ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÙI THỊ TUYẾT NHUNG
TÍCH HỢP GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH
QUA DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM
TRONG CHƢƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÙI THỊ TUYẾT NHUNG
TÍCH HỢP GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH
QUA DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM
TRONG CHƢƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 8140111
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS.Trần Khánh Thành
HÀ NỘI - 2017
1.1.1. Khái niệm tích hợp ........................................................................... 9
1.1.2. Tổng quan về dạy học tích hợp ...................................................... 10
1.1.3. Giá trị sống ..................................................................................... 18
1.2. Cơ sở thực tiễn ...................................................................................... 21
1.2.1. Thực trạng của việc dạy học tích hợp trong nhà trƣờng hiện nay . 21
1.2.2. Thực trạng việc tích hợp giáo dục giá trị sống cho học sinh qua bộ
môn Ngữ văn ............................................................................................ 27
1.2.3. Khảo sát thực trạng giáo viên đã áp dụng tích hợp giáo dục các giá
trị sống qua các giờ Văn ........................................................................... 31
Tiểu kết chƣơng 1............................................................................................ 40
CHƢƠNG 2: BIỆN PHÁP TÍCH HỢP GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG CHO
HỌC SINH QUA DẠY HỌC MỘT SỐ TÁC PHẨM TRUYỆN NGẮN VIỆT
NAM TRONG CHƢƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12 ........................................ 41
2.1. Những giá trị sống quan trọng cần giáo dục cho học sinh ................... 41
2.1.1. Hịa bình ......................................................................................... 41
2.1.2. Tơn trọng ........................................................................................ 41
2.1.3. Hợp tác ........................................................................................... 42
2.1.4. Trách nhiệm.................................................................................... 42
2.1.5. Trung thực ...................................................................................... 42
2.1.6. Khiêm tốn ....................................................................................... 43
2.1.7. Giản dị ............................................................................................ 43
2.1.8. Khoan dung .................................................................................... 43
2.1.9. Đoàn kết ......................................................................................... 43
2.1.10. Tình yêu thƣơng ........................................................................... 44
2.1.11. Tự do ............................................................................................ 44
2.1.12. Hạnh phúc .................................................................................... 44
2.2. Các hình thức có thể tích hợp giáo dục giá trị sống trong giờ Văn ...... 45
2.2.1. Trong tiết dạy hƣớng dẫn đọc - hiểu văn bản ................................ 46
3.9.3. Đánh giá qua bài làm của học sinh............................................... 100
Tiểu kết chƣơng 3.......................................................................................... 102
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................................... 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 106
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Viết tắt
Chữ viết đầy đủ
1
CNTT
Cơng nghệ thơng tin
2
DHTH
Dạy học tích hợp
3
GD
9
KHTN
Khoa học tự nhiên
10
KHXH
Khoa học xã hội
11
Nxb
12
PPDH
13
PT
14
SGK
Sách giáo khoa
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong một thời đại mới, khoa học công nghệ, thông
tin phát triển nhƣ vũ bão. Vấn đề này ít nhiều có ảnh hƣởng, tác động lớn đến
mọi mặt của đời sống, xã hội. Một số chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử,
quy tắc sống đang có chiều hƣớng bị thay đổi theo chiều hƣớng khơng tích
cực, nhất là ở thế hệ trẻ trong lứa tuổi học đƣờng. Những năm gần đây, giáo
dục phổ thông (GDPT) ở nƣớc ta đã và đang thay đổi mạnh mẽ. Mục tiêu của
giáo dục (GD) chuyển từ chủ yếu trang bị kiến thức sang trang bị những năng
lực cần thiết cho học sinh (HS) theo hƣớng bám sát bốn trụ cột của GD thế
giới thế kỷ XXI: Học để biết, học để làm, học để khẳng định mình và học để
cùng chung sống. Từ năm 2008, phong trào thi đua: “Xây dựng trường học
thân thiện, học sinh tích cực” do Bộ GD&ĐT đề ra cũng đã xác định rõ một
trong năm nội dung cơ bản của phong trào này là rèn luyện kĩ năng sống cho
HS. Trong thực tế triển khai phong trào, chúng ta thấy rằng việc rèn luyện kĩ
năng sống luôn phải gắn bó mật thiết với việc xác định giá trị sống. Việc giáo
dục kĩ năng sống sẽ không đạt hiệu quả nếu chúng ta không quan tâm đến
giáo dục giá trị sống (GDGTS). Theo nhiều chuyên gia, việc giáo dục kĩ năng
sống hiện nay ở trong nhà trƣờng và ngoài xã hội rất dễ dẫn đến việc kém
hiệu quả hoặc sai lệch vì khơng đƣợc dựa trên nền tảng của GDGTS. Có thể
nói một cách hình ảnh rằng: giá trị sống đƣợc coi là gốc còn kĩ năng sống là
ngọn. Nên dạy về giá trị sống là dạy cái gốc rễ của cuộc sống, góp phần quan
trọng tới q trình hình thành nhân cách và bồi dƣỡng tâm hồn con ngƣời.
Giá trị sống của mỗi cá nhân không tự nhiên có mà đƣợc hình thành từ
q trình nhận thức và trải nghiệm của mỗi ngƣời. Tuy nhiên, giá trị sống
không phải là tri thức để có thể truyền tải theo cách thơng thƣờng. Thậm chí
GDGTS bằng lời khun, sự thuyết giảng đạo đức…thƣờng không đem lại
kết quả. GDGTS chỉ thực sự hiệu quả khi chính bản thân HS đƣợc trải nghiệm
Dạy học tích hợp là định hƣớng dạy học giúp HS phát triển khả năng
huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng…thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để
2
giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống, đƣợc thực
hiện ngay trong quá trình lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng; phát triển
đƣợc năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề. Tính tích hợp thể
hiện qua sự huy động, kết hợp, liên hệ các yếu tố có liên quan với nhau của
nhiều lĩnh vực để giải quyết có hiệu quả một vấn đề và thƣờng đạt đƣợc nhiều
mục tiêu khác nhau. Với những ý nghĩa thiết thực đó, dạy học tích hợp đã và
đang trở thành một xu thế chung của GD thế giới.
2.1.1. Ở một số nƣớc, đã có nhiều tài liệu và cơng trình nghiên cứu về
vấn đề này đƣợc công bố nhƣ: Hội nghị tích hợp việc giảng dạy các khoa học
diễn ra vào tháng 9/1968, tại Varna (Bungari) do Hội đồng liên quốc gia về
giảng dạy khoa học tổ chức, với sự bảo trợ của UNESCO. Hội nghị đặt ra 2
vấn đề: Vì sao phải dạy học tích hợp các khoa học? và Dạy học tích hợp các
khoa học là gì? Theo đó, dạy học tích hợp đƣợc UNESCO định nghĩa nhƣ
sau: “Một cách trình bày các khái niệm và ngun lí khoa học cho phép diễn
đạt sự thống nhất cơ bản của tƣ tƣởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc
quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau”. Định nghĩa của
UNESCO cho thấy dạy học tích hợp (DHTH) xuất phát từ quan niệm về quá
trình học tập hình thành ở HS những năng lực trình độ cao, đáp ứng yêu cầu
của xã hội. Bên cạnh đó, cuốn sách Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào
để phát triển các năng lực ở nhà trường của Xavier Roegierf do Đào Trọng
Quang và Nguyễn Ngọc Nhị dịch đã ra đời dựa trên nền tảng từ những vấn đề
đặt ra về dạy học tích hợp trong Hội nghị tích hợp việc giảng dạy các khoa
học nêu trên. Qua cuốn sách, tác giả đã đƣa ra định nghĩa và mục tiêu của
khoa sƣ phạm tích hợp; ảnh hƣởng của khoa sƣ phạm tích hợp đối với chƣơng
đây, vấn đề này mới thực sự đƣợc nhiều ngƣời quan tâm, nghiên cứu rồi ứng
dụng vào thực tế ở các trƣờng phổ thông. Lý thuyết về dạy học tích hợp cũng
đã đƣợc một số nhà nghiên cứu quan tâm, trong đó phải kể đến những cơng
trình nhƣ: Dạy học tích hợp của Trần Bá Hoành, Thiết kế dạy học Ngữ văn
THCS theo hướng tích hợp của Trƣơng Dĩnh, Bài tập rèn luyện kĩ năng tích
hợp Ngữ văn THCS của Nguyễn Thanh Hùng, Giáo trình phương pháp dạy
học Tiếng Việt của Nguyễn Thanh Hùng, Phương pháp dạy học Ngữ văn ở
trường THCS của Đoàn Thị Kim Nhung, Dạy học Tiếng Việt 10 THPT ban cơ
4
bản theo hướng tích hợp của Lƣu Quỳnh Nga, Luận án Hệ thống đề kiểm tra
nhằm đánh giá năng lực Ngữ văn THCS theo yêu cầu tích hợp của Nguyễn
Thị Hồng Vân.
Ngồi ra cịn một số bài báo bàn về quan điểm tích hợp trong mơn Ngữ
văn và dạy học Ngữ văn: bài viết của Trần Bá Hoành, Nguyễn Thanh Hùng,
Đỗ Chu Ngọc, Nguyễn Khắc Phi, Vũ Thị Sơn, Phan Trọng Luận, Trần Đình
Sử, một số tài liệu về định hƣớng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục 2017
theo hƣớng tích hợp, tài liệu cuộc thi Dạy học theo chủ đề tích hợp dành cho
giáo viên trung học do Bộ GD&ĐT phát động.
2.2. Các nghiên cứu về vấn đề giáo dục giá trị sống
Đối với lịch sử phát triển của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, các giá trị bao
giờ cũng đóng vai trị quan trọng, có ý nghĩa chỉ đạo, định hƣớng cho hƣớng
phát triển đi lên của cả xã hội. Lịch sử đất nƣớc ta đã trải qua hàng ngàn năm
dựng nƣớc và giữ nƣớc, quá trình đó đã rèn luyện và hun đúc nên những con
ngƣời Việt Nam với nhiều phẩm chất đáng quý: giàu lòng yêu nƣớc thƣơng
dân, yêu quý thiên nhiên, trân trọng con ngƣời, lạc quan, anh dũng, kiên
cƣờng, bất khuất...Những đức tính đó đã trở thành nét đẹp trong văn hóa
truyền thống đƣợc lƣu truyền mà hàng ngàn đời nay thế hệ sau tiếp nối thế hệ
năng sống nhƣ: Giáo dục kĩ năng sống (Chuyên đề cao học, ĐHSP Hà Nội),
Giáo dục kĩ năng sống (Giáo trình dành cho sinh viên Cao đẳng sƣ phạm,
NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội), Những nghiên cứu và thực hiện chương
trình giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam (Viện Chiến lƣợc và Chƣơng trình
giáo dục, Hà Nội). Với những cơng trình nghiên cứu này tác giả Nguyễn
Thanh Bình đã trình bày đƣợc rõ những lý luận cốt lõi về kĩ năng sống nhƣ
khái niệm, các loại kĩ năng sống để từ đó trình bày khái quát đƣợc các phƣơng
pháp, cách thức giáo dục kĩ năng sống. Những cơng trình này góp phần đáng
kể, mở ra hƣớng nghiên cứu về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống ở Việt
Nam. Tác giả Nguyễn Đức Thạc trong tạp chí giáo dục số 81/2004 cũng đã đề
cập đến việc Rèn luyện kĩ năng sống một hướng tiếp cận mới về chất lượng
giáo dục đào tạo. Tác giả đã khẳng định việc rèn kĩ năng sống là một hƣớng
tiếp cận mới, đó cũng là hƣớng để nâng cao chất lƣợng giáo dục đào tạo nói
chung cho HS.
6
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các phƣơng pháp tích hợp GDGTS cho HS THPT qua dạy học
một số tác phẩm truyện ngắn Việt Nam trong chƣơng trình Ngữ văn lớp 12
nhằm nâng cao chất lƣợng GD tồn diện, góp phần GD nhân cách cho ngƣời
học, đáp ứng yêu cầu xã hội và mục tiêu đổi mới GD toàn diện của đất nƣớc
trong thời kì hội nhập, cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những cơ sở lí luận có liên quan đến đề tài.
- Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố có ảnh hƣởng đến việc tích
hợp GD các giá trị sống cho HS THPT qua dạy học một số tác phẩm truyện
ngắn Việt Nam trong chƣơng trình Ngữ văn lớp12.
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Khái niệm tích hợp
Ngày nay, tích hợp là một khái niệm khá quen thuộc đƣợc sử dụng trong
nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống, xã hội. Hiểu một cách đơn giản thì
tích hợp là xác lập cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ
phận riêng lẻ. Tuy nhiên, liên quan đến khái niệm tích hợp có nhiều cách định
nghĩa, quan niệm khác nhau:
Tích hợp (tiếng Anh: Integration) có nguồn gốc từ tiếng La tinh:
integration với nghĩa là xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên
cơ sở những bộ phận riêng lẻ.
Theo Từ điển Anh - Anh (Oxford Advanced Learner's Dictionany), từ
integrate có nghĩa là kết hợp những phần, những bộ phận với nhau trong một
tổng thể. Những phần, những bộ phận này có thể khác nhau nhƣng thích hợp
với nhau. Từ điển Bách khoa Khoa học Giáo dục của Cộng hòa Liên bang
Đức (Enzyklopadie Erziehungswissienscheft, Bd.2, Stuttgart 1984), thì nêu
chung nghĩa của từ integration có hai khía cạnh: Q trình xác lập lại cái
chung, cái toàn thể, cái thống nhất từ những cái riêng lẻ; Trạng thái mà trong
đó có cái chung, cái toàn thể đƣợc tạo ra từ những cái riêng lẻ. Cịn theo Từ
điển tiếng Việt thơng dụng của Trung tâm từ điển học nghiên cứu thì giải
thích: “Tích hợp có nghĩa là lắp ráp, kết nối các thành phần của một hệ thống
để tạo nên một hệ thống đồng bộ” [35, 813].
Nhà nghiên cứu Phạm Văn Lập lại quan niệm: “Dạy học tích hợp có
nghĩa là những kiến thức, kĩ năng học đƣợc ở môn học này, phần này của
môn học đƣợc sử dụng nhƣ những công cụ để nghiên cứu học tập trong môn
học khác, trong các phần khác của cùng một môn học” (Bài giảng phương
pháp dạy học sinh học ở trường THPT. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007).
9
khoa học tự nhiên: Vật lý, Hóa học, Sinh học; mơn Nghiên cứu xã hội đƣợc
10
hình thành từ sự tổ hợp, kết hợp của các môn thuộc lĩnh vực Khoa học xã hội
(KHXH): Lịch sử, Địa lý, Xã hội học, Kinh tế học. Tích hợp cũng có thể là
lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của mơn học, ví
dụ: lồng ghép nội dung giáo dục dân số, giáo dục mơi trƣờng, an tồn giao
thơng trong các mơn học Đạo đức, Tiếng Việt hay Tự nhiên và xã hội…xây
dựng môn học tích hợp từ các mơn học truyền thống. Tích hợp là một trong
những quan điểm GD đã trở thành xu thế trong việc xác định nội dung dạy
học trong nhà trƣờng PT và trong xây dựng chƣơng trình mơn học ở nhiều
nƣớc trên thế giới. Quan điểm tích hợp đƣợc xây dựng trên cơ sở những quan
niệm tích cực về quá trình học tập và quá trình dạy học. Thực tiễn ở nhiều
nƣớc đã chứng tỏ rằng, việc thực hiện quan điểm tích hợp trong GD và dạy
học sẽ giúp phát triển những năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp và
làm cho việc học tập trở nên ý nghĩa hơn. Ở nhiều nƣớc trong khu vực Châu
Á và trên thế giới đã thực hiện quan điểm tích hợp trong dạy học và cho rằng
quan điểm này đã đem lại hiệu quả nhất định.
Ở Việt Nam, thời Pháp thuộc, quan điểm tích hợp đƣợc thể hiện trong
một số mơn ở trƣờng tiểu học nhƣ mơn Cách trí, sau đổi thành mơn Khoa học
thƣởng thức. Mơn học này cịn đƣợc dạy một số năm ở trƣờng cấp I của miền
Bắc nƣớc ta. Từ những năm 1987, việc nghiên cứu xây dựng mơn “Tìm hiểu
Tự nhiên và xã hội” theo quan điểm tích hợp đã đƣợc thực hiện và mơn học
này đƣợc thiết kế để đƣa vào dạy học ở trƣờng cấp I từ lớp 1 đến lớp 5.
Chƣơng trình năm 2000 đã đƣợc hoàn chỉnh thêm một bƣớc, quan điểm tích
hợp đã đƣợc thể hiện trong chƣơng trình và SGK cùng các hoạt động dạy học
ở tiểu học. Tuy nhiên khái niệm tích hợp vẫn cịn mới lạ với nhiều GV. Một
số đã có nhận thức ban đầu nhƣng cịn hạn chế về kĩ năng vận dụng. Tích hợp
ngƣời cơng dân có trách nhiệm, một ngƣời lao động có năng lực vận dụng
sáng tạo kiến thức, kĩ năng và phƣơng pháp của khối lƣợng tri thức tồn diện,
hài hịa và hợp lí trong giải quyết các tình huống khác nhau và mới mẻ trong
cuộc sống hiện đại.
DHTH đòi hỏi việc học tập trong nhà trƣờng phải đƣợc gắn với các tình
huống của cuộc sống mà sau này HS có thể đối mặt vì thế nó trở nên có ý
12
nghĩa đối với các em. Với cách hiểu nhƣ vậy, DHTH phải đƣợc thể hiện ở cả
nội dung chƣơng trình, phƣơng pháp dạy học (PPDH), phƣơng pháp kiểm tra
đánh giá, hình thức tổ chức dạy học. Hiện nay, trên tồn thế giới mỗi ngày có
khoảng 2000 cuốn sách đƣợc xuất bản, điều ấy đủ thấy không thể học tập nhƣ cũ
và giảng dạy nhƣ cũ theo chƣơng trình và SGK gồm quá nhiều môn học riêng rẽ,
biệt lập với nhau. Mặt khác, sự phát triển của khoa học trên thế giới ngày càng
nhanh, nhiều vấn đề mới dạy học cần phải đƣa vào nhà trƣờng nhƣ: Bảo vệ môi
trƣờng, giáo dục dân số, giáo dục pháp luật, phòng chống ma túy, giáo dục sức
khỏe, an tồn giao thơng…, nhƣng quỹ thời gian có hạn, khơng thể tăng số mơn
học lên đƣợc. Việc tích hợp nội dung một số mơn học là giải pháp có thể thực
hiện đƣợc nhiệm vụ GD nhiều mặt cho HS mà không quá tải.
Thực tế ở một số trƣờng PT cho thấy, các bài soạn của GV để dạy học
theo hƣớng tích hợp đã giúp cho các thầy cơ tiếp cận tốt nhất với chƣơng trình
và SGK mới. Bài dạy linh hoạt, HS học đƣợc nhiều, đƣợc chủ động tìm tịi,
chiếm lĩnh kiến thức và rèn luyện kĩ năng. Muốn tiến hành có hiệu quả, cần
phải chú trọng đến việc bồi dƣỡng GV. Các thầy cô phải hiểu đƣợc thế nào là
tích hợp, phải nghiên cứu chƣơng trình, tài liệu xem nó dựa trên mơn khoa
học xác định nào, có thể mở rộng quan hệ tƣơng tác với các khoa học khác
nhƣ thế nào, mức độ tích hợp thể hiện ra sao?...Từ thực tiễn GD ở các cấp học
ở nhiều nƣớc và Việt Nam cho thấy, dạy học theo hƣớng tích hợp là xu thế
kiến thức, kĩ năng của chính lĩnh vực bộ mơn đó.
Kết hợp/lồng ghép (fusion)
Một nội dung nào đó đƣợc kết hợp vào chƣơng trình đã có sẵn. Ví dụ, ở
một trƣờng THPT của bang Illinois (Mỹ) đã kết hợp các nghiên cứu về tồn
cầu hóa vào trong chƣơng trình của nhà trƣờng. Điều này sẽ giúp cho HS hiểu
sâu hơn các vấn đề của thế giới từ nhiều góc nhìn khác nhau. Hoặc ở một
trƣờng học khác của bang New Jersey, nhà trƣờng cho rằng các yếu tố xã hội
và xúc cảm là những yếu tố quan trọng nhất đối với đời sống của đứa trẻ.
14
Chính vì thế, ở từng khía cạnh nhận thức của nhà trƣờng đƣợc thiết kế để chỉ
rõ cho HS biết là ngƣời lớn quan tâm đến chúng. Nhà trƣờng đã sử dụng
chƣơng trình học về xã hội và xúc cảm để hƣớng dẫn sự kết hợp. Hiệu trƣởng
chỉ đạo các cuộc họp với cha mẹ, với HS và GV để thảo luận và cam kết thực
hiện chƣơng trình trên. Từng HS đƣợc cảm nhận và trải nghiệm chƣơng trình
đó hàng ngày. Các em sẽ bắt đầu một ngày với công việc dành cho phát triển
cộng đồng. Chúng thuộc về các tổ/nhóm và có cơ hội tiếp cận với tổ nhóm
GV của mình càng nhiều càng tốt. Cha mẹ đƣợc khuyến khích tham gia nhƣ
là những đối tác và có một Trung tâm cha mẹ trong nhà trƣờng. Có chƣơng
trình truyền hình phục vụ cộng đồng là sản phẩm của HS đƣợc phát hàng
ngày, trong đó nói về những tin tức của HS và những điểm nóng phục vụ
cơng cộng. Những điểm nóng này đƣợc rút ra từ chính những nghiên cứu của
các em và nội dung thƣờng tác động đến những chủ đề hình thành nhân cách
ngƣời học, đạo đức lối sống...
Hoặc nhƣ ở nƣớc ta, trong nhiều năm qua đã kết hợp, lồng ghép các
chủ đề về dân số, mơi trƣờng, an tồn giao thơng, sức khỏe sinh sản, kĩ năng
sống... vào các lĩnh vực môn học nhƣ Địa lý, Sinh học, giáo dục đạo đức và
cơng dân...
kết rất mạnh và khi đó thì những ngăn cách bộ mơn bị mờ đi và chƣơng trình
chuyển sang lãnh địa liên môn (interdisciplinary).
Liên môn (interdisciplinary)
Các môn học đƣợc liên hợp với nhau và giữa chúng có những chủ đề,
vấn đề, những khái niệm lớn và những ý tƣởng lớn chung.
16
Chƣơng trình liên mơn tạo ra những kết nối rõ rệt giữa các mơn học.
Chƣơng trình cũng xoay quanh các chủ đề/vấn đề chung, nhƣng các khái niệm
hoặc các kĩ năng liên môn đƣợc nhấn mạnh giữa các môn chứ không phải
trong từng môn riêng biệt. Sơ đồ sau chỉ rõ tiếp cận liên môn:
Xây dựng môn học mới bằng cách liên kết một số môn học với nhau
thành môn học mới nhƣng vẫn có những phần mang tên riêng của từng mơn
học. Thí dụ: mơn Lí-Hố, Sử-Địa, Sinh-Địa chất, Hố-Địa... Ví dụ: chƣơng
trình và SGK các mơn Khoa học của Pháp gồm: mơn Lí - Hố; mơn Sinh-Địa
chất (hoặc Khoa học về Trái đất).
Xuyên môn (transdisciplinary)
Cách tiếp cận những vấn đề từ cuộc sống thực và có ý nghĩa đối với HS
mà không xuất phát từ các khoa học tƣơng ứng với mơn học, từ đó xây dựng
thành các môn học mới khác với môn học truyền thống. Cách tiếp cận này bắt
đầu bằng ngữ cảnh cuộc sống thực (real-life context). Nó khơng bắt đầu bằng
mơn học hay bằng những khái niệm hoặc kĩ năng chung. Điều quan tâm nhất
ở đây là sự phù hợp đối với HS. Điểm khác duy nhất so với liên môn là ở chỗ
chúng bắt đầu bằng ngữ cảnh cuộc sống thực và sở thích của HS. Ví dụ, một