Giáo trình dinh dưỡng người - Lipid - Pdf 70

CHƯƠNG IV. LIPID

I Mở đầu
Lipid là hợp phần quan trọng của khẩu phần ăn, được trình bày ở Hình 4.1.

(a) Triacylglycerols

(b) Phosphatidyl choline

(c) Cholesterol
Hình 4.1 Cấu trúc của các lipid của cơ
thể và vài loại thực phẩm quan trọng
(a) Triacylglycerols (hay triglycerides)
là chất béo dự trữ chủ yếu.
(b) Phosphoglycerides: là nhóm được
phân loại chung cho các lipid có chứa
phosphor, hay được gọi là phospholipid.
R biểu thị chuỗi hydrocarbon của các
acid béo
(c) Cholesterol: là sterol chủ yếu của mô
động vật (Garrow, 2000)
Lipid là thành phần thay đổi một cách đáng kể trong thành phần và cấu trúc. Chúng
được tìm thấy ở cả hai loại thực phẩm thực v
ật và động vật, và cũng thay đổi rất rộng
về tính chất lý hoá học. Hầu hết các loại dầu mỡ tự nhiên đều chứa khoảng 98 - 99%
glyceride, phần còn lại rất nhỏ bao gồm monoglyceride, acid béo tự do, phospholipid
và các chất không xà phòng hoá. Tính chất lý hoá học của các chất dầu mỡ ảnh hưởng
bởi kích thước của hạt phân tử béo và bởi số lượng của các acid béo bão hoà hoặc
chưa bão hoà mà chúng chứa. Thông thường với ch
ất béo bão hoà nhiều và khối lượng
phân tử cao thì chúng ở dạng rắn. Glycolipid hoặc cerebroside là những hợp phần của

(http://bioweb.wku.edu)
Tùy theo một, hai hay ba nhóm OH của glycerin
tạo ester với các acid béo mà ta có mono, di và
triglyceride.
Các acid béo có trong dầu mỡ luôn có số nguyên
tử carbon chẵn vì chúng được tổng hợp từ hợp
chất 2C (Acetyl CoA). Có 2 loại:
Acid béo no (bão hoà): acid caproic, acid
caprylic, acid lauric, acid myristic, acid palmitic,
acid stearic, acid arachidic..
Acid beó chưa no (chưa bão hoà): acid oleic
(C
18
H
34
O
2
), acid linoleic (C
18
H
32
O
2
), acid
linolenic (C
18
H
30
O
2

- CH
2
- CH
2
OH). Các hợp
chất này là thành phần cấu trúc của tế bào thần kinh, não, tim, gan, tuyến sinh dục, đặc
biệt đóng vai trò quan trọng trong tính thấm màng tế bào.
2.2 Các tính chất của lipid
Các chỉ số cơ bản phản ánh tính chất của dầu và mỡ là:
- Nhiệt độ nóng chảy: phụ thuộc vào thành phần của acid béo. Nếu trong thành phần
dầu và mỡ có nhiều acid béo no thì chúng có nhiệt độ nóng chảy cao hơn và thường ở
trạng thái rắn. Ngược lại trong thành phần có nhiều acid béo chưa no thì chúng có

40
nhiệt độ nóng chảy thấp, thường ở trạng thái lỏng (Bảng 4.1). Đa số dầu thực vật ở
trạng thái lỏng trong điều kiện nhiệt độ bình thường. Bảng 4.1 Tính chất của một số loại dầu mỡ (Lê Doãn Diên & Vũ Thị Thư, 1996)

Loại mỡ Nhiệt độ nóng chảy Loại dầu Nhiệt độ nóng chảy
Mỡ bò
Mỡ lợn
Mỡ cừu
+ 35 - 38
o
C
+ 35 - 45
o
C

đã xảy ra quá trình phân giải dầu và mỡ dưới tác dụng của enzyme lipase, với sự tham
gia của H
2
O.
CH
2
OCO R
1
CH
2
OH R
1
COOH

CHOCO R
2
+ H
2
O CHOH + R
2
COOH

CH
2
OCOR
3
CH
2
OH R
3

các loại khoai, ngô, sắn thì ngô có hàm lượng cao hơn cả khoảng 3 - 8% và tập trung ở
phần phôi hạt. Trong lúa mì, đại mạch và luá gạo thường có khoảng 1,6 - 3,2%; khoai
lang, khoai tây, sắn tươi hàm lượng lipid không đáng kể 0,1 - 0,3%. Các loại rau hầu
như chứa rất ít lipid, trừ các loạ
i rau đậu: đậu Hà lan, đậu cô-ve, hàm lượng lipid
khoảng 1 - 2%. Các loại quả chín, trừ gấc có hàm lượng lipid cao, còn lại chứa khoảng
0,1 - 0,5% lipid. Chỉ riêng hạt và quả các loại cây lấy dầu là có hàm lượng lipid rất
cao, cao hơn bất kỳ loại thức ăn nào, trong đó phải kể đến cùi dừa, đậu phộng, mè, đậu
nành, đậu rồng, cọ dầu (Bảng 4.2). Có thể nói những thực phẩm này là nguồn lipid vô
cùng quý giá có thể dùng làm thứ
c ăn trực tiếp, có thể là nguyên liệu sản xuất dầu thực
vật.
Bảng 4.2 Hàm lượng lipid tổng số trong một số loại thức ăn chính (% khối lượng khô)

STT Tên thực phẩm Hàm lượng lipid tổng số (%)
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15

Hướng dương
** Đậu Hà lan
Đậu xanh
Đậu cô ve
Cà chua
Cải bắp
Rau muống
Rau ngót
Nấm hương khô
Gấc
Chuối tiêu
Đu đủ chín
Thịt bò
Thịt heo
Gan heo
Cá chép
Trứng gà
Sữa mẹ
Sữa bò tươi
2,0
1,5
0,3
0,1
0,2
4,6
23,5
40,2 – 60,7
62,9 – 74,0
47,5 – 53,8
17,0

khác với protein và glucid, lipid cung cấp năng lượng nhiều hơn (1g lipid cung cấp
khoảng 9 kcal), gấp đôi so với mức năng lượng do carbohydrate và protein sản sinh ra.
Trong khẩu phần ăn hợp lý, nhu cầu năng lượng do lipid cung cấp khoảng từ 15 -20%.
Thức ăn giàu lipid là nguồn năng lượng đậm đặc cần thiết cho người lao động nặng,
cần thiết cho sự phục hồ
i sức khoẻ đối với phụ nữ sau khi sinh và các cơ thể mới ốm
dậy, chất béo dự trữ nằm ở dưới da và mô liên kết.
3.2 Cấu thành các tổ chức
Như màng tế bào là lớp mỡ do lipoid, glucolipid và cholesterol.. hợp thành; tủy não và
các mô thần kinh có chứa lipid và glucolipid. Cholesterol là nguyên liệu cần thiết để
chế tạo ra steroit hormoon.
3.3 Duy trì nhiệt độ cơ thể, bảo vệ các cơ quan trong cơ thể
Lipid là chất dẫn nhiệt không tốt ngăn ngừa sự mất nhiệt dưới da, có tác dụng giữ
nhiệt, giúp ích cho việc chống rét, đồng thời còn làm cho lượng nhiệt ở bên ngoài đã
được hấp thu không truyền dẫn vào bên trong cơ thể, có tác dụng cách nhiệt.
Lipid phân bố không đều trong cơ thể người với tổng hàm lượng khoảng 10%. Lượng
chất béo chủ yếu tập trung ở các tổ chức dưới da tạo thành l
ượng mỡ dự trữ để cơ thể
sử dụng khi cần thiết. Một phần chất béo còn bao quanh phủ tạng như là tổ chức bảo
vệ, để ngăn ngừa các va chạm và giúp chúng ở vị trí đúng đắn. Nó còn giúp cơ thể
tránh khỏi các tác động bất lợi của môi trường ngoài như nóng, lạnh. Người gầy thì lớp
mỡ dưới da mỏng, do vậy mà cơ thể kém chị
u đựng với sự thay đổi của thời tiết.
3.4 Thúc đẩy việc hấp thu các vitamin tan trong chất béo
Vitamin A, D, E, K không tan trong nước mà tan trong chất béo hoặc dung môi hoà tan chất
béo. Lipid có trong thức ăn sẽ làm dung môi để thúc đẩy sự hấp thu chúng. Nếu hàm lượng
lipid trong bữa ăn thấp thì sẽ ảnh hưởng đến việc hấp thu caroten trong rau xanh (trong cơ thể
caroten chuyển thành vitamin A).
3.5 Làm tăng cảm giác no bụng
Lipid ngừng ở dạ dày với thời gian tương đối lâu, cho nên khi ăn những thức ăn có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status