễn Xuân Thu (thực hiện năm 1992), về “Xây
dựng phương pháp đồng bộ hố một khu cơng nghiệp ở Việt Nam khi chuyển sang
nền kinh tế theo cơ chế thị trường (lấy KCN Hưng Yên làm đối tượng thể hiện)”;
Luận án tiến sĩ kinh tế của Trần Ngọc Hưng, với đề tài “Các giải pháp hoàn
thiện và phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam”;
Luận án tiến sĩ kinh tế của Lê Tuyển Cử (thực hiện năm 2004): “Những biện
pháp phát triển và hồn thiện cơng tác quản lý Nhà nước đối với khu công nghiệp ở
Việt Nam”;


giải pháp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Các KCN hiện đang hoạt động tại tỉnh Hưng Yên và những tác động chủ yếu
của chúng.

10


4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Khảo sát quá trình hình thành, phát triển và phân tích những tác động chủ
yếu của các KCN đến sự phát triển KT - XH ở tỉnh Hưng Yên từ năm 1997 đến năm
2005; bàn các giải pháp tương ứng cho giai đoạn 2006 - 2010 và đặt trong tầm nhìn
đến năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để khảo sát đối tượng nghiên cứu và đạt được mục đích, nhiệm vụ đã xác
định, luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, áp dụng phương pháp phân tích, tổng
hợp, đối chiếu và so sánh, kết hợp logic với lịch sử, khảo sát thực tế,...
Cơng trình này có sử dụng số liệu thống kê của trung ương và địa phương;
chắt lọc, tham khảo các kết quả nghiên cứu đã có về các KCN.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Góp phần làm rõ hơn khái niệm, vai trò của KCN trong nền kinh tế thị
trường; bước đầu tổng kết một số kinh nghiệm thực tiễn của một số tỉnh, thành phố
trong nước về phát triển các KCN.
- Làm rõ những tác động chủ yếu của các KCN hiện có tại tỉnh Hưng Yên
đến sự phát triển KT - XH ở giai đoạn 1997 - 2005.
- Đề xuất quan điểm, phương hướng và các giải pháp thúc đẩy các KCN của
tỉnh Hưng Yên phát triển hợp lý và có hiệu quả hơn trong giai đoạn 2006 - 2010 và
các năm tiếp theo.

khăn, thất nghiệp gia tăng, thiếu vốn đầu tư và ngoại tệ để khai thác nguồn tài
nguyên thiên nhiên nhằm xây dựng nền kinh tế độc lập. Trong tình hình nói trên, đã
xuất hiện “sự gặp nhau” về nhu cầu phát triển kinh tế của các nước phát triển và các
nước đang phát triển. Sự thơi thúc tìm kiếm nguồn nhân công và nguyên liệu giá rẻ
đã thúc đẩy các nước phát triển di chuyển các cơ sở sản xuất công nghiệp dùng
nhiều lao động và tài nguyên ra nước ngoài, đến các nước đang phát triển có khá
sẵn những yếu tố này. Đối với các nước đang phát triển, việc thu hút vốn đầu tư,
công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ các nước phát triển trở thành một giải pháp
lớn, có tính “cứu cánh” để giải quyết những vấn đề kinh tế bức xúc và để tạo đà
tăng trưởng cho tồn bộ nền kinh tế.
Các KCX chính là một hình thức tạo ra những điều kiện để có thể lợi dụng
và phát huy nhanh chóng các lợi thế so sánh của một nước hay một vùng, bằng cách
tham gia tích cực vào phân cơng lao động quốc tế. Xét về mặt lợi ích và hiệu quả

12


theo lý thuyết về lợi thế so sánh, và như đã được thực tiễn mấy thập kỷ gần đây
kiểm chứng, KCX là nơi hội tụ lợi ích của các nước đang phát triển và của các công
ty xuyên quốc gia, nơi hội tụ chủ yếu nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Các KCX được thành lập nhằm tạo ra một khu vực chuyên sản xuất hàng
xuất khẩu, đứng ngoài chế độ mậu dịch và thuế quan của nước nhận đầu tư. Thuật
ngữ KCX được hiểu theo nhiều cách khác nhau; điển hình nhất là định nghĩa của Tổ
chức Phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc (UNIDO) và của Hiệp hội Các KCX thế
giới (WEPZA).
Theo quan điểm của UNIDO, trong tài liệu “KCX tại các nước đang phát
triển” (Export Processing Zone in Developing Countries) cơng bố năm 1990 thì
“KCX là khu vực tương đối nhỏ phân cách về mặt địa lý trong một quốc gia, nhằm
mục tiêu thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp hướng về xuất khẩu bằng cách
cung cấp cho ngành công nghiệp này những điều kiện về đầu tư và mậu dịch thuận

thể kể tới:
- Có quá nhiều KCX được thành lập ở một số nước gần nhau, tập trung với
mật độ cao trong một khu vực có những điều kiện kinh tế, xã hội, địa lý gần giống
nhau, dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Ngoài mục tiêu xuất khẩu, các nước có KCX đều hy vọng sẽ tạo ra nhiều
công ăn việc làm, lợi dụng được kỹ thuật và kinh nghiệm tiên tiến của nước ngồi.
Trên thực tế các mục tiêu này khơng dễ đạt được.
- Do yêu cầu tăng xuất khẩu hàng hóa và nguồn thu ngoại tệ, đồng thời phải
bảo hộ nền sản xuất trong nước, các nước đều buộc các doanh nghiệp trong KCX
phải xuất khẩu toàn bộ sản phẩm ra thị trường nước ngoài. Điều này dẫn đến các
doanh nghiệp trong KCX buộc phải cạnh tranh khốc liệt trong việc tìm kiếm thị
trường tiêu thụ ở nước ngồi, trong khi đó họ bị khép kín theo quy chế KCX đối với
thị trường nội địa, nơi có nhu cầu tiêu thụ tương đối lớn.
Các KCX nhìn chung đã có ảnh hưởng tích cực đến kinh tế của nhiều nước
đang phát triển. Tuy nhiên, theo xu hướng tự do hóa đầu tư và tự do hóa thương mại
ngày càng tăng, thì vai trị của mơ hình KCX đã giảm dần, phải nhường bước cho
mơ hình mới thích hợp hơn.
1.1.1.2. Khu cơng nghiệp
Sau một thời gian phát triển, mơ hình kinh tế KCX đã bộc lộ một số hạn chế
như đã trình bày ở trên. Để khắc phục những hạn chế này, nhiều nước đã chuyển
sang xây dựng một loại hình kinh tế uyển chuyển hơn, năng động hơn - đó là KCN.
Sự thay đổi này là phù hợp với xu thế phát triển và mở cửa của nền kinh tế thị
trường thế giới và quan hệ hợp tác kinh tế hiện đại.
Với mô hình KCN, thị trường nội địa của nước nhận đầu tư được tính đến
như là một yếu tố hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài - đối tượng đầu tư chủ

14


yếu, bằng việc nới lỏng cho họ nhiều quy chế. Với mơ hình kinh tế này, thị trường


15


hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, trong KCN có thể có doanh nghiệp
chế xuất” [4].
Qua thực tiễn hơn 15 năm phát triển các KCN ở Việt Nam, có thể nhận thấy
KCN là một loại hình kinh tế đặc biệt, có tính đặc thù là sử dụng nhiều đất đai, thời
gian tồn tại lâu dài (50 năm), có ảnh hưởng sâu rộng đến KT - XH và đặc biệt là
môi trường. Vấn đề xây dựng các KCN thân thiện với môi trường, phục vụ phát
triển KT - XH một cách bền vững đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Điều đáng
chú ý là, gần đây trên thế giới đã xuất hiện thuyết sinh thái công nghiệp, và nhiều
nước đã coi trọng, áp dụng. Trong KCN sinh thái, cơ sở hạ tầng công nghiệp được
thiết kế sao cho chúng có thể tạo thành một chuỗi những hệ sinh thái, hòa hợp với
hệ sinh thái tự nhiên trên tiểu vùng địa lý, và rộng hơn là trên toàn lãnh thổ của một
nước. Mục đích của KCN sinh thái là nhằm xây dựng một hệ công nghiệp, gồm
nhiều nhà máy hoạt động độc lập, nhưng kết hợp với nhau một cách tự nguyện, hình
thành quan hệ cộng sinh giữa các nhà máy với nhau và với môi trường. Như vậy,
các nhà máy trong KCN sinh thái cố gắng đạt được những lợi ích kinh tế và hiệu
quả bảo vệ môi trường chung, thông qua việc quản lý hiệu quả nguồn năng lượng,
nước và nguyên liệu sử dụng [8].
Trên đây là khái niệm về KCN mang tính truyền thống, cũng như các quan
niệm mới về KCN trong thời gian gần đây. Từ việc nghiên cứu và tham khảo các tài
liệu trong nước và của nước ngồi, có thể đi đến một khái niệm mang tính tổng quát
về KCN, phù hợp với điều kiện của Việt Nam:
Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp,
phục vụ cho tiêu dùng trong nước, xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, khơng có
dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ thành lập, được hưởng
những ưu đãi thích hợp về sản xuất, xuất khẩu hàng hóa, có cơ sở hạ tầng thuận lợi
đảm bảo phục vụ cho việc sản xuất và cung cấp các dịch vụ liên quan, bảo đảm sự

tiếp đến giá thành sản phẩm, ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị
trường nội địa cũng như trên thị trường thế giới.
Tuy nhiên, đối với tình hình điều kiện của Việt Nam, vị trí của KCN cịn tùy
thuộc vào tính chất sản xuất, kinh doanh, cơ cấu sản xuất của mỗi KCN, để lựa chọn
địa điểm xây dựng thích hợp. Tuy nhiên, việc lựa chọn địa điểm cho các KCN lại
phải đặt trong mối quan hệ với việc giữ các vùng đất tốt phục vụ cho sản xuất nông
nghiệp, kết hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới, với an ninh - quốc phòng.
Xuất phát từ những yêu cầu trên, địa điểm xây dựng các KCN đều phải được
lựa chọn trên cơ sở quy hoạch tổng thể về phát triển KT - XH của các địa phương,
vùng lãnh thổ, gắn mục đích phát triển kinh tế của địa phương với chuỗi liên kết
kinh tế, không chỉ trong phạm vi trong nước và còn phải đặt trong mối quan hệ với

17


việc mở rộng quan hệ thương mại ra thế giới. Từ đó, Nhà nước và chính quyền các
địa phương phải có những đầu tư thích đáng để phát triển hạ tầng kỹ thuật bên ngồi
hàng rào KCN, những cơng trình có nhu cầu đầu tư vốn lớn, mà chỉ Nhà nước mới
có thể thực hiện được, nhằm tạo tiền đề thuận lợi cho các doanh nghiệp nghiên cứu
khả thi, quyết định địa điểm đầu tư, xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh tại các
KCN đã được quy hoạch.
1.1.2.2. Cơ sở hạ tầng khu công nghiệp
a) Cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Cơ sở hạ tầng KCN bao gồm cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội;
trong đó kết cấu hạ tầng kỹ thuật là thành phần quan trọng nhất, thúc đẩy sự phát
triển và phân bổ lực lượng sản xuất, trao đổi thông tin, giao lưu văn hóa giữa KCN
với các vùng trong và ngồi nước. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật phải được đầu tư trước
để làm tiền đề cho mọi hoạt động phát triển KT - XH, thu hút và sử dụng được vốn
đầu tư trong và ngoài nước.
Trong kết cấu hạ tầng kỹ thuật, giao thông là một bộ phận quan trọng, có vai

độ cao các cơ sở cơng nghiệp tập trung thường là nơi tạo ra nhiều cơ hội tìm tiếm
việc làm, mang lại thu nhập cao hơn hẳn khu vực nơng nghiệp và các khu vực xung
quanh. Vì vậy, di dân là hiện tượng tất yếu diễn ra, đặc biệt là tại các vùng có KCN,
gây nên những khó khăn cho công tác quản lý nhân khẩu, trật tự, an ninh và những
vấn đề xã hội khác. Mặt khác, tuy lựa chọn được cơng việc có thu nhập, nhưng do
tác động của cơ chế thị trường, nguy cơ các doanh nghiệp phá sản, sa thải công
nhân luôn tiềm ẩn; và điều đó sẽ gây ra những tác động tiêu cực đến trật tự an ninh
xã hội, làm nảy sinh các tệ nạn xã hội. Do vậy, những tác động do việc di dân đến
các KCN phải được cân nhắc kỹ lưỡng khi quy hoạch, xây dựng các KCN. Đặc biệt,
rất cần những thiết chế văn hóa và điều kiện sinh hoạt để đáp ứng nhu cầu đa dạng
của người lao động trong KCN, để giải quyết tốt những vấn đề xã hội, đảm bảo cho
nguồn lao động luôn được cung ứng một cách dồi dào, có chất lượng và bền vững.
Phát triển các KCN phải gắn với phát triển vùng, phát triển đô thị công nghiệp.
Do vậy, trong quy hoạch các KCN, phải đặc biệt quan tâm đến phát triển cơ sở hạ
tầng xã hội. Việc quy hoạch xây dựng các KCN phải bảo đảm đồng bộ về cơ sở hạ
tầng, trước hết là các khu dân cư, đồng thời các cơ sở dịch vụ công cộng để đáp ứng
nhu cầu phục vụ hiện tại và tính đến khả năng phục vụ lâu dài trong tương lai.
1.1.2.3. Chất lượng của các nguồn lực bên trong khu cơng nghiệp
a) Trình độ khoa học công nghệ
Thực tiễn cho thấy, việc tiếp nhận những thành tựu khoa học - công nghệ
trong các KCN có nhiều ưu thế hơn hẳn so với các cơ sở sản xuất, kinh doanh ở
ngoài KCN. Các nhà đầu tư ở các KCN thường được hưởng một số chính sách ưu
đãi đặc biệt, nhờ đó họ có điều kiện thuận lợi hơn để phát huy mọi lợi thế. Các
KCN là nơi tiếp nhận và ứng dụng có hiệu quả những thành tựu phát triển của khoa

19


học - công nghệ, kinh nghiệm tổ chức quản lý hiện đại của quốc tế vào quá trình sản
xuất; tạo ra nhiều sản phẩm xuất khẩu có chất lượng cao thay thế hàng nhập khẩu,

các quy định của Nhà nước về lao động... Tuy nhiên, việc sử dụng lao động của các

20


doanh nghiệp KCN hồn tồn phụ thuộc vào trình độ công nghệ, ngành nghề sản
xuất... của bản thân các doanh nghiệp đó.
Trong thời gian đầu, khi các KCN mới hình thành và phát triển, các doanh
nghiệp KCN thường tận dụng triệt để những lợi thế so sánh, cũng như những ưu đãi
của nước sở tại dành cho các nhà đầu tư: giá thuê đất thấp, giá nhân công rẻ. Để tận
dụng tốt những lợi thế này, ở những giai đoạn khởi nghiệp, công nghệ được sử dụng
trong các doanh nghiệp KCN thường là những công nghệ sử dụng nhiều lao động.
Tuy nhiên, mục đích phát triển của các KCN tại các nước đang phát triển không
phải chỉ như vậy. Một chính sách phát triển, quy hoạch tốt các KCN khơng chỉ giải
quyết tốt các vấn đề về ngắn hạn, mà đặc biệt phải chú trọng đến các định hướng
dài hạn - đó là tạo ra một lực lượng lao động có trình độ tay nghề cao, có tri thức,
kỹ năng và trình độ thích ứng cho một nền đại cơng nghiệp, thu hẹp khoảng cách
chênh lệch về trình độ cơng nghệ, trình độ lực lượng sản xuất, phục vụ tốt cho định
hướng CNH, HĐH đất nước. Thực tiễn đã khẳng định rằng, trong quá trình phát
triển các KCN, khi các lợi thế so sánh dần mất đi, do tác động của các KCN đến
những yếu tố nội tại nền kinh tế, các doanh nghiệp KCN sẽ áp dụng những công
nghệ tiên tiến, sử dụng lao động có trình độ cao, sản xuất những sản phẩm có tỷ
trọng giá trị gia tăng ngày càng lớn. Điều này dẫn đến sự chuyển biến mạnh mẽ về
trình độ, cơ cấu nguồn nhân lực của các nước sở tại, và theo đó, nhu cầu về lao
động trình độ cao của các doanh nghiệp KCN cũng tăng dần lên.
Do vậy, ở tầm vĩ mô, phải xây dựng và thực hiện một chiến lược phát triển
nguồn nhân lực, đặc biệt là đào tạo, dạy nghề trình độ cao để cung cấp cho nền kinh
tế quốc dân, trong đó có các KCN. Đặc biệt, phải có chiến lược và chương trình đào
tạo, dạy nghề thay thế cho lao động và chuyên gia là người nước ngoài trong các
KCN. Bên cạnh đó, định hướng dài hạn phải tập trung phát triển thị trường lao động

đi sau như Việt Nam phải ưu tiên hoàn thiện cơ chế và phương thức quản lý KCN
theo hướng tăng cường cơ chế "một cửa, tại chỗ" nhằm tạo môi trường thuận lợi
cho các doanh nghiệp trong KCN. Theo cơ chế này, các nhà đầu tư khi có nhu cầu,
chỉ cần đến BQL các KCN để giải quyết các thủ tục một cách nhanh chóng, tiện lợi.
Cơ chế "một cửa, tại chỗ" trong quản lý các KCN nếu được thực hiện một cách triệt
để, sẽ góp phần tạo động lực phát triển mạnh các KCN. Cơ chế "một cửa, tại chỗ" do
BQL KCN thực hiện theo nhiệm vụ, quyền hạn được Chính phủ quy định và thông
qua cơ chế ủy quyền của các bộ, ngành và của UBND tỉnh để thực hiện một số
nhiệm vụ quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực đầu tư, xây dựng, tài chính, thương
mại, lao động… trong các KCN.
Bên cạnh cơ chế được ủy quyền từ các bộ, ngành Trung ương và của UBND
tỉnh, BQL KCN phải chủ động phối hợp với các sở, ngành có liên quan của địa
phương để hỗ trợ tích cực cho hoạt động của các doanh nghiệp trong KCN. Việc phối
hợp này góp phần để cơ chế "một cửa, tại chỗ" được thực hiện hiệu quả. Như vậy,
BQL KCN là cơ quan quản lý hành chính trực tiếp; cịn các sở, ngành quản lý chuyên
môn, nghiệp vụ trên địa bàn là các đầu mối phối hợp.

22


Cùng với sự năng động trong quản lý và điều hành, "xem khó khăn của nhà
đầu tư như khó khăn của chính mình". BQL KCN phải áp dụng hệ thống quản lý
chất lượng quốc tế trong chuyên môn, ứng dụng cơng nghệ thơng tin vào những
cơng đoạn cụ thể, tích cực cải tiến phương thức, lề lối làm việc, tiến hành đồng bộ
các biện pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả, tăng cường hiệu lực chỉ đạo điều
hành, rút ngắn thời gian so với quy định.
b) Những chính sách ưu đãi, đầu tư đối với các KCN
Thông thường, các KCN được thành lập đều đòi hỏi phải đáp ứng yêu cầu
địa lý thuận lợi; bảo đảm về kết cấu hạ tầng, nhất là cung cấp điện, nước, lao động...
Nhưng, lực hút thực sự đối với các nhà đầu tư lại là các chính sách, chế độ ưu đãi áp

lãi suất vay vốn tín dụng, trợ cấp một phần chi phí tài sản cố định và đào tạo công
nhân, trợ cấp thuế giá trị gia tăng... Tuy nhiên, yêu cầu hết sức quan trọng trong
việc áp dụng các ưu đãi về tài chính đối với các doanh nghiệp trong KCN, là phải
nhất quán, công khai và minh bạch, tránh tình trạng "xin - cho", tiêu cực.
1.2. Tác động của các KCN đến sự phát triển kinh tế - xã hội nhìn trên
bình diện tổng quát
1.2.1. Tác động đến sự phát triển của lực lượng sản xuất và tác động lan
tỏa đối với các doanh nghiệp trên địa bàn
1.2.1.1. Khu công nghiệp với hạt nhân là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực
tiếp nước ngồi và tác động đến việc đổi mới công nghệ đối với doanh nghiệp trong
nước
Khu công nghiệp, với hạt nhân là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngồi, thường có tác động mạnh mẽ đến đổi mới công nghệ đối với doanh nghiệp
trong nước. Xét một cách tổng thể, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi ngày
càng khẳng định vai trị của mình trong nền kinh tế các nước đang phát triển - nơi
đang áp dụng mơ hình kinh tế các KCN. Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy,
việc áp dụng mơ hình kinh tế các KCN thường thúc đẩy hoạt động chuyển giao
công nghệ phát triển nhanh, cả về phạm vi và tốc độ. Cùng với sự phát triển của các
KCN, một số lượng không nhỏ các công nghệ tiên tiến được chuyển giao và ứng
dụng trong nhiều ngành công nghiệp của nước nhận đầu tư.
Chuyển giao cơng nghệ từ khu vực đầu tư nước ngồi tới doanh nghiệp trong
nước có ảnh hưởng lâu dài, đóng góp tích cực vào việc tăng năng suất trong các
ngành cơng nghiệp của nước sở tại. Có thể thấy một xu hướng đang nổi rõ, là việc
mở rộng thu hút đầu tư nước ngoài đi liền với sự đổi mới và chuyển giao công nghệ
cho doanh nghiệp trong nước [23]. Tuy nhiên, mức độ chuyển giao công nghệ của
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi tới doanh nghiệp nước chủ nhà hoàn
toàn phụ thuộc vào khả năng hấp thụ cơng nghệ và tiềm lực tài chính của doanh
nghiệp.
1.2.1.2. Tác động nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên địa
bàn

Cịn lợi ích của nước chủ nhà thì có thể dễ dàng nhận biết. Trước hết, mối
liên kết với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài sẽ làm tăng sản lượng và việc làm của
các nhà cung ứng địa phương. Các liên kết có thể trở thành những kênh có sức
mạnh cho việc nhân rộng tri thức và kỹ năng giữa các công ty. Các liên kết mạnh có
thể kích thích hiệu quả, tăng năng suất, năng lực cơng nghệ và quản lý, đa dạng hố
thị trường cho nhà cung ứng. Mặt khác, chính sự liên kết này thường khuyến khích
các cơng ty liên kết tham gia vào hoạt động xuất khẩu, và trong những điều kiện
hợp lý, các cơng ty trong nước có thể phát triển để trở thành các nhà cung cấp toàn
cầu hoặc trở thành các TNC theo đúng nghĩa. Song phải thấy rằng, không phải lĩnh
vực nào cũng có thể phát triển cơng nghiệp phụ trợ. Trong điều kiện cụ thể hiện nay

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status