ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HỒNG GIANG
BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG PHÁP LUẬT
HƠN NHÂN - GIA ĐÌNH VIỆT NAM
Chuyên ngành: Pháp luật về Quyền con người
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN DUY SƠN
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tơi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được cơng bố trong
bất kỳ cơng trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn bảo đảm tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tơi đã
hồn thành tất cả các mơn học và đã thanh tốn tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem
xét để tơi có thể bảo vệ Luận văn.
Tơi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Hồng Giang
1.3.2 Những yếu tố gây cản trở đến việc thực thi pháp luật HN&GĐ ở
Việt Nam ............................................................................................. 26
1.4.
Các điều kiện cơ bản bảo đảm thực thi pháp luật hôn nhân và
gia đình Việt Nam.............................................................................. 26
1.4.1. Điều kiện về thể chế ............................................................................ 26
1.4.2. Điều kiện tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực..................................... 27
1.4.3. Điều kiện về nguồn lực tài chính. ....................................................... 27
Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG
PHÁP LUẬT HƠN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM .............. 28
2.1.
Q trình phát triển pháp luật Hơn nhân và gia đình Việt
Nam từ lăng kính bình đẳng giới ..................................................... 28
2.2.
Thực trạng bảo đảm bình đẳng giới trong pháp luật HN&GĐ
Việt Nam............................................................................................. 30
2.2.1. Bình đẳng giới thể hiện trong các nguyên tắc cơ bản của chế độ
Hơn nhân và gia đình Việt Nam.......................................................... 30
2.2.2. Bình đẳng giới trong kết hơn .............................................................. 35
2.2.3. Bình đẳng giới trong quan hệ giữa vợ và chồng ................................. 43
2.2.4. Bình đẳng giới trong quan hệ giữa cha mẹ và con.............................. 60
2.2.5. Bình đẳng giới trong việc xác định cha, mẹ, con................................ 67
hôn nhân và gia đình đến các tầng lớp nhân dân trong xã hội .......... 101
3.2.2. Nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền địa phương trong
việc bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ em trong các quan hệ
HN&GĐ ............................................................................................ 102
3.2.3. Bảo đảm sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong các phiên tòa
giải quyết, xét xử các việc, các vụ án về hơn nhân và gia đình ........ 103
3.2.4. Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước quản lý
nhà nước về bình đẳng giới và gia đình ............................................ 104
3.2.5. Tăng cường cơng tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về bình
đẳng giới trong lĩnh vực Hơn nhân và gia đình ................................ 104
3.2.6. Tăng cường các dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ cho nạn nhân của bạo lực
gia đình .............................................................................................. 105
KẾT LUẬN .................................................................................................. 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 109
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS
: Bộ luật Dân sự
CEDAW : Cơng ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối
xử đối với phụ nữ
CRC
: Công ước quốc tế về quyền trẻ em
HN&GĐ : Hôn nhân và gia đình
ICCPR
106
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tun ngơn quốc tế về nhân quyền khẳng định:
Mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và tự do nêu
trong bản Tuyên ngơn này mà khơng có bất kỳ sự phân biệt đối xử
nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngơn ngữ, tơn giáo, quan điểm
chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài
sản, thành phần xuất thân hay các địa vị khác…[18, Điều 2].
Quy định này khẳng định tính phổ quát (universal) của quyền con
người và mọi người sinh ra đều bình đẳng về quyền mà không bị phân biệt đối
xử bởi bất cứ yếu tố nào trong đó có yếu tố về giới tính.
Trong lĩnh vực hơn nhân và gia đình (HN&GĐ), giới, giới tính là vấn
đề khá nhạy cảm, liên quan đến quyền của các chủ thể tham gia quan hệ
HN&GĐ và do đó Nhà nước với tư cách là chủ thể có nghĩa vụ bảo vệ và thúc
đẩy nhân quyền trên các lĩnh vực của đời sống xã hội có trách nhiệm thể chế
hóa bình đẳng giới (BĐG) trong hệ thống pháp luật. Ở Việt Nam, Đảng và
Nhà nước đã không ngừng quan tâm hoàn thiện pháp luật HN&GĐ nhằm xây
dựng gia đình - nền tảng, tế bào của xã hội “ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, thực
sự là tế bào lành mạnh của xã hội” [13] phù hợp với truyền thống văn hóa,
đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Thông qua việc thực thi các quy định
của pháp luật HN&GĐ, quyền con người, quyền bình đẳng giữa nam giới và
nữ giới đã từng bước được bảo đảm thực chất hơn, phụ nữ và trẻ em ngày
càng được bảo đảm tốt hơn các quyền của mình thay vì việc bị hạn chế bởi
những định kiến giới trong xã hội.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được nêu trên, pháp luật HN&GĐ
đang đứng trước những thách thức do sự phát triển của nền kinh tế thị trường
2
- Bài viết: Hôn nhân cùng giới - Xu hướng thế giới và kinh nghiệm
cho Việt Nam, của tác giả Nguyễn Thu Nam đăng trên tạp chí Dân chủ và
Pháp luật, số chuyên đề sửa đổi, bổ sung Luật HN&GĐ năm 2000;
- Bài viết: Vấn đề cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính của
tác giả Bùi Thị Mừng, đăng trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề
sửa đổi, bổ sung Luật HN&GĐ năm 2000;
- Bài viết: Sửa đổi, bổ sung Luật HN&GĐ - Chú trọng quyền lợi
của phụ nữ của tác giả Phạm Mạnh Hà đăng trên địa chỉ trang web:
congly.com.vn/phap-luat/dien-dan-cong-ly;
Những cơng trình nghiên cứu này đã cung cấp, bổ sung, hoàn thiện
những luận cứ hết sức quan trọng và đưa ra những đề xuất, kiến nghị xác
đáng cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật HN&GĐ, bảo vệ quyền con người
của các thành viên tham gia quan hệ HN&GĐ. Tuy nhiên, do Luật HN&GĐ
mới được Quốc hội thơng qua ngày 19/6/2014, do đó, chưa có nhiều các các
bài nghiên cứu chuyên sâu về những giá trị tiến bộ/những vấn đề chưa được
giải quyết trong Luật này, cũng như chưa có các bài viết liên quan nhằm đề
xuất, kiến nghị xây dựng, hoàn thiện các quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành Luật HN&GĐ năm 2014. Do đó, tác giả nghiên cứu luận văn mong
muốn nghiên cứu vấn đề BĐG trong pháp luật HN&GĐ vào thời điểm Luật
HN&GĐ vừa được Quốc hội nước Cộng hịa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
thơng qua với mục đích đánh giá những giá trị tiến bộ đạt được trong thúc đẩy
và bảo vệ nhân quyền mà trực tiếp là quyền BĐG giữa các cá nhân trong lĩnh
vực HN&GĐ, những vấn đề còn bị bỏ ngỏ trên cơ sở đó đề xuất những giải
pháp nhằm tiếp tục hồn thiện và nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật
HN&GĐ vào thực tiễn cuộc sống trong thời gian tới.
3. Mục đích, phạm vi nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu thực trạng các quy định của pháp
quyền con người, quyền bình đẳng khơng phân biệt đối xử về giới tính, Luận
4
văn cũng đã mạnh dạn đưa ra những ý kiến, quan điểm mang tính cá nhân về
những hạn chế, những điểm cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật
về HN&GĐ, bảo đảm tính tương thích với các chuẩn mực quốc tế về nhân
quyền và đặc biệt là bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền con người trong lĩnh vực
HN&GĐ ở Việt Nam - một lĩnh vực vốn chịu sự chi phối nặng nề bởi những
tư tưởng, định kiến giới.
Trên cơ sở đánh giá những điểm còn hạn chế trong pháp luật
HN&GĐ, Luận văn đã đề ra những giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp
luật về HN&GĐ trong thời gian tiếp theo; những đề xuất, kiến nghị mang tính
giải pháp nhằm đưa các quy định của pháp luật HN&GĐ vào thực tiễn cuộc
sống; bảo đảm một cách thực chất quyền con người, quyền bình đẳng khơng
bị phân biệt đối xử vì bất cứ lý do nào trong đó có lý do khác biệt về giới tính
trong các quan hệ HN&GĐ.
6. Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn
Luận văn đã nghiên cứu toàn diện các chế định về HN&GĐ trong
pháp luật HN&GĐ Việt Nam, mà trực tiếp là Luật HN&GĐ năm 2014 từ góc
độ BĐG, đánh giá những tiến bộ đạt được, những tác động tích cực đến bảo
vệ quyền và lợi ích của phụ nữ và trẻ em - những đối tượng dễ bị tổn thương
trong xã hội. Cùng với đó Luận văn đã phân tích và chỉ ra những hạn chế của
pháp luật HN&GĐ trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, quyền
BĐG của các cá nhân trong quan hệ HN&GĐ, trên cơ sở đó đưa ra những giải
pháp nhằm bảo vệ và thúc đẩy tốt hơn quyền con người, quyền bình đẳng
thực chất giữa nam giới và nữ giới trong các quan hệ HN&GĐ ở Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần bổ sung và phát triển
những vấn đề mang tính lý luận trong khoa học pháp lý BĐG trong HN&GĐ
quen thuộc. Tuy nhiên, trong thực tế nhiều người vẫn nhầm lẫn và tranh cãi
về ý nghĩa của hai khái niệm này hoặc cho rằng cả hai khơng có gì khác biệt
hoặc chỉ muốn nói đến hai nhóm người: phụ nữ và nam giới. Sự không rõ
ràng này thường dẫn đến những quan niệm không đúng về sự khác biệt giới
dẫn đến bỏ qua sự đa dạng của vấn đề giới trong xã hội. Do đó, phân biệt tách
bạch giữa hai khái niệm này là cần thiết, đặc biệt với những người làm cơng
tác liên quan đến bảo đảm bình đẳng giới hiện nay.
Theo Chương trình bình đẳng giới khu vực Đơng Nam á (SEAGEP 2001), giới và giới tính được định nghĩa như sau:
Giới tính là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ
không thể thay đổi được. Chỉ có một số khác biệt nhỏ về vai trò của nam và
nữ về mặt sinh học và sinh lý trên cơ sở giới tính. Ví dụ như việc mang thai,
sinh nở và sự khác biệt về sinh lý có thể là do các đặc điểm giới tính.
Giới là sự khác biệt về mặt xã hội giữa nam giới và phụ nữ như vai trò,
thái độ, hành vi ứng xử và các giá trị. Vai trò giới được biết đến thơng qua q
trình học tập và khác nhau theo từng nền văn hóa và thời gian, do vậy giới có
thể thay đổi được. Ví dụ: nữ thường để tóc dài, nam thường để tóc ngắn.
Khác với vấn đề giới tính vốn chỉ đề cập tới sự khác biệt sinh học giữa
nam giới và phụ nữ, khái niệm giới đề cập đến những khác biệt về mặt xã hội
do các nhóm xã hội con người tạo ra. Những quan niệm về giới luôn nảy sinh
7
từ tính chất của các quan hệ xã hội và của những hình thái tổ chức xã hội khác
nhau [44]. Bản chất xã hội của giới được thể hiện rõ trong sự khác nhau giữa
các đặc tính và các hoạt động được coi là của nam giới và nữ giới khi thực
hiện so sánh trong các nền văn hoá, giữa các tầng lớp xã hội và các nhóm dân
tộc trong cùng một nền văn hoá, hoặc thay đổi theo thời gian [17].
Bảng 1.1. Phân biệt giữa Giới và Giới tính [1]
Giới
Bạn được sinh ra với giới
tính của bạn - điều này khơng
Những vai trị về giới là
được học tập - chúng phát
thể thay đổi.
triển và thay đổi theo thời gian.
Nguồn: Ban vì sự tiến bộ Phụ nữ ngành Tư pháp (2013), Tài liệu tập
huấn cơng ước CEDAW và các điều ước quốc tế có liên quan, Hà Nội.
Cụ thể những khác biệt về giới có thể xem xét ở các khía cạnh sau đây:
1.1.1.1. Về vai trị
Cả nam giới và nữ giới đóng nhiều vai trò trong xã hội và các vai
trò này là khác nhau theo giới. Các vai trò giới là tập hợp các hành vi ứng
8
xử mà xã hội mong đợi ở phụ nữ và nam giới liên quan đến những đặc
điểm và năng lực mà xã hội coi là thuộc về nam giới hoặc thuộc về phụ nữ
trong một xã hội hay một nền văn hóa cụ thể nào đó. Đó cũng là các mối
quan hệ giữa phụ nữ và nam giới: ai nên làm gì, ai là người ra quyết định,
khả năng tiếp cận nguồn lực và các lợi ích [16]. Ví dụ: các nhóm dân tộc
khác nhau sẽ xác định vai trị của phụ nữ khác nhau, mặc dù chế độ gia
trưởng phụ quyền là chủ yếu ở đa số các nhóm dân tộc, thì chế độ mẫu hệ
vẫn cịn tồn tại ở một số nhóm dân tộc thiểu số.
Do phụ nữ và nam giới thực hiện các vai trò giới khác nhau nên họ
cũng có những nhu cầu giới khác nhau.
1.1.1.2. Về Sự phân cơng lao động
Trong xã hội có một sự phân công lao động giữa nam giới và phụ nữ.
Sự phân công lao động theo giới đề cập đến công việc khác nhau của nam
giới và phụ nữ trong gia đình, trong sản xuất và trong cộng đồng. Sự khác
trường, nuôi dưỡng và tập quán xã hội, mà còn do bẩm sinh, di truyền như:
nam giới có hệ xương lớn thích hợp cho những cộng việc nặng nhọc, nhiệm
vụ tái sản xuất xã hội bao gồm trách nhiệm sinh đẻ và chăm sóc con trẻ là
của phụ nữ.
1.1.1.4. Về tâm sinh lý
Lý thuyết cho rằng nam giới và phụ nữ có sự tiến hóa khác nhau về tác
phong và tư duy đã được chấp nhận rộng rãi [4]. Ví dụ: Nam giới có tâm lý cứng
cỏi, mạnh mẽ, hành động dựa vào lý trí… Phụ nữ thì dịu dàng, tình cảm…
1.1.1.5. Về Quan niệm xã hội
Khi sinh ra, con người không mang những đặc tính giới. Những đặc
tính giới chỉ được hình thành trong q trình hoạt động ở gia đình và ngồi xã
hội. Bắt đầu từ khi sinh ra đứa trẻ đã được đối xử tùy theo trai hay gái. Mọi
người vẫn quen rằng, với trẻ gái thì cho chơi búp bê, dụng cụ nấu ăn. Cũng
bởi con người thường có suy nghĩ mang tính áp đặt về những gì mà nam và
10
nữ có khả năng và loại hoạt động mà họ nên làm, do đó ngay từ trong gia đình
con trai đã được học từ bố và con gái học được từ mẹ những quy tắc và kỳ
vọng về hành vi “nam” và hành vi “nữ” của mình. Chính những định kiến này
đã tác động làm ảnh hưởng đến cá nhân và những người xung quanh. Những
đặc điểm liên quan đến nam và nữ thường bị rập khn, mang tính cố định
(tương đối) và hầu như khơng có sự lựa chọn nào khác [50].
Những định kiến, quy chuẩn xã hội này đã ăn sâu vào tiềm thức của
mọi người. Do đó, làm cho định kiến giới tồn tại dai dẳng và xuất phát từ
những quan niệm xã hội tác động tới số lượng người rất lớn - đại đa số dân
cư. Ví dụ: trong xã hội cịn nhiều quan niệm xã hội phân biệt giữa phụ nữ và
nam giới như: đặt phụ nữ vào vị trí của người chăm sóc, phải ở gần gia đình
và chăm sóc cho gia đình; nội trợ không phải là công việc của đàn ông; truyền
thành quả của sự phát triển đó [35, Điều 5]
Như vậy, về mặt pháp lý, định nghĩa về giới, giới tính được hiểu thống
nhất với nghĩa khoa học xã hội của nó, theo đó, giới tính là chỉ sự khác biệt về
mặt sinh học và giới là chỉ sự khác biệt về vị trí, vai trị và quan niệm của xã
hội về vị trí, vai trị của các giới trong xã hội.
1.1.2. Bình đẳng giới
Đây là khái niệm quan trọng, việc nhận thức đúng và đầy đủ về khái
niệm này là cơ sở đánh giá, xem xét một cách khách quan và đúng đắn về
mức độ BĐG trong pháp luật HN&GĐ, trên cơ sở đó có những đề xuất, kiến
nghị cụ thể về những giải pháp nhằm bảo đảm BĐG thực chất trong pháp luật
HN&GĐ Việt Nam hiện nay.
Vậy, khái niệm BĐG là gì? Hiện nay, cơng ước CEDAW sử dụng khái
niệm “bình đẳng giới” trong mối quan hệ chặt chẽ với nghĩa vụ quốc gia, cụ
thể như điểm a Điều 2 công ước CEDAW quy định các quốc gia thành viên
cần tiến hành: “Đưa nguyên tắc bình đẳng nam nữ vào Hiến pháp quốc gia
hoặc các văn bản pháp luật thích hợp khác nếu vấn đề này chưa được đề cập
12
tới và bảo đảm việc thực thi nguyên tắc này trong thực tế bằng pháp luật và
các biện pháp thích hợp khác” [20, Điều 2]. Thực chất khái niệm “bình đẳng
nam nữ” trong cơng ước CEDAW cũng có nghĩa là “bình đẳng giới” vì thực
chất xã hội chỉ có hai giới tính nam và nữ [29]. Tuy nhiên, cơng ước này
khơng đưa ra định nghĩa về “bình đẳng nam nữ” (bình đẳng giới) là gì? thay
vào đó, thuật ngữ “phân biệt đối xử với phụ nữ” được định nghĩa chi tiết ngay
tại Điều 1, theo đó:
Phân biệt đối xử đối với phụ nữ có nghĩa là bất kỳ sự phân
biệt, loại trừ hay hạn chế nào dựa trên cơ sở giới tính làm ảnh
hưởng hoặc nhằm mục đích làm tổn hại hoặc vơ hiệu hóa việc phụ
nghỉ làm, hệ quả tất yếu trở thành người sống phụ thuộc vào kinh tế của người
chồng; hoặc thậm chí có điều kiện đi làm thì họ vẫn khơng thốt khỏi trách
nhiệm đương nhiên là chăm sóc gia đình và con cái và không nhận được sự
chia sẻ, cảm thông từ phía người chồng. Điều này tạo nên sự bất bình đẳng
giữa nam và nữ vì lý do quan niệm phân biệt đối xử về vị trí, vai trị của nam
giới và nữ giới trong gia đình và trong xã hội.
Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra đó là khái niệm BĐG chỉ hàm ý đến sự
bình đẳng giữa nam giới và nữ giới đã toàn diện hay chưa? Trước tiên chúng ta
khơng thể phủ nhận quan niệm BĐG là bình đẳng giữa nam và nữ rất phổ biến
hiện nay. Tuy nhiên, ngay trong chính giới nam hoặc giới nữ lại có những bất
bình đẳng nhất định mà pháp luật Việt Nam cịn đang bỏ ngỏ. Ví dụ, với một
người đàn ông dị tính (là người “bị hấp dẫn về mặt tình cảm và tình dục với
người khác giới tính, khơng bao giờ mong muốn mình có giới tính khác với giới
tính khi được sinh ra” [29] và một người đàn ông đồng tính (là người “bị hấp
dẫn với người cùng giới tính, khơng bao giờ mong muốn mình có giới tính khác
với giới tính khi được sinh ra” [29]) thực sự còn khác nhau rất nhiều ở sự kỳ
thị, phân biệt đối xử. Hiến pháp và pháp luật hiện hành khơng cấm nhưng cũng
khơng thừa nhận những người đồng tính kết hôn. Và như vậy, rõ ràng, ngay
14
trong chính một giới tính nam, người dị tính và người đồng tính đã có sự phân
biệt đối xử về quyền. Vì vậy, “Bình đẳng giới cần đề cập đến sự bình đẳng
ngay trong một giới (giữa các bản dạng giới, xu hướng tính dục” [29].
Hiện nay, ở các nước tiến bộ thường có sự ghi nhận về bình đẳng giữa
các xu hướng tính dục, bản dạng giới (ví dụ như cấm sự kỳ thị đồng tính),
nghĩa là hướng đến sự bình đẳng ngay trong cùng một giới. Như vậy, quan
niệm về BĐG phải rộng hơn, khơng chỉ bó hẹp trong mối quan hệ bình đẳng
giữa nam và nữ. Các nước cũng thể hiện thái độ khác nhau đối với bình đẳng
cách là vợ chồng” [53].
Ở Việt Nam, các giáo trình Dân luật dưới chế độ Sài gòn cũ chưa đưa
ra khái niệm cụ thể về hôn nhân mà phần nhiều mới đưa ra khái niệm “giá
thú”: “giá thú (hay hôn thú) là sự phối hợp của một người đàn ông và một
người đàn bà theo thể thức luật định” [28] hoặc “giá thú” cũng được hiểu:
“sự trai gái lấy nhau trước mặt viên hộ lại và phát sinh ra những nghĩa vụ
tương hỗ cho hai bên về phương diện đồng cư, trung thành và tương trợ” [5].
Theo một số luật gia Sài gịn, khái niệm “giá thú” bao gồm có hai nghĩa: theo
nghĩa thứ nhất giá thú là hành vi phối hợp vợ chồng (kết hơn). Theo nghĩa thứ
hai là tình trạng của hai người đã chính thức lấy nhau làm vợ chồng và thời
gian hai người ăn ở với nhau [5]. Điều 3 Sắc luật 15/64 ngày 23/7/1964, Điều
99 Bộ dân luật 1972 ngày 20/12/1972 của Chính quyền Sài gịn cũ qui định:
“Không ai được phép tái hôn nếu giá thú trước chưa đoạn tiêu” [12].
Theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 quy định hôn nhân là
“quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn” [36, Điều 3].
Như vậy, dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau, dưới góc độ xã hội hay
khoa học pháp lý, thì hơn nhân vẫn được hiểu theo một nghĩa chung nhất đó
là sự liên kết tự nguyện, theo qui định pháp luật giữa một người đàn ông và
một người đàn bà, nhằm chung sống suốt đời với tư cách là vợ chồng, và vì
mục đích xây dựng một gia đình. Với quan niệm chung đó, chúng ta thấy xuất
16
hiện yếu tố giới và giới tính trong quan hệ hơn nhân, đó chính là quan hệ giữa
hai cá thể ở hai giới tính khác nhau trong một quan hệ hơn nhân.
Về khái niệm gia đình, theo Từ điển Tiếng Việt, gia đình được hiểu là:
“Tập hợp người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn
bó với nhau bằng quan hệ hơn nhân và dịng máu, thường gồm có vợ chồng,
cha mẹ và con cái” [24]. Theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014, “Gia
phát triển theo trật tự phù hợp với ý chí của Nhà nước, trong đó có mục tiêu
BĐG trong HN&GĐ mà hầu hết các quốc gia đều hướng tới.
Ở góc độ quốc tế, pháp luật quốc tế là những thỏa thuận đa phương,
song phương thể hiện cam kết của các quốc gia trong việc bảo đảm BĐG
trong HN&GĐ. Thực chất đây là sự tự nguyện của các Nhà nước trong việc
cam kết thực hiện các nghĩa vụ nhằm bảo đảm BĐG trong HN&GĐ. Ở góc độ
mỗi quốc gia, các Nhà nước ban hành pháp luật về HN&GĐ để quy định
trách nhiệm của Nhà nước, của các tổ chức, cá nhân, công dân và của mỗi
thành viên trong gia đình trong việc thiết lập trật tự các quan hệ HN&GĐ.
Như vậy, dù ở góc độ quốc tế hay quốc gia, pháp luật ln là một công cụ
quan trọng để các quốc gia thiết lập trật tự quan hệ HN&GĐ phù hợp với ý
chí của Nhà nước, của xã hội và là công cụ quan trọng để bảo đảm mục tiêu
BĐG và vì sự tiến bộ phụ nữ. Vai trò nêu trên của pháp luật được thể hiện qua
những khía cạnh sau:
- Là cơ sở pháp lý để xác định trách nhiệm của các quốc gia trong việc
bảo đảm BĐG trong lĩnh vực HN&GĐ. Trách nhiệm quốc gia được chính các
quốc gia tự nguyện cam kết thông qua việc ký kết, gia nhập các điều ước quốc
tế hoặc khu vực;
- Là cơ sở pháp lý quy định quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các tổ
chức, cá nhân trong lĩnh vực HN&GĐ, khía cạnh này được thực hiện chủ yếu
qua hệ thống pháp luật quốc gia và hệ thống các quy định này được Nhà nước
bảo đảm thực hiện.
18