ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN MAI VÂN
THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ VỆ SINH AN TOÀN
THỰC PHẨM Ở CẤP PHƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2013
i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN MAI VÂN
THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ VỆ SINH AN TOÀN
THỰC PHẨM Ở CẤP PHƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số
: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ
AN TOÀN THỰC PHẨM
1.1
Khái niệm thi hành pháp luật về an toàn, vệ sinh an toàn thực
1
4
4
phẩm
1.1.1
Khái niệm an toàn thực phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm
4
1.1.2
Khái niệm thi hành pháp luật về an toàn thực phẩm
5
1.2
Sự cần thiết và vai trị của pháp luật về an tồn thực phẩm trong
đời sống xã hội Việt Nam hiện nay
1.2.1
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ AN
TOÀN THỰC PHẨM Ở CẤP PHƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ HÀ NỘI
2.1
Tình hình thi hành pháp luật về an toàn thực phẩm ở cấp
phường trên địa bàn Thành phố Hà Nội
2.1.1
Thực trạng an toàn thực phẩm ở cấp phường trên địa bàn Thành
phố Hà Nội
iv
13
17
17
17
2.1.2
Ngun nhân gây mất an tồn thực phẩm
2.1.3
36
38
thực phẩm ở cấp phường trên địa bàn Thành phố Hà Nội
2.4
Những kết quả đạt được trong q trình áp dụng pháp luật về an
45
tồn thực phẩm ở cấp phường trên địa bàn Thành phố Hà Nội
CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP THI HÀNH PHÁP
53
LUẬT VỀ AN TỒN THỰC PHẨM
3.1
Sự cần thiết phải hồn thiện các quy định của pháp luật về vệ
53
sinh an toàn thực phẩm
3.1.1
Các bất cập trong quy định của pháp luật về vệ sinh an toàn thực
53
phẩm
60
3.2.2
62
Xây dựng chương trình giữa các cơ quan chức năng và nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực trong thi hành pháp luật về an tồn
thực phẩm
3.2.3
Tăng cường cơng tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thi hành
63
pháp luật về vệ sinh an tồn thực phẩm
3.2.3.1 Kiểm sốt các cơ sở ăn uống và sản xuất thực phẩm
63
3.2.3.2 Kiểm nghiệm chất lượng an tồn thực phẩm
65
3.2.4
67
Triển khai cơng tác thi hành pháp luật về vệ sinh an toàn thực
cơ thể
vii
58
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của nhân dân ln là mục tiêu của
Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. An toàn thực phẩm là một trong những vấn
đề mà các cơ quan nhà nước luôn quan tâm đặc biệt và coi đây là một vấn đề
có ý nghĩa to lớn về kinh tế, an tồn xã hội, bảo vệ mơi trường, sức khỏe nhân
dân và đặc biệt là tiến trình hội nhập của Việt Nam.
Thực tiễn Việt Nam thời gian qua cho thấy, Đảng và Nhà nước ta đã
thường xuyên chỉ đạo và không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản
lý nhà nước về an toàn thực phẩm.
Nhận thức đúng đắn về vai trị quan trọng của cơng tác bảo đảm an toàn
thực phẩm là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao tầm vóc
và thể chất của người Việt Nam, góp phần tích cực vào sự nghiệp bảo vệ,
chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân
Ở Việt Nam, mặc dù Luật an toàn thực phẩm được Quốc Hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thơng qua ngày
17 tháng 6 năm 2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2011;
Nghị định 38/2012/NĐ- CP, ban hành ngày 25 tháng 4 năm 2012 quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm; Nghị định 91/2012/
NĐ-CP, ban hành ngày 08 tháng 11 năm 2012 quy định xử phạt hành chính
về an toàn thực phẩm cùng nhiều văn bản pháp luật khác đã ghi nhận tương
đối toàn diện về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm an
toàn thực phẩm song khả năng áp dụng còn rất nhiều hạn chế, nội dung điều
sinh an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có cơng trình khoa
học nào đi sâu nghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống việc thi hành pháp
luật về an toàn thực phẩm ở cấp Phường trên địa bàn thành phố Hà Nội
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của Luận văn là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản về
việc thi hành pháp luật về an toàn thực phẩm ở cấp Phường trên địa bàn thành
phố Hà Nội , đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về lĩnh vực này và từ đó
đề xuất một số định hướng và giải pháp hồn thiện.
Với mục đích trên, Luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
2
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận nhiệm vụ của chính quyền cấp
Phường trong việc đảm bảo an tồn thực phẩm;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về pháp luật an
toàn thực phẩm trong việc bảo vệ sức khỏe nhân dân;
- Đưa ra một số định hướng và giải pháp cơ bản hoàn thiện pháp luật về
việc thi hành pháp luật về an toàn thực phẩm.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các văn bản quy định và thực
tiễn việc thi hành pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là thi hành pháp luật về an toàn thực
phẩm tại cấp Phường trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau: phương pháp
phân tích - tổng hợp, phương pháp lịch sử - cụ thể, phương pháp quy nạp diễn dịch, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh, …
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận
văn gồm 3 chương:
Luật An tồn thực phẩm có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011, an toàn thực
phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng
con người.
Có thể hiểu một cách đơn giản an toàn thực phẩm là toàn bộ những vấn
đề cần xử lý liên quan đến việc đảm bảo vệ sinh đối với thực phẩm nhằm bảo
vệ cho sức khỏe của người tiêu dùng.
4
Thực phẩm là nhu cầu thiết yếu hằng ngày của con người, cung cấp cho
con người nguồn dinh dưỡng, năng lượng để con người sống và phát triển.
Tuy nhiên khi bị nhiễm khuẩn, nhiễm độc... an toàn thực phẩm chưa tốt thì
thực phẩm lại là nguồn truyền bệnh nguy hiểm gây ảnh hưởng nghiêm trọng
đến sự phát triển của con người và xã hội.
An tồn thực phẩm có tác động trực tiếp đến sức khỏe và chất lượng
cuộc sống của con người. Cơng tác quản lý chất lượng an tồn thực phẩm có
vị trí rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay, đây là một vấn đề “nóng”, bao
gồm nhiều hành vi, hành động và các điều kiện phải tuân thủ, thực hiện nhằm
đưa các loại thực phẩm từ nơi sản xuất, gieo trồng, bảo quản, phân phối đến
nơi chế biến sử dụng. Có rất nhiều mức độ khác nhau, hậu quả gây ra cũng
khác nhau từ khó chịu đến tử vong khi sử dụng những thực phẩm bị ô nhiễm
…
Theo thống kê của Cục an toàn vệ sinh thực phẩm từ năm 2004 2009 đã có 1.058 vụ ngộ độc thực phẩm, trung bình có 176,3 vụ ngộ
độc thực phẩm/năm, tính trung bình tỷ lệ người bị ngộ độc thực phẩm
là 7,1 người/100.000 dân. Năm 2011 từ đầu năm đến giữa tháng 9, cả
nước xảy ra 109 vụ ngộ độc thực phẩm với tổng số 3.654 người mắc, tử
vong 18 người, đi viện 2.812 người. Nguyên nhân ngộ độc thực phẩm
năm 2011 được xác định qua lâm sàng và xét nghiệm cho thấy do độc
tố tự nhiên chiếm 30,3% số vụ, hóa chất chiếm 11,0% số vụ, do vi sinh
bằng dinh dưỡng, hợp khẩu vị, thuận tiện nhằm thoả mãn nhu cầu và phong
cách sống của người tiêu dùng được đặt ra những thách thức cho các nhà quản
lý và cả chính người tiêu dùng.
Trước tình hình này, hơn ai hết các cấp chính quyền ở địa phương là
nơi gần dân nhất cần phải có những động thái tích cực trong việc thi hành
pháp luật về an toàn thực phẩm. Cần nâng cao trách nhiệm quản lý nhà nước
của Ủy ban nhân dân các cấp, đặc biệt là ở cấp xã, phường, cụ thể:
+Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình với Hội đồng nhân dân cùng
cấp, Ủy ban nhân dân cấp trên ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy
chuẩn kỹ thuật địa phương. Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch vùng,
cơ sở sản xuất thực phẩm an toàn để bảo đảm việc quản lý được thực hiện
6
trong tồn bộ chuỗi cung cấp thực phẩm. Chính quyền cơ sở phải là người
chủ trì trong các hoạt động nâng cao chất lượng an toàn thực phẩm gắn với
phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
+Nâng cao trách nhiệm quản lý an toàn thực phẩm trên địa bàn thông
qua công tác quản lý điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với các cơ sở
sản xuất, kinh doanh thực phẩm, cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, thức ăn
đường phố, an toàn thực phẩm tại các chợ, đặc biệt là các chợ cóc, chợ tạm
trên địa bàn.
+Báo cáo với cơ quan cấp trên định kỳ và đột xuất về cơng tác quản lý
an tồn thực phẩm trên địa bàn để có hướng chỉ đạo giải quyết tích cực nhằm
đảm bảo dân sinh.
+Bố trí nguồn lực, nâng cao chất lượng nhân lực cho công tác bảo đảm
an toàn thực phẩm trên địa bàn
+Huy động sự quan tâm, phối kết hợp của các ban ngành đoàn thể
trong các biện pháp giáo dục, tuyên truyền về an toàn thực phẩm nhằm nâng
của Tổ chức này. Theo đó trong điều kiện hội nhập, cần thiết phải có cơ chế
pháp lý về việc thừa nhận tiêu chuẩn lẫn nhau giữa Việt Nam và các quốc gia
trong khu vực cũng như thế giới. Việt Nam cần phải nội luật hóa các quy định
của Quốc tế về an toàn thực phẩm để có cơ sở pháp lý thực hiện, đặc biệt là
việc áp dụng các hệ thống quản lý tiên tiến trong quản lý thực phẩm.
Ở Việt Nam vấn đề an toàn thực phẩm vẫn đang diễn biến hết sức phức
tạp. Thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin về các vụ
ngộ độc, có nơi số lượng lên tới vài trăm người.
Theo thống kê của Bộ Y tế trong những năm gần đây, hàng năm
có 200-600 vụ ngộ độc thức ăn, khoảng 5000- 7000 người mắc bệnh,
trong đó có vài chục người chết. Khoảng 20-30 % là ngộ độc do hóa
chất (chủ yếu là thuốc bảo vệ thực vật, khoảng 50% là do vi sinh vật,
14-20% do thức ăn có độc… [43].
Tâm lý thích dùng hàng ngoại đã đi sâu vào tiềm thức tiêu dùng của
người dân, tuy nhiên một trong những vấn đề mà người Việt đáng lo ngại là
hạn sử dụng của đồ “Tây”:
8
Tháng 6 /2012 đội quản lý thị trường số 26 Hà Nội đã phối hợp
với cảnh sát môi trường phát hiện một lơ hàng bánh kẹo ngoại vận
chuyển lên Hịa Bình có dấu hiệu sửa hạn sử dụng. Tại kho của công ty
nhập khẩu ở Thanh Xuân, Hà Nội, cơ quan quản lý đã mất nhiều giờ
đồng hồ kiểm đếm một kho lớn chứa đến 8 tấn bánh kẹo đều đã cận hạn
hoặc hết hạn dùng, được tẩy hạn cũ và dập hạn mới sang đến năm 2013
[28].
Các vụ việc vi phạm đến an toàn thực phẩm diễn ra thường xuyên và có
chiều hướng phức tạp gia tăng:
6 tháng đầu năm 2012, Cục quản lý thị trường đã có 13 văn bản
thực vật, thuốc kháng sinh, hormone sinh trưởng...; cơng nghệ sau thu hoạch
như hố chất sử dụng trong bảo quản, kỹ thuật bảo quản cũng như thiết bị bảo
quản, việc chế biến thực phẩm (dùng chất phụ gia, chất bảo quản, thiết bị chế
biến) chưa tuân thủ các quy định hiện hành.
Đối với bất kỳ loại thực phẩm nào khi đưa ra thị trường cần được xác
định rõ về xuất xứ, ghi rõ những hàm lượng, chất lượng và chỉ dẫn rõ ràng để
tiện dụng cho người tiêu dùng. Muốn vậy, ngay từ bây giờ chúng ta phải xây
dựng cơ chế quản lý chuỗi thực phẩm một cách hệ thống, nhằm bảo đảm mỗi
loại thực phẩm đều có "lý lịch" rõ ràng, an tồn. Đây cũng là yêu cầu bắt buộc
để từ đó cơ quan chức năng có thể truy cứu trách nhiệm khi có sự cố, tổn thất
đối với người tiêu dùng. Rất cần có các dụng cụ để kiểm tra nhanh các kim
loại nặng, các vi sinh vật gây bệnh... với giá thành thật rẻ, tiện lợi để bất kỳ
người tiêu dùng nào cũng có thể sử dụng được.
Việc quảng cáo những thực phẩm có hàm lượng chất béo, chất đường
và muối cao đã ảnh hưởng trực tiếp đến trẻ em, làm cho chúng thích ăn những
loại đồ ăn trên và dẫn tới béo phì. Ở Việt Nam, với việc đời sống được cải
thiện, nhiều trẻ em ở thành thị đang bị béo phì, dẫn đến nguy cơ gặp nhiều
vấn đề về sức khỏe trong tương lai do đó rất cần phải đấu tranh ngăn chặn
việc tiếp thị những thực phẩm có hại cho sức khoẻ trẻ em. Cụ thể: cấm quảng
cáo những loại thực phẩm khơng có lợi cho sức khoẻ trong trường học; khơng
bán các loại thực phẩm có kèm tặng phẩm, đồ chơi, các bộ sưu tập để dụ dỗ
10
trẻ em tiêu dùng thực phẩm khơng có lợi cho sức khoẻ; không lợi dụng các
thần tượng, tổ chức các cuộc thi, tranh hoạt hình để tiếp thị thực phẩm khơng
có lợi cho sức khoẻ..
Quyền lợi của người tiêu dùng nước ta bị xâm hại nghiêm trọng. Hiện
chưa có số liệu chính xác nào về tổn thất vật chất, nhưng những thiệt hại về
1. Bảo đảm an toàn thực phẩm là trách nhiệm của mọi tổ chức,
cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
2. Sản xuất, kinh doanh thực phẩm là hoạt động có điều kiện; tổ
chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải chịu trách nhiệm
về an tồn đối với thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh.
3. Quản lý an toàn thực phẩm phải trên cơ sở quy chuẩn kỹ thuật
tương ứng, quy định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và
tiêu chuẩn do tổ chức, cá nhân sản xuất công bố áp dụng.
4. Quản lý an toàn thực phẩm phải được thực hiện trong suốt
quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên cơ sở phân tích nguy cơ
đối với an tồn thực phẩm.
5. Quản lý an toàn thực phẩm phải bảo đảm phân công, phân
cấp rõ ràng và phối hợp liên ngành.
6. Quản lý an toàn thực phẩm phải đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế - xã hội. [51].
Quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm là vấn đề rộng lớn, bao gồm
nhiều ngành cùng tham gia trong đó ngành y tế là đầu mối. Trong những năm
gần đây do đổi mới chính sách kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
chuyển sang kinh tế thị trường nhiều thành phần. Công tác quản lý về an toàn
thực phẩm cần đáp ứng kịp sự phát triển của kinh tế xã hội ở Việt Nam và liên
tục được cải cách:
12
Cơng tác thi hành pháp luật về an tồn thực phẩm dựa trên một
tam giác hạ tầng vững chắc:
Luật thực phẩm
(Bao hàm cả các văn
bản pháp quy, tiêu
thực phẩm khơng che chắn ruồi, nhặng, kiến, gián, có thể do thức ăn chưa
chín kỹ, khâu bảo quản, chế biến không đảm bảo, ý thức của người bán hàng
coi nhẹ việc khám sức khỏe đúng quy trình, thực phẩm khơng rõ nguồn gốc.
Đáng nói hơn cả là sự nhận thức hiểu biết của người dân, người mua, người
bán về vệ sinh an tồn thực phẩm cịn thấp, thói quen dễ dãi với ăn uống …
tiềm ẩn nguy cơ cao về ngộ độc thực phẩm.
Để giải quyết những vấn đề trên và cải thiện sức khỏe cộng đồng, các
văn bản pháp luật về an toàn thực phẩm đã mang lại nền tảng pháp lý, niềm
tin cho người tiêu dùng, có tính răn đe các hành vi vi phạm pháp luật về an
toàn thực phẩm. Các hành vi bị cấm đã được nêu ra khá cụ thể để người tiêu
dùng có thể nhận diện được như:
1. Sử dụng nguyên liệu không thuộc loại dùng cho thực phẩm để
chế biến thực phẩm.
2. Sử dụng nguyên liệu thực phẩm đã quá thời hạn sử dụng,
không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc không bảo đảm an toàn để sản xuất,
chế biến thực phẩm.
3. Sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm
đã quá thời hạn sử dụng, ngoài danh mục được phép sử dụng hoặc
trong danh mục được phép sử dụng nhưng vượt quá giới hạn cho phép;
sử dụng hóa chất khơng rõ nguồn gốc, hóa chất bị cấm sử dụng trong
hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
4. Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc chết không rõ
nguyên nhân, bị tiêu hủy để sản xuất, kinh doanh thực phẩm. [51]
Hiện nay, trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khơng ít trường
hợp đạo đức, ý thức của người kinh doanh kém dẫn đến những sai
phạm nghiêm trọng gây ảnh hưởng đến lòng tin của người tiêu dùng
như:
a) Thực phẩm vi phạm quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa;
chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm theo quy định của
pháp luật.
11. Quảng cáo thực phẩm sai sự thật, gây nhầm lẫn đối với
người tiêu dùng.
15
12. Đăng tải, công bố thông tin sai lệch về an toàn thực phẩm
gây bức xúc cho xã hội hoặc thiệt hại cho sản xuất, kinh doanh.
13. Sử dụng trái phép lòng đường, vỉa hè, hành lang, sân chung,
lối đi chung, diện tích phụ chung để chế biến, sản xuất, kinh doanh
thức ăn đường phố. [51]
Để góp phần triển khai có hiệu quả vấn đề an tồn thực phẩm trong tình
hình mới, ngày 04/01/2012 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
20/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược quốc gia an toàn thực phẩm giai đoạn 2011
- 2020 và tầm nhìn 2030:
a) Bảo đảm an tồn thực phẩm chính là bảo đảm quyền lợi
người tiêu dùng và sức khỏe nhân dân, là một nhiệm vụ thường xuyên
cần tập trung chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, là trách
nhiệm và quyền lợi của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh
thực phẩm và mỗi người dân.
b) Tổ chức thực hiện đồng bộ các quy định pháp luật về an
tồn thực phẩm, chú trọng cơng tác thanh tra, kiểm tra, đẩy mạnh
việc áp dụng các biện pháp tiên tiền trong quản lý an tồn thực phẩm.
c) Tăng cường cơng tác thông tin, truyền thông nhằm tạo sự
chuyển biến sâu sắc trong nhận thức của người sản xuất, người tiêu
dùng và tồn xã hội về giữ gìn vệ sinh, bảo đảm an toàn thực phẩm. [58]
16
17
b, Thực hiện các quy định của Chính phủ, các Bộ, ngành và Ủy
ban nhân dân cấp trên về an toàn thực phẩm;
c, Chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân Quận, huyện về
quản lý các hoạt động kinh doanh thức ăn đường phố, nhà hàng, khách
sạn trên địa bàn xã, phường theo phân cấp [20].
Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn theo hướng dẫn, chỉ đạo của cơ
quan hành chính nhà nước có trách nhiệm thực hiện việc quản lý nhà nước
trên các lĩnh vực kinh tế- xã hội tại địa phương theo pháp luật. Việc bảo đảm
an toàn thực phẩm cho nhân dân trên địa bàn là một nhiệm vụ trọng tâm trong
những năm gần đây, với tình hình diễn biến hết sức phức tạp:
Vừa qua, quản lý thị trường Hà Nội đã phát hiện những kho
chứa tới 20 tấn thịt và phụ phẩm gia cầm đã qua chế biến sẵn, tình
trạng nhập giống gia cầm từ Trung Quốc với giá rẻ 2.000-2.500 đ / con
vào đến trại sản xuất giống ở Hà Nội thành 8.000 đ/ con do chưa được
kiểm dịch nguy cơ lây nhiễm bệnh từ thực phẩm chế biến sẵn hoặc
giống gia cầm nhập lậu này là rất lớn. Do diễn biến mới của dịch cúm
A/ H7N9 việc đối mặt với nguy cơ dịch chồng dịch là rất lớn khi Hà
Nội hiện có hơn 1,5 triệu học sinh từ mầm non đến Trung học phổ
thông và Cao đẳng [54].
2.1.2. Nguyên nhân gây mất vệ sinh an tồn thực phẩm
Con đường gây ơ nhiễm vào thực phẩm có thể ngay từ q trình sản
xuất nơng sản, thực phẩm, thủy hải sản ngay trên cánh đồng, trong chuồng
trại, tại sông hồ, ao, biển... cho đến quá trình sản xuất chế biến, bảo quản, vận
chuyển và sử dụng thực phẩm.
An toàn thực phẩm của một loại sản phẩm được quyết định tại tất cả
các công đoạn của chuỗi liên kết sản xuất tiêu thụ thực phẩm, từ nhà sản xuất,