ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TẠ XUÂN CHÍNH
QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG
PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH ĐIỆN BIÊN
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2015
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TẠ XUÂN CHÍNH
QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG
PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH ĐIỆN BIÊN
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số : 60 14 01 14
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trịnh Văn Minh
Tạ Xuân Chính
3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CBQL
Cán bộ quản lý
CBQLGD
Cán bộ quản lý giáo dục
CNH
Cơng nghiệp hố
CNTT
Cơng nghệ thơng tin
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
CSVC
Cơ sở vật chất
Quản lí giáo dục
SGK
Sách giáo khoa
TBCN
Tư bản chủ nghĩa
TBDH
Thiết bị dạy học
TBGD
Thiết bị giáo dục
THPT
Trung học phổ thông
4
MỤC LỤC
Lời cảm ơn……………………………………………......…………….
1.1.1. Trên thế giới...................................................................................
7
1.1.2. Ở Việt Nam....................................................................................
8
1.2. Một số khái niệm...............................................................................
10
1.2.1. Quản lý...........................................................................................
10
1.2.2. Khái niệm quản lý giáo dục............................................................
16
1.2.3. Quản lý nhà trường.........................................................................
18
1.2.4. Phương pháp quản lý......................................................................
21
1.2.5. Hiệu quả.........................................................................................
1.4.2. Nội dung công tác quản lý thiết bị dạy học....................................
29
5
Tiểu kết chương 1.....................................................................................
34
Chương 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở
CÁC TRƯỜNG PTDTNT CỦA TỈNH ĐIỆN BIÊN...........................
35
2.1. Khái qt vị trí địa lí, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội tỉnh Điện
Biên..........................................................................................................
35
2.1.1. Lịch sử, địa lý, văn hóa xã hội.......................................................
35
2.1.2. Tình hình kinh tế, chính trị.............................................................
37
2.2. Những nét cơ bản của ngành GD&ĐT tỉnh Điện Biên.....................
63
2.4.1. Thực trạng quản lý việc trang bị thiết bị dạy học...........................
63
2.4.2. Thực trạng quản lý việc bảo quản thiết bị dạy học........................
65
2.4.3. Thực trạng quản lý việc sử dụng thiết bị dạy học..........................
66
2.4.4. Đánh giá chung về thực trạng quản lý trang bị, bảo quản và sử
dụng thiết bị dạy học ở các trường PTDTNT của tỉnh Điện Biên............
68
2.4.5. Những nguyên nhân chính làm cho việc quản lý thiết bị dạy học
ở một số trường PTDTNT tỉnh Điện Biên chưa đạt hiệu quả cao............
70
2.4.6. Phân tích nguyên nhân của thực trạng quản lý việc trang bị, bảo
quản và sử dụng thiết bị dạy học ở các trường PTDTNT tỉnh Điện Biên
72
77
3.2. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp.....................................................
79
3.2.1. Đảm bảo tính đồng bộ của các biện pháp.......................................
79
3.2.2. Đảm bảo tính thực tiễn của các biện pháp......................................
79
3.2.3. Đảm bảo tính khả thi của các biện pháp.........................................
80
3.3. Một số biện pháp quản lý việc trang bị, bảo quản và sử dụng thiết
bị dạy học.................................................................................................
80
3.3.1. Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý và giáo
viên về vai trò và tác dụng của thiết bị dạy học trong việc đổi mới
phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học............................
80
3.3.2. Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch trang bị, bảo quản và sử dụng
3.5.1. Quy mô tiến hành...........................................................................
96
3.5.2. Nội dung và kỹ thuật tiến hành......................................................
96
3.5.3 Kết quả khảo nghiệm.......................................................................
96
Tiểu kết chương 3.....................................................................................
99
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ........................................................
100
1. Kết luận................................................................................................
100
2. Khuyến nghị.........................................................................................
102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................
Bảng 2.4
Chất lượng TBDH hiện nay ở các trường PTDTNT.............
50
Bảng 2.5
Thực trạng và nguyên nhân của việc sử dụng TBDH (Qua
đánh giá của CBQL).............................................................
Bảng 2.6
Thực trạng và nguyên nhân của việc sử dụng TBDH (Qua
đánh giá của GV và cán bộ phụ trách thiết bị thí nghiệm)...
Bảng 2.7
Bảng 3.1
58
Thực trạng và nguyên nhân của việc sử dụng TBDH (Qua
đánh giá của HS)...................................................................
Bảng 2.8
55
61
Nhân loại đã đi vào thế kỷ mới, thế kỷ của khoa học và công nghệ, thời
kỳ của xu thế hội nhập kinh tế quốc tế với sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt.
Ở mọi quốc gia dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển, giáo dục ln
được ở vị trí tiêu điểm của sự phát triển. Nó là chìa khóa để đất nước phát
triển kinh tế, xã hội, văn hoá, khoa học, chính trị. Ở nước ta giáo dục được coi
là “quốc sách hàng đầu”, là khâu đột phá trong sự nghiệp cơng nghiệp hóa
(CNH), hiện đại hóa (HĐH); nhân tố con người được coi là hạt nhân, là mục
tiêu và động lực của sự phát triển.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: “Phát
triển Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) là một trong những động lực quan trọng
thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người
- yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”.
Mục tiêu của giáo dục là “đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn
diện, có đạo đức, có tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành
với lý tưởng độc lập và chủ nghĩa xã hội (CNXH), hình thành bồi dưỡng nhân
cách, phẩm chất năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc”. [28, tr. 1]
Để thực hiện được mục tiêu trên, trong những năm qua Đảng, Nhà nước
ta đã có nhiều chủ trương, quyết sách lớn đầu tư cho chiến lược phát triển
GD&ĐT nhằm nâng cao chất lượng GD&ĐT, đáp ứng nguồn nhân lực cho sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước. Nhà nước đã xây dựng bốn chương trình quốc gia,
đó là: Đổi mới nội dung, chương trình, sách giáo khoa (SGK); đổi mới phương
pháp dạy học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên (GV); nâng cấp cơ sở vật
chất (CSVC), thiết bị dạy học (TBDH). Trong đó việc đổi mới phương pháp dạy
học, đổi mới nội dung chương trình, SGK và mua sắm TBDH được đặc biệt
quan tâm.
Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã chỉ
10
11
Biên, huyện Điện Biên Đông, huyện Mường Chà, huyện Mường Ảng và huyện
Tuần Giáo đã nêu rõ những mặt chưa làm được như: Công tác quản lý, chỉ đạo
về TBDH một số đơn vị thực hiện chưa tốt: phân công trách nhiệm chưa rõ ràng,
xây dựng kế hoạch tổ chức thiếu cụ thể, kiểm tra đôn đốc thiếu thường xuyên;
Việc cập nhật thông tin thường xuyên hoặc cuối năm vào sổ theo dõi đồ dùng
thiết bị tại một số trường chưa đầy đủ hoặc không kịp thời, dẫn đến không theo
dõi đánh giá được thực trạng đồ dùng thiết bị, khó khăn cho việc tham mưu
thanh lý, mua bổ sung đồ dùng thiết bị; Có đơn vị khơng tổ chức việc kiểm kê đồ
dùng thiết bị cuối năm, không đánh giá kết quả sử dụng thiết bị của GV trong
từng năm học; Việc hỗ trợ kinh phí cho GV tự làm đồ dùng TBDH không kịp
thời nên chưa tạo được động lực và khuyến khích tư duy sáng tạo của GV; Kinh
phí cho đầu tư mua sắm, sửa chữa trang TBDH còn hạn chế. Việc mua bổ sung
thiết bị đồ dùng dạy học cịn ít, chưa kịp thời đặc biệt là hóa chất dùng cho mơn
Hóa học, các vật liệu và dụng cụ thể dục thể thao; Chưa tổ chức thanh lý đồ
dùng TBDH, việc tiêu hủy các hóa chất độc hại chưa kịp thời nên khó khăn cho
việc lưu giữ bảo quản, ảnh hưởng đến môi trường lớp học; Việc bảo quản
TBDH của một số trường chưa tốt dẫn đến thiết bị bị hỏng hóc nhiều.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý
TBDH ở các trường PTDTNT tỉnh Điện Biên trong giai đoạn hiện nay”.
2. Mục đích nghiên cứu
Thơng qua nghiên cứu thực trạng việc trang bị, bảo quản và sử dụng
TBDH trong các trường PTDTNT tỉnh Điện Biên; phân tích điểm mạnh, điểm
yếu, tìm rõ nguyên nhân dẫn tới thực trạng đó để đề xuất những biện pháp
quản lý trang bị, bảo quản và sử dụng hiệu quả TBDH góp phần nâng cao
chất lượng dạy học trong các trường PTDTNT tỉnh Điện Biên.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Để tạo cơ sở cho nghiên cứu thực tiễn các biện pháp tăng cường công
tác quản lý TBDH ở các trường PTDTNT tỉnh Điện Biên trong giai đoạn hiện
nay, đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu lý luận bao gồm: Phân
13
tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái qt hóa những vấn đề lý luận cơ bản liên
quan đến đề tài nghiên cứu.
Tìm hiểu các khái niệm thuật ngữ có liên quan.
Nghiên cứu các văn bản, nghị quyết của Đảng, các văn bản của Nhà
nước, Quốc hội, của ngành GD&ĐT về công tác quản lý TBDH.
Nghiên cứu cơ sở lý luận về TBDH.
Các tài liệu khác có liên quan đến đề tài.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
Đề tài sử dụng phương pháp quan sát để thu thập những số liệu thực tế
trong môi trường tự nhiên, cụ thể là quan sát việc trang bị, sử dụng và quản lý
TBDH ở các trường được chọn nghiên cứu, một số giờ học có sử dụng TBDH
theo hướng phát huy tính tích cực của người học và một số giờ học sử dụng
TBDH theo phương pháp dạy học truyền thống từ đó so sánh để rút ra những
kết luận khoa học.
7.2.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Để điều tra thực trạng việc quản lý sử dụng TBDH trong các trường
PTDTNT, đề tài có một số mẫu phiếu hỏi dành cho các cán bộ quản lý
(CBQL), GV và HS thuộc các trường PTDTNT của tỉnh.
Phiếu hỏi cũng được sử dụng để khảo nghiệm tính khả thi của các biện
pháp quản lý mà đề tài đưa ra sau khi nghiên cứu lý luận và thực trạng.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo, mục lục, phụ lục, luận văn được trình bày gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý TBDH ở các trường PTDTNT.
Chương 2: Thực trạng quản lý TBDH ở các trường PTDTNT tỉnh Điện Biên.
Chương 3: Biện pháp quản lý TBDH ở các trường PTDTNT tỉnh Điện Biên.
15
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở
CÁC TRƯỜNG PTDTNT
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Trên thế giới
Nhà giáo dục học người Nga Usinski (1824-1870) và các học trị của
ơng tiếp tục phát triển nguyên tắc dạy học trực quan dựa trên các thành tựu
mới về tâm lý học và sinh lý học. Ông khẳng định trực quan là cái ban đầu, là
nguồn gốc của tri thức, cảm giác cung cấp tài liệu cho hoạt động trí tuệ.
Usinski viết: “Khơng có cái gì có thể giúp anh san bằng bức tường ngăn cách
giữa GV và HS như là việc anh đưa cho HS xem một bức tranh và giải thích
nó, đứa trẻ suy nghĩ bằng hình dạng, bằng màu sắc, âm thanh và bằng cảm
giác nói chung”.
Nhà giáo dục học vĩ đại người Tiệp Khắc J. A. Komenski (1592-1679)
đã đặt nền móng đầu tiên cho dạy học trực quan, với quan điểm cơ bản là:
Dạy học được bắt đầu từ việc quan sát sự vật, hiện tượng, quá trình. Trong tác
phẩm “Phép dạy học vĩ đại”, ơng viết: “…khơng có gì trong trí não nếu như
trước đó khơng có gì trong các cảm giác. Vì thế, tất nhiên bắt đầu dạy học
khơng thể từ sự giải thích bằng lời về các sự vật mà phải từ sự quan sát trực
tiếp chúng. Lời nói khơng bao giờ được đi trước sự vật”. Như vậy, Komenski
đề cao một phương pháp dạy học khuyến khích người học tự tiếp thu tri thức
nhận biết hiện tượng và tiến tới nắm được bản chất của sự vật hiện tượng.
1.1.2. Ở Việt Nam
Thừa kế và phát huy những lý thuyết về giáo dục của nền giáo dục học
thế giới, Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu về TBDH và quản lý việc sử
dụng TBDH. Về vấn đề này, có thể kể đến các nhà khoa học Việt Nam tiêu
biểu đã phát triển và truyền bá lý luận về nguyên tắc dạy học trực quan, đó là
các nhà tâm lý học Phạm Minh Hạc, Hồ Ngọc Đại; các nhà giáo dục học Tô
Xuân Giáp, Vũ Trọng Rỹ, Trần Khánh Đức… các tác giả này cho ta thấy
được những vấn đề chung về TBDH như vai trò của TBDH trong hoạt động
dạy học và những yêu cầu sư phạm khi lựa chọn và sử dụng TBDH.
17
Năm 2005, Chủ nhiệm đề tài Ngô Quang Sơn đã bảo vệ thành công đề
tài cấp Bộ về: “Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
thiết bị giáo dục, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông tại các trung
tâm GDTX và trung tâm học tập cộng đồng” mã số: B 2004 - 53 -17; tác giả
khẳng định vai trò quan trọng của TBDH trong các hoạt động giảng dạy, giáo
dục và học tập, đó là: “….TBDH là một bộ phận, là một thành tố khơng thể
thiếu được của q trình dạy, học tích cực. TBDH vừa là một thành tố, vừa là
một phương tiện, một phương hướng, vừa hàm chứa nội dung của quá trình
dạy và học, đồng thời tạo hứng thú nhận thức cho học viên. TBDH là một
trong những điều kiện giúp GV và học viên thực hiện tốt phương châm dạy
học phát huy tính tích cực của học viên, tích cực hố q trình nhận thức, q
trình tư duy của học viên lớn tuổi…”, đồng thời tác giả đã đưa ra hệ thống 8
giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả của việc trang bị, sử dụng và bảo
quản TBDH.
Năm 2008, luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng, Sở
GD&ĐT Hải Phòng với đề tài “Biện pháp quản lý CSVC kỹ thuật trường
Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm. Con người trong
hoạt động của mình, để đạt được mục tiêu cá nhân phải dự kiến kế hoạch, sắp
xếp trình tự tiến hành và tác động đến đối tượng bằng cách nào đó theo khả
năng của mình. Trong q trình lao động tập thể càng không thể thiếu được
kế hoạch, sự phân công và điều hành chung, sự hợp tác và quản lý lao động…
Như vậy quản lý tất yếu nảy sinh và nó chính là một phạm trù tồn tại khách
quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia,
trong mọi thời đại.
Ở góc độ quản lý với tư cách là một chức năng xã hội dưới dạng chung
nhất thì quản lý được xác định là cơ chế để thực hiện sự tác động có mục đích
nhằm đạt được những kết quả nhất định. Đề cập đến hoạt động quản lý, người
ta thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc của K.Marx: “Một nghệ sĩ vỹ cầm thì tự
điều khiển mình cịn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng”.[17]
Marx coi việc xuất hiện của quản lý như một dạng hoạt động đặc thù
của con người được gắn liền với sự phân công và hợp tác lao động; quản lý là
kết quả tất yếu của sự chuyển những quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc
19
lập với nhau thành một quá trình lao động xã hội được tổ chức lại: “Trong tất
cả những công việc mà có nhiều người hợp tác với nhau thì mối liên hệ chung
và sự thống nhất của quá trình tất phải biểu hiện ra ở trong một ý chí điều
khiển và trong những chức năng khơng có quan hệ với những cơng việc bộ
phận, mà quan hệ với tồn bộ hoạt động của công xưởng, cũng giống như
trường hợp nhạc trưởng của một dàn nhạc vậy. Đó là một thứ lao động sản
xuất cần phải được tiến hành trong một phương thức sản xuất có tính chất kết
hợp”.[15]
Theo F. W. Taylo (1856-1915) người Mỹ được coi là “Cha đẻ của
Thuyết quản lý khoa học”, là một trong những người mở ra “Kỷ nguyên
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý một tổ chức là nhằm đạt đến sự
ổn định và phát triển bền vững các quá trình xã hội, q trình tồn tại của tổ
chức đó”. [3, tr. 1]
Theo tác giả Trần Kiểm thì: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản
lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các
nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngồi tổ chức một cách tối ưu
nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”. [20, tr. 6 ]
Trong giáo trình Khoa học tổ chức và quản lý - một số vấn đề lí luận và
thực tiễn, các tác giả cho rằng: “Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ
chức hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ
chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt được những mục tiêu cụ
thể”. [5, tr. 194]
Đề cập đến vấn đề quản lý, tác giả Đặng Vũ Hoạt và tác giả Hà Thế Ngữ
cho rằng: “Quản lý là một q trình định hướng, q trình có mục tiêu, quản lý
một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định”. 31, tr. 29
Tác giả Nguyễn Văn Lê quan niệm: “Quản lý là một hệ thống xã hội, là
khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ thống bằng những
phương pháp thích hợp, nhằm đạt các mục tiêu đề ra cho hệ và từng thành tố
của hệ”. 25, tr. 6
Gắn quản lý với những lĩnh vực hoạt động cụ thể, Nguyễn Minh Đạo
định nghĩa: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức có định hướng của chủ
21
thể quản lý lên khách thể quản lý về các mặt văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội
bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp
và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển
của đối tượng”. [8, tr 28]
Những quan niệm về quản lý trên đây tuy có cách tiếp cận khác nhau,
vừa có tính khoa học lại vừa có tính nghệ thuật, vừa có tính pháp luật lại vừa
có tính xã hội rộng rãi… chúng là những mặt đối lập trong một thể thống
nhất, đó là biện chứng, là bản chất của hoạt động quản lý.
Trong quá trình quản lý cần phải đáp ứng ba yêu cầu cơ bản là tính quy
hoạch, tính khả thi và tính định lượng, đồng thời phải thực hiện theo các chức
năng: Lập kế hoạch, Tổ chức, Chỉ đạo và Kiểm tra.
Về chức năng quản lý: Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “Chức năng
quản lý là một dạng hoạt động quản lý, thơng qua đó, chủ thể quản lý tác động
vào khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu nhất định”. [36, tr. 32]
Quản lý gồm 4 chức năng cơ bản:
Lập kế hoạch: là quá trình xác định ra các mục tiêu, những nội dung
hoạt động và quyết định phương thức đạt được các mục tiêu đó, trên cơ sở
những điều kiện, nguồn lực hiện có. Có 3 loại kế hoạch: kế hoạch chiến lược
nhằm giải quyết mục tiêu chiến lược, kế hoạch chiến thuật để giải quyết mục
tiêu chiến thuật và kế hoạch tác nghiệp để giải quyết mục tiêu tác nghiệp. Khi
lập kế hoạch, người quản lý phải xác định mình đang cần loại kế hoạch nào,
phải biết mình đang ở đâu, có gì, đi tới đâu, bằng cách nào? Nghĩa là phải cân
đối giữa hệ thống mục tiêu với nguồn lực và điều kiện thực hiện chúng; cân
đối giữa yêu cầu và khả năng, để chọn ra những phương án tối ưu cho từng
mục tiêu một.
Tổ chức: là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hành và các
nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể đạt được các mục tiêu
của tổ chức một cách có hiệu quả, ứng với những mục tiêu khác nhau đòi hỏi
cấu trúc tổ chức cho phù hợp với những mục tiêu và nguồn lực hiện có. Thành
cơng của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực và phong cách của chủ
thể quản lý, vào việc huy động và sử dụng các nguồn lực, cũng như tạo ra
23
Chỉ đạo
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các yếu tố trong chu trình quản lý
24
1.2.2. Khái niệm quản lý giáo dục
Giáo dục: “Giáo dục là q trình đào tạo con người một cách có mục
đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao
động sản xuất, nó được thực hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh
hội những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của loài người” [28].
Mỗi xã hội, mỗi hoàn cảnh lịch sử cụ thể bao giờ cũng có một nền giáo
dục tương ứng, trong đó mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp và hình
thức tổ chức giáo dục phản ánh quy định của hoàn cảnh lịch sử, của toàn xã
hội đối với giáo dục. Những tinh hoa văn hóa của lồi người, của dân tộc đều
được giáo dục chuyển tải tới thế hệ trẻ nhằm giúp họ khả năng tham gia mọi
hoạt động xã hội, góp phần cải tiến và phát triển xã hội. Chủ tịch Hồ Chí
Minh khi bàn về giáo dục đã chỉ rõ: “Khơng có giáo dục, khơng có cán bộ thì
khơng nói gì đến kinh tế, văn hóa” [29]. Giáo dục là một hoạt động xã hội
rộng lớn, có liên quan trực tiếp đến lợi ích, nghĩa vụ và quyền lợi của mọi
người dân, mọi tổ chức kinh tế xã hội, là động lực phát triển và là nhân tố
quyết định tương lai của mỗi quốc gia. Giáo dục có thể được xem như một hệ
thống có tính xã hội khi xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau. Các nhà giáo
dục học quan niệm giáo dục như một hệ thống bao gồm các thành tố: Mục
tiêu giáo dục, nội dung, phương pháp, phương tiện, kết quả giáo dục.
Do mỗi phương thức xã hội đều có một cách quản lý khác nhau, cho nên
khái niệm Quản lý giáo dục (QLGD) đã ra đời và hình thành nên từ nhiều quan
niệm khác nhau.