65
Chương 3: GIẢI PHÁP LỰA CHỌN THỊ TRƯỜNG NIÊM
YẾT CHỨNG KHOÁN RA NƯỚC NGOÀI CHO CÁC
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 3.1 Định hướng và dự báo nhu cầu niêm yết ra nước ngoài
Nhà nước thấy được lợi ích của hoạt động niêm yết ra nước ngoài đối với doanh
nghiệp và sự phát triển của thị trường chứng khoán trong nước nên đã có những
định hướng bước đầu cho hoạt động này. Hiện nay, Ủy ban Chứng khoán Nhà
nước đang chuẩn bị hoàn tất dự thảo thông tư hướng dẫn về việc chào bán và
niêm yết chứng khoán của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường nước
ngoài trình Bộ Tài chính để sớm ban hành nhằm tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp tham gia huy động vốn và niêm yết ở nước ngoài. Dưới góc độ quản lý
ngoại hối, dự thảo thông tư hướng dẫn về chào bán và niêm yết chứng khoán của
các doanh nghiệp Việt Nam có quy định về việc tổ chức phát hành phải mở tài
khoản vốn phát hành chứng khoán bằng ngoại tệ tại một tổ chức tín dụng được
phép của Việt Nam, thực hiện các giao dịch thu chi có liên quan đến việc phát
hành chứng khoán phù hợp với quy định về quản lý ngoại hối của Việt Nam.
Ngoài ra, nhà nước cũng đang có chủ trương áp dụng mô hình quản lý theo kiểu
tư nhân hoá sở giao dịch chứng khoán mà mô hình này hiện nay được áp dụng
hầu hết ở các sở giao dịch chứng khoán phát triển. Điều này thể hiện ở Hội nghị
triển khai nhiệm vụ phát triển thị trường chứng khoán năm 2010 của Ủy ban
Chứng khoán Nhà nước tổ chức ngày 22/1/2010 đã đưa ra lộ trình 2013-2020 cổ
phần hoá hai Sở giao dịch chứng khoán TPHCM và Hà Nội. Một khi sở giao
dịch đã cổ phần hoá và tìm được đối tác chiến lược như Mỹ, hoặc Anh,
HongKong, Singapore…càng tạo thuận lợi cho hoạt động niêm yết ra nước
ngoài.
Để đưa ra một số giải pháp bên dưới, tác giả đã trải qua quá trình nghiên cứu sự
phát triển của hoạt động niêm yết chứng khoán ra nước ngoài ở một số quốc gia
như Trung Quốc, HongKong, Nhật Bản, Singapore, Israel và một số quốc gia
67
Châu Âu dưới các góc độ như điều kiện kinh tế dẫn đến nhu cầu huy động vốn,
cải cách hệ thống quản trị công ty, cải cách chuẩn mực kế toán, cải cách các luật,
qui định liên quan liên niêm yết, các qui định nhằm bảo vệ nhà đầu tư. Tác giả
còn tham khảo mô hình và sự phát triển chiến lược của các sở giao dịch ở các
quốc gia này cũng như cách thức các sàn hấp dẫn công ty nước ngoài đến niêm
yết. Chính quá trình tổng hợp này đã làm loé lên trong tư tưởng tác giả một tham
vọng mà nó vượt xa giới hạn của đề tài mà tác giả hy vọng sẽ có nhà chuyên môn
nào đó phát triển ý tưởng này lên, đó là Việt Nam có lẽ cũng có khả năng trở
thành trung tâm tài chính khu vực trong 10-15 năm tới, sau khi phát triển hoạt
động niêm yết ra nước ngoài, và Việt Nam phải làm gì để thực hiện ước muốn
đó. Qua sự nghiên cứu và phân tích kinh nghiệm về niêm yết ra sàn ngoại của các
quốc gia này, tác giả đã nhìn nhận lại các điều kiện tại Việt Nam và có một số so
sánh cụ thể với Việt Nam nhằm đưa ra những giải pháp hữu ích giúp doanh
nghiệp Việt Nam lựa chọn thị trường phù hợp.
Quan điểm của tác giả, đối với những công ty qui mô chưa đủ lớn có nhu cầu
niêm yết trên những sàn số một thế giới như Mỹ chẳng hạn, có thể chọn một số
cách như sáp nhập với công ty đã niêm yết trên sàn nước ngoài rồi, hoặc niêm yết
trên sàn tự do ở nước ngoài trước để có thời gian học hỏi và làm quen cách thức
của các sàn, sau đó hoàn thiện để lên sàn chính. Đối với những công ty lớn của
Việt Nam, có thể chọn niêm yết trên sàn chính ở các quốc gia nổi trội như
HongKong hoặc Singapore, sau thời gian 1-2 năm chuẩn bị tốt hơn trong cải tiến
quản trị công ty, có thể tham gia trực tiếp trên các sàn chính tại Mỹ và Anh. Hay
doanh nghiệp có thể chọn ngay thị trường Mỹ, Anh để niêm yết nếu đã có sự
chuẩn bị tốt về nguồn nhân lực, quản trị công ty hoặc kiên quyết cải tiến các mặt
chính mà doanh nghiệp cung cấp, chứ không chỉ nêu ra rồi để đó và bỏ ngỏ cho
nhà đầu tư. Các thông tin công bố nên nhấn mạnh vào những thông tin định
hướng tương lai, phân khúc chi phí, phân khúc hiệu quả của từng chuyền. Doanh
nghiệp nên giải thích thêm thông tin đối với các ngành công nghiệp đặc thù nếu
đó là ngành mà nhà đầu tư khó hiểu nếu không có chuyên môn trong lĩnh vực đó.
69
Đối với các qui định về tiêu chuẩn quản trị công ty, cần có những hướng dẫn cụ
thể để công ty áp dụng. Qui định về công bố tình hình thực hiện quản trị công ty
cũng như báo cáo của hệ thống kiểm soát nội bộ công ty phải được báo cáo định
kỳ và thường niên. Nâng cao tính độc lập của kiểm toán viên bằng cách sau vài
năm phải đổi kiểm toán viên khác. Khi một kiểm toán viên bị sa thải, họ được
quyền cho ý kiến nhận xét của mình trong cuộc họp đại hội đồng cổ đông thường
niên. Cần qui định về công bố báo cáo lương thưởng được lập bởi uỷ ban lương
thưởng để giải thích về qui trình và cách tính thù lao, mức thù lao trả cho ban
HĐQT và những người điều hành chủ chốt của công ty. Điều này không khó vì ta
có thể học hỏi kinh nghiệm của những nước phát triển về qui trình quản trị, vấn
đề là mức độ ứng dụng để phù hợp với trình độ phát triển của doanh nghiệp và
thị trường chứng khoán Việt Nam. Mặt trái của vấn đề là, nếu nhà nước nhân
nhượng trong việc ứng dụng tiêu chuẩn quản trị hiện đại, thì con đường xuất
ngoại của cổ phiếu doanh nghiệp ta càng dài.
Cần ban hành những chế tài cứng rắn hơn nữa để tăng tính bắt buộc và rèn luyện
thói quen về tuân thủ công bố thông tin của các doanh nghiệp. Những thông tin
công bố nên vượt xa các qui định về minh bạch thông tin, đặc biệt là những
thông tin ảnh hưởng tới quyền lợi cổ đông thiểu số. Ở các sàn phát triển trên thế
giới, việc doanh nghiệp vi phạm về công bố thông tin sẽ bị phạt rất nặng và có
thể bị huỷ niêm yết, được qui định rõ trong các luật.
3.3.1.3 Đưa hoạt động niêm yết ra nước ngoài vào định hướng
đẩy nhanh sức mạnh tài chính, nâng cấp cơ sở vật chất để bắt kịp với sự phát
triển của thị trường chứng khoán thế giới. Một khi cơ sở hạ tầng sở giao dịch
được nâng cấp sẽ hổ trợ thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả hơn, tiêu
chuẩn niêm yết sẽ được nâng cao. Ở một bước phát triển cao hơn là sở giao dịch
của ta có thể bán cho vài đối tác chiến lược như sở giao dịch Mỹ, London,
Singapore…một khi các đối tác này mua cổ phần của sở giao dịch của Việt Nam
thì cơ hội để ta học hỏi kinh nghiệm quản l ý và doanh nghiệp ta có nhiều cơ hội
tiếp cận, làm quen với các tiêu chuẩn niêm yết ở nước ngoài.
71
3.3.2 Các giải pháp vi mô
3.3.2.1 Nâng cao mức độ am hiểu của doanh nghiệp về hoạt động niêm yết ra
nước ngoài
Doanh nghiệp cần xác định rõ mục đích, khả năng doanh nghiệp và qui mô niêm
yết để lựa chọn thị trường phù hợp. Như đã trình bày ở phần trên, mỗi thị trường
chứng khoán nước ngoài có những đặc thù riêng mà những đặc thù này sẽ tương
thích với từng loại mục đích của doanh nghiệp. Tuy vậy, thấy được sự tương
thích này vẫn chưa đủ cho một quyết định lựa chọn thị trường. Vì hoạt động
niêm yết ra nước ngoài đang ở giai đoạn đầu và mới nên khá khó khăn với doanh
nghiệp. Việc xác định khả năng doanh nghiệp và qui mô niêm yết là hai yếu tố
khá quan trọng sẽ giúp doanh nghiệp tiến gần hơn nữa tới quyết định lựa chọn thị
trường. Doanh nghiệp sẽ là người hiểu rõ khả năng cũng như nội lực tiềm tàn của
mình nhất. Doanh nghiệp cần phân tích cả thế mạnh và mặt yếu kém của mình
trên mọi phương diện để trả lời cho câu hỏi doanh nghiệp mình đang ở mức nào.
Doanh nghiệp có thể so sánh với chỉ tiêu trung bình ngành xem mình có vượt
trung bình ngành không. Qui mô niêm yết cũng là yếu tố quan trọng tiếp theo.
Doanh nghiệp không nên lựa chọn thị trường quá lớn, quá nổi tiếng, quá tốn kém
chi phí để rồi chỉ huy động với một số vốn không đáng kể và ngược lại. Doanh
nghiệp nên tự cân nhắc những điều này bên cạnh những ý kiến chuyên gia tư vấn.
doanh nghiệp có được danh tiếng là doanh nghiệp đã niêm yết ở sàn số một thế
giới, hay doanh nghiệp muốn mở rộng sản phẩm sang thị trường rộng lớn này.
Hay doanh nghiệp cho rằng không nên sang Mỹ vì chi phí quá cao và doanh
nghiệp chưa có khả năng cạnh tranh trên thị trường này nên sang London vẫn là
thị trường tài chính có thanh khoản rất tốt nhưng chi phí rẽ hơn ở Mỹ. Hay quan
điểm cho rằng niêm yết gần về địa l ý, khu vực cùng múi giờ sẽ dễ dàng hơn mà
73
vẫn là thị trường danh tiếng như HongKong hay các qui định nới lỏng hơn và
chính sách khuyến khích của chính phủ ở các nước tiếp đón như Singapore….
3.3.2.2 Lựa chọn nhà tư vấn phù hợp
Công tác lựa chọn nhà tư vấn được các công ty niêm yết ra nước ngoài cho là
quan trọng nhất. Các doanh nghiệp nên chọn nhà tư vấn hiểu rõ về thị trường mà
doanh nghiệp muốn niêm yết và công ty mà họ tư vấn đã niêm yết thành công.
Căn cứ vào nhu cầu và đặc điểm của doanh nghiệp, nhà tư vấn sẽ cho doanh
nghiệp biết nên niêm yết ở thị trường nào, cần chuẩn bị những gì và cách thức
tiến hành ra sao. Doanh nghiệp nên cân nhắc kỹ trong việc chọn nhà tư vấn ( bao
gồm tư vấn niêm yết và các tư vấn khác), tránh trường hợp đi được giữa đường
phải thay đổi nhà tư vấn khác. Cavico là một bài học, doanh nghiệp này đã phải
thay đổi kiểm toán viên độc lập (Jaspers + Hall, PC) và thay bằng kiểm toán
viên độc lập khác (PMB Helin Donovan, LLP) ở giữa đường và công việc kiểm
toán lại phải bắt đầu từ đầu, gây tốn thời gian và chi phí.
3.3.2.3 Nâng cấp và cải thiện quản trị công ty trước khi niêm yết ra nước
ngoài
Michelle Quah (2005) thực hiện nghiên cứu cho Media Corppress Ltd., được
công bố trên tờ Business Times Singapore về khảo sát quyết định đầu tư vào một
công ty của các nhà đầu tư có tổ chức. Những nhà đầu tư này cho rằng quyết
lãnh lương rất cao.
Đa số doanh nghiệp cổ phần hoá đều có thành viên HĐQT nằm trong ban quản l ý
điều hành công ty. Đặc biệt đối với doanh nghiệp nhà nước thông thường có chủ
tịch hội đồng quản trị kiêm tổng giám đốc. Một khi các doanh nghiệp này muốn
niêm yết ra những thị trường lớn nước ngoài nơi đòi hỏi bảo vệ cao quyền lợi nhà
đầu tư thiểu số và tính độc lập cao của thành viên HĐQT thì cơ cấu giám sát này
cần nâng cấp và thay đổi. Doanh nghiệp cần có thời gian chuyển đổi cơ cấu này
75
bằng việc thuê mướn các giám đốc có chuyên môn thích hợp, đầy đủ kinh
nghiệm và năng lực. Hình thức này đã được một số công ty tiên phong của Việt
Nam áp dụng như ngân hàng ACB thuê Ông Trần Xuân Giá- nguyên giám đốc sở
kế hoạch đầu tư- làm chủ tịch HĐQT. Tuy nhiên, việc này nghe có vẽ rất khó
thực hiện đối với doanh nghiệp nhà nước vì loại hình doanh nghiệp này được chủ
trương nhà nước nắm quyền là cổ đông chi phối và không muốn trao quyền này
cho người khác. Vì vậy, phương án đào tạo nâng cao trình độ và kỹ năng của
HĐQT sẽ là phương án dễ thực hiện hơn. Công ty nên công khai vấn đề đào tạo
và huấn luyện giám đốc hàng năm và công khai trên báo cáo thường niên. Nhà
nước nên khuyến kích công ty huấn luyện những giám đốc mới được bổ nhiệm
về các lĩnh vực kế toán, pháp l ý, kiến thức cụ thể trong ngành kinh doanh. Những
nhà làm luật cần hướng dẫn rõ qui trình đào tạo cho những thành viên HĐQT
mới được bầu. Các nhà quản l ý thị trường chứng khoán nên phối hợp với một số
thị trường phát triển như Nyse, Nasdaq, London để chuyển tải và phát triển
những chương trình đào tạo này.
Doanh nghiệp muốn gia nhập vào thị trường chứng khoán phát triển trên thế giới
buộc phải nâng cao tính độc lập của HĐQT nếu muốn được đánh giá cao. Điều
này thể hiện qua việc công ty tăng số thành viên HĐQT độc lập và mức độ độc
lập của thành viên HĐQT. Số thành viên HĐQT độc lập tuỳ thuộc vào qui mô
công ty. Việc thành viên HĐQT có mối quan hệ với công ty như sở hữu cổ phần,
trung vào một người và các quyết định đưa ra một cách độc lập, vì mục đích tối
đa hoá giá trị công ty.
Văn hoá quản trị công ty tạo ra lòng tin cho nhà đầu tư. Công ty cần xây dựng
một văn hoá về sự giải trình trách nhiệm trong toàn bộ tổ chức, giải trình trách
nhiệm đối với bên có liên quan, giải trình về công tác quản lý hàng ngày. Để làm
tốt điều này, công ty nên qui định báo cáo công việc thực hiện ở cấp phòng ban.
Nhìn vào báo cáo này, người ta có thể biết được sự vận động của công ty theo
77
thời gian và không một nhân viên nào bị bỏ sót trong quá trình phát triển của
công ty. Công việc này cần tiến hành một cách khoa học, hợp l ý với sự trợ giúp
của công nghệ thông tin. Nếu không, nó sẽ phản tác dụng vì chỉ gây cho nhân
viên cảm giác chán ghét và ở trạng thái căng thẳng thần kinh khi phải chạy theo
việc báo báo mà không thấy được vai trò của báo cáo.
3.3.2.4 Ứng dụng công nghệ thông tin vào quản l ý
Doanh nghiệp nên ứng dụng công nghệ thông tin vào quản l ý. Vì một khi niêm
yết ngoại, doanh nghiệp sẽ được yêu cầu nhiều mẫu biểu báo cáo và kịp thời.
Chẳng hạn Cavico cho biết doanh nghiệp này phải chuẩn bị 250 biểu mẫu khác
nhau theo yêu cầu của Nasdaq.
Công tác ứng dụng công nghệ thông tin là rất cần thiết cho việc chuyển đổi số
liệu kế toán, hệ thống báo cáo tài chính có khả năng chuyển đổi theo chuẩn quốc
tế. Hầu hết công ty niêm yết ngoại là những công ty rất lớn, có nhiều dự án,
nhiều công ty con. Nên việc ứng dụng công nghệ, phần mềm để quản l ý dữ liệu,
lập báo cáo tổng hợp đáp ứng yêu cầu chính xác và kịp thời là rất quan trọng.
Theo nhiều nghiên cứu cho rằng việc này cần công ty tập dượt trước niêm yết ít
nhất là 1-2 năm. Do đó, ngoài công nghệ thông tin, doanh nghiệp cần có một đội
ngũ nhân viên, kế toán đủ trình độ, giàu kinh nghiệm, phục vụ cho công tác này.