Thiết kế và thử nghiệm hệ thống bài tập phát triển năng lực so sánh cho trẻ 5 6 tuổi trong hoạt động làm quen với toán​ - Pdf 70

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Lê Tú Uyên

THIẾT KẾ VÀ THỬ NGHIỆM HỆ THỐNG BÀI
TẬP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SO SÁNH CHO
TRẺ 5 – 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG LÀM
QUEN VỚI TOÁN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành phố Hồ Chính Minh – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Lê Tú Uyên

THIẾT KẾ VÀ THỬ NGHIỆM HỆ THỐNG BÀI
TẬP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SO SÁNH CHO
TRẺ 5 – 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG LÀM
QUEN VỚI TOÁN
Chuyên ngành: Giáo dục học (Giáo dục mầm non)
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHẠM PHƢỚC MẠNH

Thành phố Hồ Chính Minh – 2017

non Tuổi thơ 6A (Quận 3), Trường Mầm non Tuổi thơ 7 (Quận 3), Trường Mầm non
Vàng Anh (Quận 5), Trường Mầm non Sơn Ca (Quận 5), Trường Mầm non Thực Hành
(Quận 10), Trường Mầm non Quận (Quận Tân Bình), Trường Mầm non 13 (Quận Tân
Bình) và Trường Mầm non Tư thục Họa Mi (Quận Tân Bình) đã giúp đỡ và tạo mọi
điều kiện cho tơi trong suốt quá trình khảo sát, quan sát, phỏng vấn sâu và thử nghiệm
để hồn thành luận văn.
Tơi chân thành cảm ơn các bạn học viên lớp Giáo dục Mầm non khóa 26 đã chia
sẻ kinh nghiệm nghiên cứu và hỗ trợ tơi tìm kiếm tài liệu liên quan đến luận văn.
Chân thành cảm ơn thầy cô trong Hội đồng đánh giá luận ăn đã góp ý kiến giúp
tơi hồn chỉnh luận văn.
Cuối cùng, tôi chân thành cảm ơn gia đình đã động viên và khích lệ, tạo điều kiện
giúp đỡ tơi trong suốt q trình, tơi thực hiện và hoàn thành luận văn này.


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các Bảng
Danh mục các hình ảnh và Biểu đồ
MỞ ĐẦU.................................................................................................................. 1
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SO SÁNH VỀ SỐ LƢỢNG
CHO TRẺ 5-6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN
VỚI TOÁN 6
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề................................................................................6
1.1.1. Những cơng trình nghiên cứu ở nước ngồi..............................................6
1.1.2. Những cơng trình nghiên cứu ở trong nước............................................ 11


2.2.2. Thực trạng thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập phát triển năng lực
so sánh về số lượng cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động làm quen với
toán ở một số trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh

58

Tiểu kết chương 2.................................................................................................... 70
CHƢƠNG 3. THIẾT KẾ VÀ THỬ NGHIỆM HỆ THỐNG BÀI TẬP
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SO SÁNH VỀ SỐ LƢỢNG
CHO TRẺ 5-6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN
VỚI TOÁN 72
3.1. Thiết kế hệ thống bài tập phát triển năng lực so sánh về số lượng cho trẻ
5-6 tuổi trong hoạt động làm quen với toán

72

3.1.1. Cơ sở định hướng về thiết kế hệ thống bài tập phát triển năng lực so
sánh về số lượng cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động làm quen với toán 72


3.1.2. Nguyên tắc thiết kế hệ thống bài tập phát triển năng lực so sánh về
số lượng cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động làm quen với toán

72

3.1.3. Thiết kế hệ thống bài tập phát triển năng lực so sánh về số lượng
cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động làm quen với tốn

74

PHỤ LỤC.............................................................................................................128


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Nội dung viết tắt
Bài tập
Bài tập 1 chủ đề đồ dùng sinh hoạt
Bài tập 2 chủ đề động vật
Bài tập 3 chủ đề trái cây
Bài tập 4 chủ đề rau củ
Bài tập 5 chủ đề đồ dùng sinh hoạt
Bài tập 6 chủ đề động vật
Bài tập 7 chủ đề trái cây
Bài tập 8 chủ đề rau củ
Đối chứng
Giáo viên khối lá
Giáo viên mầm non
Hệ thống bài tập
Hoạt động làm quen với toán
Năng lực so sánh về số lượng
Số lượng
So sánh số lượng
Thử nghiệm
Trung bình


Chữ biết tắt của nội dung viết tắt
:BT
:BT1-SH

tập phát triển NLSSVSL cho trẻ 5-6 tuổi trong HĐLQVT .................
Bảng 3.1. Thang đánh giá về năng lực so sánh số lượng của trẻ 5-6 tuổi trong
hoạt động làm quen với toán ...............................................................
Bảng 3.2. Hệ thống bài tập khảo sát trước thử nghiệm .............................................
Bảng 3.3. Hệ thống bài tập sử dụng ở nhóm thử nghiệm .........................................
Bảng 3.4. Hệ thống bài tập khảo sát sau thử nghiệm ................................................
Bảng 3.5. Thang điểm mức độ năng lực so sánh số lượng của trẻ 5-6 tuổi trong
HĐLQVT.............................................................................................
Bảng 3.6. Mức độ năng lực so sánh số lượng của trẻ nhóm ĐC và nhóm TN
trước TN ..............................................................................................
Bảng 3.7. Kiểm nghiệm Chi-bình phương (Chi Square Test) về mức độ năng
lực so sánh số lượng của trẻ nhóm ĐC và nhóm TN trước thử
nghiệm .................................................................................................
Bảng 3.8. Mức điểm đánh giá kết quả so sánh số lượng của trẻ nhóm đối
chứng và nhóm thử nghiệm trước thử nghiệm ở 2 lớp Lá 1 và Lá
2 97


Bảng 3.9. Mức độ năng lực so sánh số lượng của trẻ nhóm ĐC và TN sau TN.....100
Bảng 3.10. Kiểm nghiệm Chi-bình phương (Chi Square Tests) về mức độ năng
lực so sánh số lượng của trẻ nhóm ĐC và nhóm TN sau TN

103

Bảng 3.11. Đánh giá kết quả so sánh của trẻ nhóm ĐC và nhóm TN sau TN........103
Bảng 3.12. Mức độ năng lực so sánh số lượng của trẻ nhóm ĐC trước và sau
TN 106
Bảng 3.13. Kết quả so sánh số lượng của trẻ nhóm ĐC giữa trước và sau TN......109
Bảng 3.14. Mức độ năng lực so sánh số lượng của trẻ nhóm TN trước và sau
TN 111

triển NLSSVSL cho trẻ 5-6 tuổi trong HĐLQVT

66

Hình 3.1. So sánh số lượng bằng nhau của ba nhóm búp bê, nón và balo
trong phạm vi 7

81

Hình 3.2. So sánh số lượng bằng nhau của ba nhóm chó, mèo và thỏ trong
phạm vi 7

81

Hình 3.3. So sánh số lượng bằng nhau của ba nhóm khỉ, chuối và táo trong
phạm vi 7

82

Hình 3.4. So sánh số lượng bằng nhau của ba nhóm thỏ, cà rốt và củ cải trắng
trong phạm vi 7

82

Hình 3.5. So sánh số lượng nhiều nhất, ít hơn, ít nhất của ba nhóm búp bê,
nón và balo trong phạm vi 7

83



trước và sau TN...............................................................................108
Biểu đồ 3.10. Mức độ năng lực so sánh số lượng của trẻ nhóm ĐC giữa trước
và sau TN ở từng bài tập..................................................................108
Biểu đồ 3.11. Mức độ năng lực so sánh số lượng của trẻ nhóm TN giữa trước
và sau TN.........................................................................................113
Biểu đồ 3.12. Mức độ năng lực so sánh số lượng của trẻ nhóm TN giữa trước
và sau TN ở từng bài tập..................................................................114


1

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Từ xưa đến nay, việc giáo dục phát triển trí tuệ, tư duy cho trẻ mầm non luôn là
những đề tài được nhiều nhà tâm lí, giáo dục học quan tâm như A. I. Xơrơkina đã viết:
“Các năng lực trí tuệ được phát triển trong q trình hoạt động trí tuệ, trong q trình
lĩnh hội tri thức và dạy trẻ ngôn ngữ. Ngược lại, các năng lực trí tuệ lại góp phần tiếp
tục lĩnh hội tri thức và kỹ năng.” [47, tr.37]. Nhận định của A. I. Xôrôkina đã thể hiện
được tầm quan trọng của việc phát triển năng lực trí tuệ, tư duy của trẻ. Sự phát triển
trí tuệ của trẻ mẫu giáo là sự biến đổi về chất trong hoạt động nhận thức, trong đó có
hoạt động làm quen với tốn. Trong hoạt động này, trẻ mẫu giáo sẽ được hình thành và
phát triển một số biểu tượng sơ đẳng về toán nhằm phát triển các năng lực tư duy,
trong đó có năng lực so sánh, cũng như Xôrôkina đã viết “Năng lực so sánh các đồ vật
và hiện tượng, xác lập những thuộc tính chung và riêng của chúng là một trong những
phương thức hợp lý của hoạt động trí tuệ” [33, tr.40].
Để phát triển năng lực so sánh cho trẻ mẫu giáo trong hoạt động làm quen với
một số khái niệm sơ đẳng về tốn của Chương trình giáo dục mầm non được sửa đổi
và ban hành năm 2017 và Chuẩn phát triển cho trẻ 5 tuổi gồm nội dung so sánh về số
lượng, so sánh về kích thước và so sánh về hình dạng, mà nội dung so sánh về số
lượng là một trong những nội dung được nhiều nhà tâm lí, giáo dục học quan tâm như

5-6 tuổi.
3.2. Đối tƣợng nghiên cứu
Thiết kế và thử nghiệm hệ thống bài tập phát triển năng lực so sánh về số lượng
cho trẻ 5-6 trong hoạt động làm quen với toán.
4. GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Giới hạn về nội dung nghiên cứu
- Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về năng lực so sánh về số lượng của trẻ 56 tuổi, thiết kế hệ thống bài tập và thiết kế hệ thống bài tập phát triển năng lực so sánh

về số lượng cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động làm quen với toán.
- Thiết kế hệ thống bài tập phát triển năng lực so sánh số lượng bằng nhau,

nhiều nhất, ít hơn, ít nhất của ba nhóm đối tượng trong phạm vi 10 cho trẻ 5-6 tuổi
trong giờ học toán ở trường mầm non.


3

4.2. Giới hạn về mẫu nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên nhóm khách thể:
- Khảo sát 60 giáo viên khối lá và 3 cán bộ quản lý ở 10 trường mầm non tại

Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thử nghiệm trên 30 trẻ lớp lá 1 và 30 trẻ đối chứng lớp lá 2 tại trường Mầm

non 12 Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
5. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Việc thiết kế và sử dụng các bài tập phát triển năng lực so sánh về số lượng cho
trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động làm quen với toán của giáo viên ở một số trường mầm non
hiện nay còn hạn chế. Giáo viên chủ yếu sưu tầm và sử dụng các bài tập có sẵn trong

với toán của 60 giáo viên khối lá ở 10 trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh.

7.2.2. Phƣơng pháp quan sát

Quan sát 3 giáo viên khối lá của 3 trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh
tổ chức hoạt động làm quen với tốn cho trẻ 5-6 tuổi nhằm tìm hiểu thực tế việc sử
dụng các bài tập phát triển năng lực so sánh về số lượng cho trẻ 5-6 tuổi và năng lực
thực hiện các bài tập này của trẻ. Đồng thời, nghiên cứu kế hoạch tổ chức giờ học
trong hoạt động làm quen với toán cho trẻ 5-6 tuổi.
7.2.3. Phƣơng pháp phỏng vấn sâu

Sau khi xử lý số liệu của Bảng hỏi và nội dung quan sát, phỏng vấn sâu 3 giáo
viên và 3 cán bộ quản lý ở 3 trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh về thiết kế
và sử dụng bài tập phát triển năng lực so sánh về số lượng cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt
động làm quen với tốn nhằm tìm hiểu sâu và làm rõ thực trạng thiết kế và sử dụng bài
tập phát triển năng lực so sánh về số lượng cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động làm quen
với toán.
7.2.4. Phƣơng pháp chuyên gia

Trưng cầu ý kiến đánh giá của 3 giảng viên sư phạm dạy phương pháp tổ chức
hoạt động làm quen với toán ở 3 trường Đại học và Cao đẳng sư phạm tại Thành phố
Hồ Chí Minh; 3 cán bộ quản lý, 3 khối trưởng khối lá của 3 trường mầm non tại Thành
phố Hồ Chí Minh về tính khả thi của hệ thống bài tập phát triển năng lực so sánh về số
lượng cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động làm quen với toán được thiết kế.


5

7.2.5. Phƣơng pháp thử nghiệm


tích và tổng hợp và đặc nền tảng cho thao tác khái quát hóa. NLSSVSL góp phần phát
triển năng lực nhận biết, phân biệt các số lượng, biểu tượng số lượng của trẻ. So sánh
có vai trị quan trọng trong việc giúp trẻ hình thành những biểu tượng tốn sơ đẳng.
Việc nghiên cứu sự phát triển trí tuệ, năng lực so sánh nói chung, NLSSVSL nói riêng
của trẻ mẫu giáo đã được các nhà tâm lí và giáo dục trong nước và ngồi nước quan
tâm từ lâu.
1.1.1. Những cơng trình nghiên cứu ở nƣớc ngoài

Các nhà tâm lý học, giáo dục học trên thế giới từ rất lâu đã quan tâm đến vấn đề
phát triển trí tuệ của con người, nghiên cứu các thao tác tư duy nói chung và năng lực
so sánh nói riêng. Trong đó, có thể kể đến những nghiên cứu sau đây:
 Theo A. I. Xôrôkina, “Các năng lực trí tuệ được phát triển trong q trình hoạt

động trí tuệ, trong quá trình lĩnh hội tri thức và dạy trẻ ngơn ngữ. Ngược lại, các năng
lực trí tuệ lại góp phần tiếp tục lĩnh hội tri thức và kỹ năng.” [47, tr.37].
 Nghiên cứu về tư duy và các thao tác của tư duy của Jean Piaget, “có ba điều

kiện cơ bản để chuyển trí tuệ từ bình diện cảm giác vận động sang phản xạ. Điều này
trước hết là làm tăng thêm vận tốc. Chính sự gia tăng này cho phép hợp nhất các tri
thức vào tổ hợp đồng bộ. Một trong các tri thức đó có liên quan đến giai đoạn nhất
định trong tính liên tục của hành động. Sau đó sẽ nhận được chính hành động này hay
hành động khác với các kết quả mong muốn và chính điều này làm tăng thêm việc tìm


7

kiếm các kết quả mỹ mãn hơn. Cuối cùng, sự mở rộng này cho phép bổ sung các hành
động mang tính thực tế bằng các hành động hình tượng. Các hành động hướng đến
biểu tượng và bước ra khỏi giới hạn không gian và thời gian gần” [13 , tr.188]. “Sự
phát triển tư duy trước hết dẫn đến việc lặp lại, trên cơ sở một hệ thống rộng hơn

8

 Khi nghiên cứu về chức năng của tư duy, ngơn ngữ và sự hình thành khái niệm

ở trẻ, L.X. Vưgôtxki cho rằng: “nguồn gốc của ngôn ngữ trong là từ ngơn ngữ tự kỷ và
ngơn ngữ bên ngồi. Con đường đi của nó tất yếu là: ngơn ngữ ngồi



ngơn



ngữ tự kỷ trung tâm ngôn ngữ bên trong” [29, tr.544]. Đây là cơ chế chuyển vào
trong của L.X. Vưgôtxki.
 Khi nghiên cứu về các thao tác tư duy, X.L.Rubinstein, J.Guthke cho rằng:

“phân tích và tổng hợp (là các q trình cơ bản), rồi đến so sánh, trừu tượng hóa và
khái qt hóa” [33].
Những cơng trình nghiên cứu trên cho thấy, trẻ em lứa tuổi mầm non có thao tác
tư duy, thể hiện trong hoạt động thực tiễn của trẻ. Tư duy của trẻ em diễn ra theo hàng
loạt giai đoạn liên tục, trên cơ sở sự phát triển của các thao tác tư duy. Thao tác tư duy
gồm có phân tích và tổng hợp (là các q trình cơ bản), rồi đến so sánh, trừu tượng hóa
và khái quát hóa. Các thao tác tư duy được chuyển dần từ ngoài vào trong và diễn ra
theo các giai đoạn; là quá trình di chuyển thế giới bên ngồi vào trong đầu theo cơ chế
chuyển từ hành động bên ngoài vào trong.
Mặc khác, việc giúp trẻ tích lũy được kiến thức và thực hiện được các thao tác tư
duy, trong đó có thao tác so sánh, theo các nhà giáo dục việc giáo dục trí tuệ cho trẻ là
rất cần thiết.
 Theo A. V. Daparôgiét, “tư duy của trẻ mẫu giáo đang phát triển rất mạnh. Trẻ

Một số nhà tâm lý, giáo dục nghiên cứu về năng lực so sánh của trẻ:
 N. Daparozet cho rằng “trẻ cũng có thể khơng những so sánh đối chiếu những

sự vật cụ thể với nhau, mà còn so sánh, đối chiếu cả các khái niệm với nhau nữa” [6,
tr.20].
 A. I. Xôrôkina cho rằng “so sánh là cơ sở của hoạt động phân tích và của sự tri

giác đúng đắn, rõ ràng nhất những dấu hiệu của các đối tượng hoặc hiện tượng và của
sự xác định những điểm tương đồng, giống nhau hoặc khác nhau của các đối tượng
hoặc hiện tượng ấy.
So sánh là phương tiện quan trọng để củng cố, hệ thống hóa những biểu tượng
của trẻ, bởi vì, bằng cách so sánh các đối tượng, cô giáo dần dần đưa trẻ em tới chỗ
tách ra được những dấu hiệu về giống và về loài – tức là tới chổ phân loại đơn giản
nhất” [47, tr.41].
 Các tác giả A.M. Lêusina, B.B. Đanilôva khi nghiên cứu về so sánh của trẻ

mầm non đã nghiên cứu các biện pháp hình thành kỹ năng so sánh số lượng trên cơ sở
thiết lập tương ứng 1:1 cho trẻ mẫu giáo ở lứa tuổi khác nhau [17].


10

Như vậy, các nhà tâm lý, giáo dục nước ngoài đã đưa ra những đặc điểm chính
của so sánh nói chung và kỹ năng so sánh số lượng nói riêng. So sánh là cơ sở của hoạt
động phân tích và của sự tri giác đúng đắn, rõ ràng nhất những dấu hiệu của các đối
tượng hoặc hiện tượng và của sự xác định những điểm tương đồng, giống nhau hoặc
khác nhau của các đối tượng hoặc hiện tượng ấy. So sánh là phương tiện quan trọng để
củng cố, hệ thống hóa những biểu tượng của trẻ. Trẻ khơng những so sánh đối chiếu
những sự vật cụ thể với nhau, mà còn so sánh, đối chiếu cả các khái niệm với nhau
nữa. Ngoài ra, nghiên cứu của các tác giả A.M. Lêusina, B.B. Đanilơva đã đưa ra các

Lêusina, B.B. Đanilôva đã đưa ra các biện pháp hình thành kỹ năng so sánh số lượng
trên cơ sở thiết lập tương ứng 1:1 cho trẻ mẫu giáo ở lứa tuổi khác nhau.
Những cơng trình nghiên cứu nước ngoài cho ta thấy với đề tài nghiên cứu “thiết
kế và thử nghiệm hệ thống bài tập phát triển năng lực so sánh về số lượng cho trẻ 5-6
tuổi trong hoạt động làm quen với tốn” sẽ đóng góp và mở ra thêm cho những nghiên
cứu về so sánh bằng cách đóng góp những lý luận cơ bản về năng lực so sánh về số
lượng của trẻ 5-6 tuổi, thiết kế hệ thống bài tập và thiết kế hệ thống bài tập phát triển
năng lực so sánh về số lượng cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động làm quen với tốn và
đóng góp hệ thống bài tập phát triển năng lực so sánh về số lượng cho trẻ 5-6 tuổi
trong hoạt động làm quen với tốn.
1.1.2. Những cơng trình nghiên cứu ở trong nƣớc

Các nhà tâm lý học, giáo dục học trong nước từ rất lâu luôn quan tâm đến vấn đề
phát triển năng lực trí tuệ, thao tác so sánh, kỹ năng so sánh và khả năng so sánh cho
trẻ, có thể kể đến những nghiên cứu sau đây:
 Nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Nga (2006) “Khảo sát năng lực trí tuệ của học

sinh lớp 5 tại thị xã Đồng Xồi – Tỉnh Bình Phước năm học 2005 - 2006” đã nêu “Trí
tuệ được phát triển trong một quá trình từ thấp lên cao. Mức độ tăng giá trị và tính mới
mẻ của sự khái quát và của cơng cụ sử dụng, tính chủ động của hoạt động tư duy có
thể coi là các tiêu chí về chất lượng, hiệu quả của trí tuệ.” [28, tr.11] mà để hình thành
khái quát cần dựa trên so sánh hay năng lực so sánh, tức là học sinh cần có năng lực so
sánh mới hình thành hay gia tăng mức độ giá trị và tính mới mẻ của sự khái qt và
của cơng cụ sử dụng, tính chủ động của tư duy.
 Tác giả Vũ Thị Nho (2008) quan niệm “Đến tuổi mẫu giáo lớn, ngôn ngữ

thường đi trước hành động tựa như việc trẻ vạch kế hoạch hành động. Nhờ đó manh


12

mẫu giáo 4-5 tuổi và đã đưa ra các biện pháp hình thành kỹ năng so sánh cho trẻ thông
qua các tiết học làm quen với toán [30].
 Tác giả Phan Thị Thúy Hằng (2009) nghiên cứu “Một số biện pháp hình thành

kỹ năng so sánh cho trẻ 4-5 tuổi trong HĐLQVT” xác định HĐLQVT là hoạt động rất
thuận lợi để hình thành kỹ năng so sánh cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi và đã đưa ra các



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status