ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN MINH PHƯƠNG
TÍNH NHÂN ĐẠO CỦA CÁC QUY ĐỊNH VỀ NGƯỜI
DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TRONG PHẦN CHUNG
BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Lê Văn Cảm
HÀ NỘI - 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tơi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực khoa học, đồng thời tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung
khoa học của luận văn này. Tôi đã hồn thành tất cả các mơn học và đã thanh
tốn tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc
gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tơi có thể
bảo vệ Luận văn.
tuổi phạm tội ................................................................................................ 19
1.3. Tính nhân đạo đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định của
luật quốc tế và pháp luật một số nước....................................................... 20
1.3.1. Tính nhân đạo đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy đinh của
luật quốc tế................................................................................................... 20
1.3.2 Tính nhân đạo đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định của
pháp luật một số nước .................................................................................. 24
1.4. Tính nhân đạo của các quy định về người dưới 18 tuổi phạm tội
trong luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ ............................................ 29
1.4.1. Quan niệm về người dưới 18 tuổi phạm tội và chính sách pháp luật
hình sự áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ................................... 29
1.4.2. Tính nhân đạo của các quy định về người dưới 18 tuổi phạm tội trong
luật hình sự Việt Nam trước năm 1985 ......................................................... 31
1.4.3. Tính nhân đạo của các quy định về người dưới 18 tuổi phạm tội trong luật
hình sự Việt Nam từ năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm
2015 ............................................................................................................. 37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ............................................................................. 44
Chương 2: SỰ THỂ HIỆN TÍNH NHÂN ĐẠO CỦA CÁC QUY ĐỊNH
VỀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TRONG PHẦN CHUNG BỘ
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 ................................................. 45
2.1. Sự thể hiện tính nhân đạo trong quy định về phạm vi chịu trách
nhiệm hình sự của người dưới 18 tuổi phạm tội ....................................... 48
2.2. Sự thể hiện tính nhân đạo trong các quy định về nguyên tắc xử lý đối
với người dưới 18 tuổi phạm tội ................................................................ 52
2.3. Sự thể hiện tính nhân đạo trong quy định về các biện pháp xử lý
chuyển hướng, biện pháp tư pháp đối với người dưới 18 tuổi phạm tội . 61
2.4. Sự thể hiện tính nhân đạo trong các quy định về hình phạt, quyết định
hình phạt và tổng hợp hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ......... 66
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS:
Bộ luật Hình sự
LHQ:
Liên hợp quốc
NCTN:
Người chưa thành niên
QĐHP:
Quyết định hình phạt
TAND:
Tịa án nhân dân
TANDTC:
Tịa án nhân dân tối cao
TNHS:
Trách nhiệm hình sự
Tổng thụ lý, giải quyết án hình sự sơ thẩm đối với
3.2
người dưới 18 tuổi phạm tội của hai cấp Tòa án nhân
dân thành phố Hà Nội
80
giai đoạn 2014 - 2018
Tổng số thụ lý, giải quyết án hình sự sơ thẩm có
3.3
người dưới 18 tuổi phạm tội và hình phạt được áp
dụng của Tịa Hình sự - Tòa án nhân dân thành phố
82
Hà Nội giai đoạn 2014 - 2018
Cơ cấu loại tội phạm do người dưới 18 tuổi thực
3.4
hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội
giai đoạn 2014 - 2018
82
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thực hiện chiến lược cải cách tư pháp, Đảng và Nhà nước ta luôn quan
sau này. Căn cứ vào nhiều tiêu chí khác nhau, BLHS có những quy định về
việc áp dụng pháp luật trong xử lý tội phạm và người phạm tội, tuy nhiên dựa
trên những yếu tố đặc thù như độ tuổi; giới tính; tình trạng hạn chế năng lực
hành vi…mà BLHS có những chính sách riêng thể hiện tính nhân đạo, tính
hướng thiện trong việc áp dụng quy định pháp luật hình sự để giải quyết vụ án.
Trong đó các quy định đối với việc xử lý vụ án có người dưới 18 tuổi phạm tội
thể hiện rõ nét nhất chính sách hình sự nhân đạo – là đặc trưng cơ bản của pháp
luật hình sự Việt Nam trong chính sách xử lý tội phạm và người phạm tội. Trải
qua ba lần pháp điển hóa năm 1985, năm 1999 và năm 2015 của BLHS, chế
định người dưới 18 tuổi phạm tội luôn được quan tâm, tiếp thu những ý kiến
đóng góp để sửa đổi và hồn thiện, phù hợp với các quy định của Công ước về
quyền trẻ em năm 1989, Hiến pháp năm 2013, các văn bản pháp lý khác và
thực tiễn tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện, thể hiện tính nhân
đạo trong chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ngày càng
cao hơn, sát hơn so với đặc điểm, sự phát triển về nhận thức và tác động của xã
hội đối với đối tượng này.
Bắt đầu từ BLHS năm 2015, thuật ngữ “người chưa thành niên” trong các
BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999 đã được nhà làm luật thay thế bằng thuật
ngữ “người dưới 18 tuổi”, như vậy người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi sẽ
được hiểu là người chưa thành niên theo như các BLHS trước đây và để đảm
bảo tính thống nhất trong việc nghiên cứu nội dung của Luận văn này, tác giả
sẽ sử dụng thuật ngữ “người dưới 18 tuổi” thay cho thuật ngữ “người chưa
thành niên” xuyên suốt luận văn kể cả các quy định của pháp luật quốc tế về
người chưa thành niên cũng được thay đổi cho phù hợp; tác giả chỉ trừ những
2
đoạn trích nguyên văn từ tài liệu tham khảo của các tác giả khác, điều luật
trong các Bộ luật hình sự (BLHS) sẽ giữ đúng nội dung.
BLHS 2015 có cấu trúc bao gồm : Phần chung và Phần riêng. Tuy nhiên,
4) Đinh Văn Quế, Bình luận Bộ luật hình sự năm 2015 lần thứ nhất,Nxb
Thông tin và truyền thông năm 2017.
Về luận án tiến sĩ có các đề tài:
1) “Nguyên tắc nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam” của tiến sĩ Hồ Sỹ
Sơn năm 2007, Viện Nhà nước và pháp luật;
2) “Tội phạm ở lứa tuổi vị thành niên tại thành phố Hồ Chí Minh hiện
nay (Giai đoạn đẩy mạnh cơng nghiệp hóa – hiện đại hóa)” của tiến sĩ Phạm
Đình Chi năm 2005, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học
Quốc gia Hà Nội;
3) “Pháp luật về quyền của con người chưa thành niên phạm tội ở Việt
Nam” của tiến sĩ Vũ Thị Thu Quyên 2015, Học viện chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh;
4) “Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam
hiện nay” của tiến sĩ Hoàng Minh Đức năm 2016, Học viện Khoa học xã hội.
Về luận văn thạc sĩ có các đề tài:
1) “Bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong tư pháp hình sự Việt
Nam” của thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh năm 2008, Khoa Luật – Đại học Quốc
gia Hà Nội;
2) “Các nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội trong luật
hình sự Việt Nam” của thạc sĩ Nguyễn Tiến Hồn năm 2013, Khoa Luật – Đại
học Quốc gia Hà Nội;
3) “Vấn đề quyền con người và can thiệp nhân đạo trong luật quốc tế”
của thạc sĩ Phạm Thị Hồng Xuyến năm 2015, Khoa Luật – Đại học Quốc gia
Hà Nội;
4) “Nguyên tắc nhân đạo trong luật hình sự việt nam” của thạc sĩ Mai
Chí Đức năm 2017, Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội;
4
5) “Nguyên tắc nhân đạo đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo pháp
3. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Phương pháp luận nghiên cứu của Luận văn được thực hiện trên cơ sở
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết
hợp phương pháp luận khoa học Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Tội phạm
học, Tâm lý học, Xã hội học với các phương pháp nghiên cứu cụ thể để làm
sáng tỏ tính nhân đạo của các quy định về người dưới 18 tuổi phạm tội trong
Phần chung BLHS năm 2015.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên quan điểm, chủ trương, chính sách của
Đảng và pháp luật của Nhà nước. Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu như: tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê, kết hợp với một số phương pháp
khác theo yêu cầu của nội dung đề tài nghiên cứu. Tùy từng nội dung và phạm vi
nghiên cứu của đề tài, tác giả sẽ áp dụng phương pháp nghiên cứu và lựa chọn
địa điểm nghiên cứu cho phù hợp, đảm bảo hiệu quả, chất lượng cao nhất.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn là tính nhân đạo
của các quy định trong Phần chung BLHS năm 2015 đối với người dưới 18
tuổi phạm tội cũng như thực tiễn áp dụng các quy định này trên địa bàn thành
phố Hà Nội.
Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu toàn diện các quy định thể hiện tính
nhân đạo trong Phần chung BLHS năm 2015 liên quan đến người dưới 18 tuổi
phạm tội; mở rộng phạm vi nghiên cứu tính nhân đạo của các quy định trong
Phần chung BLHS năm 2015 và chỉ ra sự thể hiện tính nhân đạo trong việc áp
dụng pháp luật của các Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trên địa bàn
thành phố Hà Nội giai đoạn 2014 - 2018.
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở nội dung đề tài, Luận văn sẽ thực hiện những mục đích và
nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau đây:
6
7
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về tính nhân đạo đối với người dưới 18
tuổi phạm tội trong luật hình sự.
Chương 2. Sự thể hiện tính nhân đạo của các quy định về người dưới 18
tuổi phạm tội trong Phần chung Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015.
Chương 3. Sự thể hiện tính nhân đạo qua thực tiễn áp dụng các quy định
về người dưới 18 tuổi phạm tội trong Bộ luật hình sự Việt Nam trên địa bàn
thành phố Hà Nội giai đoạn 2014 - 2018 và định hướng tiếp tục hoàn thiện
các quy định này trong tương lai.
8
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍNH NHÂN ĐẠO ĐỐI VỚI NGƯỜI
DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TRONG LUẬT HÌNH SỰ
Việt Nam là đất nước có lịch sử hình thành và phát triển trải qua hàng
ngàn năm, có nền văn hóa đa dạng, phong phú nhưng vẫn thể hiện được bản
sắc dân tộc với những nét đẹp truyền thống được giữ gìn và phát triển qua
từng thế hệ. Nói tới truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, không thể
không nhắc đến những tư tưởng, quan điểm đạo đức mang giá trị nhân văn,
thể hiện đạo lý về tình thương con người bao trùm trên các lĩnh vực khác
nhau của đời sống xã hội. Trong việc xây dựng nền tảng của hệ thống pháp
luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng, tư tưởng nhân đạo càng được
thể hiện sâu sắc hơn bao giờ hết. Tư tưởng này cũng được xác định là kim chỉ
nam trong suốt lịch sử lập pháp qua các thời kỳ khác nhau mà nổi bật hơn cả
là Bộ luật Hồng Đức thời kỳ phong kiến và các BLHS được pháp điển hóa từ
năm 1985 cho đến nay.
chung và tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện nói riêng.
Vì vậy, để tiếp tục có những phân tích, đánh giá sâu hơn về tính nhân đạo
của các quy định về người dưới 18 tuổi phạm tội trong luật hình sự Việt Nam
chúng ta cần nghiên cứu một cách tổng thể về mặt lý luận của quy phạm này.
1.1. Khái niệm, nội hàm và ý nghĩa tính nhân đạo trong luật hình sự
Việt Nam
1.1.1. Khái niệm, nội hàm tính nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam
Tư tưởng nhân đạo trong chính sách hình sự của Đảng và nhà nước ta thể
hiện đường lối xử lý đối với các tội phạm được xác định trên cơ sở coi trọng
cả mục đích trừng trị và giáo dục, phịng ngừa tội phạm, trong đó mục đích
giáo dục người phạm tội, đề cao tính hướng thiện ln được đặt lên hàng đầu.
Từ xưa đến nay, pháp luật hình sự Việt Nam ln coi trọng và đề cao tính
nhân đạo trong việc xử lý tội phạm và người phạm tội, trong đó người già và
trẻ em luôn là đối tượng được pháp luật đặc biệt chiếu cố. Quốc triều hình luật
10
của thời Nhà Lê có quy định đặc biệt chiếu cố đối với người già, trẻ em,
người tàn tật và phụ nữ phạm tội. Tồn tại với ý nghĩa xã hội sâu sắc, quan
trọng, tính nhân đạo thể hiện đầy đủ nhất tư tưởng giữa con người với con
người về lòng yêu thương cũng như mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân
trong các quan hệ xã hội mà trong đó có lĩnh vực pháp luật hình sự.
Theo đại từ điển tiếng Việt thì nhân đạo là “đạo đức thể hiện tình thương
u với ý thức tơn trọng giá trị, phẩm chất của con người” [19, tr.1238]. Nhân
đạo được hiểu theo nghĩa là đường đi của con người, đạo làm người. Con
đường đó cịn gọi là đạo lí, đạo lí là phải tơn trọng quyền lợi chính đáng của
con người, không được xâm phạm đến sinh mệnh, thân thể, sự tự do về tư
tưởng cũng như tình cảm của con người, thể hiện sự yêu thương, quý trọng
giá trị con người.
Xã hội lồi người ln có sự vận động khơng ngừng để phát triển, trong
con người, nhân đạo là phạm trù khoa học xã hội học và là một giá trị xã hội
được sản sinh trong q trình đấu tranh chống cái ác của lồi người, đặc biệt
trong thời kỳ đấu tranh vì tự do, bình đẳng” [45, tr.29] hay như TS. Hồ Sỹ
Sơn đưa ra khái niệm về nhân đạo như sau:
“Ở nghĩa rộng, nhân đạo được hiểu là sự thừa nhận cá nhân là một giá
trị, khẳng định lợi ích của con người là tiêu chí đánh giá các quan hệ xã hội.
Vấn đề nhân đạo, vì vậy là vấn đề con người, liên quan đến tất cả mọi người.
Ở nghĩa hẹp, nhân đạo được hiểu là sự yêu thương, quý trọng con người, là
sự đối xử nhân từ, có tình người đối với họ” [40, tr.24].
Dù có hiểu theo nghĩa nào đi chăng nữa thì nhân đạo chính là vốn q
của con người, xuất phát từ bản chất yêu thương đồng loại, tôn trọng những
giá trị tốt đẹp để hướng đến một xã hội công bằng, văn minh.
Trên cơ sở những quan niệm của con người về tính nhân đạo trong đời
sống xã hội cũng như trong khoa học pháp lý hình sự, tác giả đưa ra quan
điểm cá nhân về tính nhân đạo trong luật hình sự như sau: “tính nhân đạo
trong luật hình sự là sự thể hiện trong luật hình sự các quan điểm, thái độ của
12
Nhà nước trong việc tôn trọng và bảo vệ các giá trị của con người, mong
muốn đem lại những điều tốt đẹp nhất đối với con người”
Xuất phát từ những khái niệm và luận giải của tác giả về tính nhân đạo
trong luật hình sự Việt Nam có thể chỉ ra nội hàm của tính nhân đạo như sau:
Thứ nhất, tính nhân đạo trong luật hình sự đối với người phạm tội chủ
yếu thể hiện qua các quy định về khoan hồng đối với người phạm tội trong
chính sách xử lý.
Thứ hai, tính nhân đạo được thể hiện đầy đủ và cụ thể nhất thông qua
việc đặt ra các trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi, xem xét
nhân thân, điều kiện hồn cảnh phạm tội, hình phạt và quyết định hình phạt…
Thứ ba, tính nhân đạo ghi nhận các giá trị của con người, tôn trọng và
thiểu, bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về danh dự, nhân phẩm và tính mạng
của con người. Là sự đảm bảo các quyền đương của quyền con người mà
người phạm tội được hưởng.
Thứ hai, tính nhân đạo trong luật hình sự là sự thể hiện quan điểm, chính
sách của Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam
thơng qua chính sách xử lý tơi phạm, trong đó đề cao tính bao dung, vị tha,
coi giáo dục, thuyết phục nhân cách trong con người là chủ yếu như tục ngữ
Việt Nam có câu “đánh kẻ chạy đi chứ không ai đánh người chạy lại”. Do
vậy, sự hối cải, ăn năn và biết sửa chữa sai lầm ln được đón nhận khơng chỉ
trong xã hội mà còn trong cả pháp luật. Khi xem xét TNHS, Cơ quan tiến
hành tố tụng phải chú ý đến nhiều khía cạnh như độ tuổi, tình trạng sức khỏe,
tình trạng nhận thức khi phạm tội là cơ sở chính để quyết định hình phạt
tương xứng, phù hợp với hành vi, hậu quả của tội phạm gây ra, điều này cũng
xuất phát từ tư tưởng tôn trọng con người, mong muốn những điều tốt đẹp
nhất đối với con người của truyền thống dân tộc Việt Nam đã được ghi nhận
trong nguyên tắc nhân đạo XHCN của pháp luật hình sự Việt Nam dù bất kể
đó là ai, địa vị xã hội như thế nào.
14
Thứ ba, tính nhân đạo trong luật hình sự là cơ sở cho người phạm tội tự
nguyện cải tạo, có cơ hội để sớm hòa nhập vào cộng đồng như: quy định về
miễn TNHS, miễn, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, án treo…
Như vậy, tính nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam thể hiện rõ nét tính
nhân văn, bảo vệ tối đa quyền con người, thể hiện bản chất Nhà nước của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân của Nhà nước Cộng hịa XHCN Việt Nam
coi con người là trung tâm của mọi đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng nước XHCN Việt Nam
dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
trong việc đối xử với công dân của Nhà nước đó. Chính vì lẽ đó có thể khẳng
định nhân đạo là nền tảng cho nội dung của pháp luật, và được cụ thể hóa
bằng chính sách xử lý đối với các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật mà còn
cả với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Quan điểm về tính nhân đạo đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được
thể hiện bằng các quan điểm, thái độ của Đảng và Nhà nước trong việc tôn
trọng, bảo vệ các giá trị cốt lõi liên quan đến con người, mong muốn về
những điều tốt đẹp trong xã hội mà trong đó xử sự giữa con người với con
người phải trên cơ sở tình u thương, sự tơn trọng, công lý và công bằng.
Với những đặc điểm đặc thù, người dưới 18 tuổi là người thuộc nhóm
người yếu thế trong xã hội và cũng là yếu thế trong việc thực hiện hiện hành vi
phạm tội. Tính yếu thế của người dưới 18 tuổi phạm tội được thể hiện như sau:
Thứ nhất, Năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi của con
người được tích lũy theo thời gian cùng những trải nghiệm trong chính cuộc
sống. Điều đó được thể hiện qua độ tuổi, và độ tuổi chính là tiền đề để đánh
giá mức độ trưởng thành của từng cá nhân. Ở mỗi quốc gia khác nhau, với
những đặc thù về nguồn gốc giống nòi, đặc điểm kinh tế – xã hội khác nhau
thì sự phát triển của mỗi con người cũng có sự chênh lệch, tuy nhiên đó chỉ là
sự chênh lệch khơng đáng kể. Theo quy chuẩn quốc tế được nhiều quốc gia
thừa nhận thì người có độ tuổi dưới 18 là đối tượng cần được bảo vệ đặc biệt.
16
Đối với người dưới 18 tuổi phạm tội luôn được pháp luật hình sự các quốc gia
coi là người có năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi ở mức độ
hạn chế hơn so với người từ đủ 18 tuổi trở lên. Ở những người dưới 18 tuổi,
hệ tư tưởng, hành vi chưa phát triển một cách hoàn thiện, ổn định, bền vững,
khả năng tự kiềm chế chưa cao, tạo điều kiện để xảy ra nhưng tư tưởng, hành
vi bộc phát, mang tính bản năng hoặc có thể thực hiện hành vi phạm tội do bị
người khác dụ dỗ, kích động, thúc đẩy, lơi kéo mà chính bản thân những
Từ những phân tích trên, có thể rút ra được khái niệm tính nhân đạo của
luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như sau: “Tính nhân đạo
trong luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là sự thể hiện các giá
trị tốt đẹp đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thông qua các quan điểm, thái
độ của Nhà nước bằng chính sách xử lý đặc thù ghi nhận các quyền và lợi ích
nhiều hơn trong pháp luật hình sự”
Trên cơ sở khái niệm, có thể chỉ ra được nội hàm về tính nhân đạo trong
luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như sau:
Thứ nhất, tính nhân đạo trong luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội là sự ghi nhận thái độ, quan điểm về những giá trị tốt đẹp đối với
một trong những nhóm người yếu thế trong xã hội. Ở đây có nghĩa, tính nhân
đạo đối với người dưới 18 tuổi phạm tội không đương nhiên là sự bảo đảm
quyền con người của người phạm tội mà cao hơn nữa là sự thể hiện tình yêu
thương, khoan dùng, vị tha đối với nhóm người này, mong muốn những điều
tốt đẹp nhất đối với họ khi tương lai con dài ở phía trước, khơng chỉ vì sai lầm
của bản thân mà chấm dứt đi ý chí, tương lai của họ. Việc thể hiện tính nhân
đạo trong luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi là sự đảm bảo cho việc tiếp
tục hoàn thiện bản thân trước những tác động của xã hội.
Thứ hai, tính nhân đạo trong luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi
chính là sự đối xử cụ thể của Nhà nước đối với người phạm tội thơng qua
chính sách xử lý. Như đã biết, Nhà nước nào cũng mong muốn về những điều
tốt đẹp đến với con người, tuy nhiên mong muốn thể hiện bằng tư tưởng, lời
18