(Luận văn thạc sĩ) - Thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà Nội - Pdf 70

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ MINH TÂM

THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CĨ
VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGỒI THEO PHÁP LUẬT VIỆT
NAM HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

HÀ NỘI, 2020


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của nghiên cứu đề tài
Thuế GTGT là loại thuế ra đời nhằm khắc phục việc đánh thuế trùng lắp của thuế
doanh thu, nó chỉ đánh vào giá trị tăng thêm được thể hiện bằng tiền lương, tiền công,
lợi nhuận, lợi tức và các khoản chi phí tài chính khác của các sản phẩm, dịch vụ tại mỗi
công đoạn sản xuất và lưu thông, làm sao để đến cuối chu kỳ sản xuất, kinh doanh hoặc
cung cấp dịch vụ thì tổng số thuế thu được ở các cơng đoạn sẽ khớp với số thuế tính
theo giá bán cho người cuối cùng. Việc xác định nội dung của pháp luật thuế GTGT để
thay thuế pháp luật thuế doanh thu phải giải quyết được tình trạng thuế trùng thuế qua
các khâu của q trình lưu thơng hàng hóa, góp phần tạo ra sự dong bằng giữa các chủ
thể trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, kích thích lưu thơng hàng hóa từ sản xuất đến
tiêu dùng. Đồng thời, việc xác định căn cứ tính thuế khơng chỉ để tạo nguồn thu ổn định
cho ngân sách nhà nước, đảm bảo bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của đối tượng nộp
thuế mà còn là biện pháp chống gian lận, trốn lậu thuế ở các khâu của quá trình sản xuất,
lưu thơng hàng hóa.
“Để hiện thực hóa chủ trương “phải tranh thủ các nguồn vốn bên ngoài với mức

ĐVNĐTNN đã trở nên vơ cùng nguy hiểm và đáng báo động bởi nó tạo ra sự bất công
bằng cho các đối tượng nộp thuế. “Chỉ riêng trong hồn thuế thì năm 2017 phát hiện
521 vụ gian lận thuế GTGT, năm 2018 phát hiện 219 vụ, năm 2019 phát hiện 178 vụ
nâng tổng số tiền hồn thuế GTGT đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
ĐVNĐTNN bị chiếm đoạt lên hàng ngàn tỷ đồng từ năm 1999 các vụ về mua bán hoá
đơn hay làm sai lệch giá trên hố đơn khơng hề có xu hướng giảm sút. Tình trạng này
làm đau đầu các nhà quản lý nói riêng và xã hội nói chung, có những kẻ đã lợi dụng
những kẽ hở trong luật và trong quản lý của nhà nước ta để bòn rút tiền từ ngân sách
nhà nước và đút túi cá nhân mình. Để góp phần đảm bảo cơng bằng giữa các chủ thể có
nghĩa vụ nộp thuế thì việc nghiên cứu cơ chế thi hành Luật thuế GTGT đối với doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá thực trạng và
những giải pháp để hồn thiện pháp Luật thuế GTGT” [3,tr.5].
Do đó, học viên lựa chọn đề tài "Thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngồi theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà Nội"
để làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian vừa qua, lĩnh vực thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngồi theo pháp luật Việt Nam, qua thực tiễn các tổ chức, cá nhân được
rất nhiều người quan tâm nghiên cứu. Đã có một số cơng trình nghiên cứu với những
cách tiếp cận khác nhau, ở phạm vi lớn trên quy mô cả nước cho đến những phạm vi
nhỏ hơn như địa bàn tỉnh. Có một số đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ và nhiều luận văn
Tiến sĩ, Thạc sĩ với chủ đề liên quan, tiêu biểu có thể kể một số nghiên cứu sau:

3


- Nguyễn Thị Thương Huyền (2003), luận án tiến sĩ luật học với nội dung Một số
vấn đề pháp lý về thuế giá trị gia tăng và việc áp dụng thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam.
Đề tài nêu rõ những ưu điểm, thành tựu đạt được cũng như những vướng mắc trên thực
tế và chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại, vướng mắc đó. Để từ đó xác định phương

vấn đề lí luận và thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về thuế giá trị gia tăng đối

4


với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi. Phân tích thực tiễn thực hiện pháp luật về
thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi tại thành phố Hà
Nội; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
thực thi pháp luật về vấn đề này.
- Vũ Kỳ (2019), Thực hiện pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài và thực tiễn thi hành, luận văn thạc sĩ Luật học tại Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lí luận và qui định
của pháp luật hiện hành về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngồi. Phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngồi; từ đó đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm hồn thiện
pháp luật và nâng cao hiệu quả quản lí nhà nước về vấn đề này.
- Trần Thị Hạnh (2007), Cơ sở lý luận và thực tiễn về thuế giá trị gia tăng đối
với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội,
Luận văn đã xây dựng các khái niệm cơ bản như khái niệm thuế giá trị gia tăng đối với
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi; chế định pháp lý về thuế giá trị gia tăng đối với
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi, các hình thức thuế giá trị gia tăng đối với doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời làm rõ bản cơ sở xã hội - lịch sử của việc
thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và chỉ ra những yếu
tố cơ bản ảnh hưởng tới việc thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngồi trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay.
- Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009) đề tài Luận án Tiến sĩ của Trường Đại học kinh tế
quốc dân, “Hoàn thiện quản lý thu thuế của Nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thủ
thuế của doanh nghiệp”. Đóng góp chủ yếu của đề tài là đã hệ thống những cơng trình
nghiên cứu về sự tn thủ thuế và Quản lý thuế của Nhà nước đối với doanh nghiệp của
các tác giả nước ngoài và trong nước. Đề tài đã làm rõ bản chất mới của quản lý thuế

- Trương Thị Tiểu Quỳnh (2018), đề tài luận văn thạc sỹ luật học “Pháp luật thuế
giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh”.
Tác giả đã làm rõ một số vấn đề lý luận về thuế GTGT và pháp luật thuế GTGT. Phân
tích, đánh giá thực trạng thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa
bàn TP, Hồ Chí Minh, chỉ ra được những tồn tại trong công tác quản lý thuế giá trị gia
tăng đối với các doanh nghiệp trên địa bàn TP, Hồ Chí Minh. Từ đó tác giả đã đề xuất
các giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và các giải pháp tăng cường quản lý thuế
giá trị gia đối với các doanh nghiệp vùa và nhỏ trên địa bàn TP, Hồ Chí Minh trong thời
gian tới.
Luận văn đã chỉ ra những điểm bất cập của pháp luật thuế giá trị gia tăng đối với
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi hiện hành, hệ quả pháp lý của việc thuế giá trị
gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chưa được quy định đầy đủ và

6


chưa tương đồng với pháp luật quốc tế, các thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài chưa chặt chẽ, chưa phản ánh và phù hợp với bản chất của quan
hệ thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi . Luận văn đã đề
xuất ba nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật.
Bên cạnh đó, nội dung nghiên cứu về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngồi cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm công bố trên tạp chí
khoa học có uy tín như:
+ Trần Thị Thi (2018), Những bất cập về thuế giá trị gia tăng đối với doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, Số 9/2018, tr. 14 - 18,
bài nghiên cứu phân tích những điểm bất cập và hướng hoàn thiện các quy định về thuế
giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhằm đảm bảo hiệu quả
của việc thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
+ Trần An Khánh (2017), Bàn về điều kiện thuế giá trị gia tăng đối với doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi , Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp,Số 7/2017,

hồn thiện các quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngồi ở nước ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài đặt ra, tác giả thực hiện những nhiệm
vụ sau:
- Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của quy định pháp luật về thuế giá trị gia
tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi.
- Đánh giá thực trạng pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngồi ở Việt Nam và hệ thống pháp luật có liên quan hiện nay.
- Phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội từ đó chỉ ra những bất
cập, hạn chế trong các quy định của pháp luật.
- Đưa ra các giải pháp góp phần hồn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả
thực hiện về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi hiện
nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Luận văn đi sâu nghiên cứu các quan điểm, các quy định của pháp luật về thuế
giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi và các quy định pháp
luật có liên quan.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Phạm vi về nội dung: Những quy định của pháp luật hiện hành về thuế giá trị
gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (gồm pháp luật nội dung và
pháp luật thủ tục); thực tiễn thực hiện pháp luật về thuế giá trị gia tăng của doanh nghiệp

8


có vốn đầu tư nước ngồi và thực tiễn thực hiện quản lý thuế giá trị gia tăng của cơ quan
thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi.

9


Các giải pháp và kiến nghị của đề tài luận văn có giá trị tham khảo cho việc hồn
thiện pháp luật thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi và
nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngồi trên địa bàn thành phố Hà Nội trong điều kiện hiện nay.
Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn cũng có ý nghĩa tham khảo
đối với các cơ quan quản lý quản lý thuế trong việc quản lý thuế giá trị gia tăng đối với
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
7. Cơ cấu của luận văn.
Ngoài các phần: Mục lục, danh mục các từ viết tắt, lời nói đầu, kết luận và danh
mục tài liệu tham khảo luận văn được chia làm ba chương như sau:
Chương 1: Lý luận chung về thuế giá trị gia tăng và pháp luật thuế giá trị gia
tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi.
Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi và thực tiễn áp dụng tại thành phố Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế giá trị gia tăng và nâng cao hiệu
quả thực hiện pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài từ thực tiễn thành phố Hà Nội.

PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ PHÁP LUẬT THUẾ
GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CĨ VỐN ĐẦU TƯ
NƯỚC NGỒI
1.1. Tổng quan về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngồi
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài

hàng hố và đẩy mạnh xuất khẩu. Q trình triển khai thực hiện Pháp luật thuế VAT của
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đi vào cuộc sống, tác động tích cực đến nhiều
mặt kinh tế - xã hội của đất nước và đã đạt được những
Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hố, dịch vụ phát
sinh trong q trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng (dưới đây viết tắt là VAT Value Added Tax). VAT là loại thuế gián thu, đã được nhiều nước áp dụng để thay cho
thuế doanh thu. Được gọi là thuế VAT vì thuế chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm qua
mỗi khâu của quá trình sản xuất - kinh doanh, và tổng số thuế thu được ở mỗi khâu bằng
chính số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Về bản chất, thuế VAT
do các nhà sản xuất kinh doanh nộp hộ người tiêu dùng thơng qua việc tính gộp thuế

11


này vào giá bán mà người tiêu dùng phải thanh tốn bằng chính số thuế tính trên giá bán
cho người tiêu dùng cuối cùng. Theo Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 và Luật thuế
giá trị gia tăng sửa đổi năm 2013, thuế GTGT được định nghĩa như sau: “Thuế giá trị
gia tăng là thuế thu trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong
q trình tư sản xuất, lưu thơng đến tiêu dùng". Thuế GTGT có đối tượng chịu thuế rất
rộng. Mọi đối tượng tồn tại trong xã hội cho dù là tổ chức hay cá nhân, là người nghèo
hay người có thu nhập cao đều phải chi trả thu nhập của mình để thụ hưởng kết quả sản
xuất kinh doanh tạo ra cho nền kinh tế - xã hội. Điều này có nghĩa, mọi đối tượng trong
xã hội đều là chủ thể chịu thuế, chủ thể thực tế phải tới sự tác động của pháp luật thuế
GTGT, đối với đời sống kinh tế, xã hội. Việc đánh thuế đối với mọi đối tượng trên phạm
vi lãnh thổ thể hiện rõ nét sự công bằng của thuế đồng thời thể hiện thái độ của nhà nước
đối với các loại tiêu dùng trong xã hội.
Như vậy, thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là
thuế thu trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong q trình tư
sản xuất, lưu thơng đến tiêu dùng được áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài
1.1.1.2. Đặc điểm thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi

Quy định chi tiết một số Điều có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2013 của Luật sửa đổi
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật sửa đổi Luật thuế giá trị gia tăng theo đó, thuế
giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là thuế thu trên phần giá
trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình tư sản xuất, lưu thơng đến
tiêu dùng được áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
1.1.2. Sự điều chỉnh của pháp luật thuế giá trị gia tăng của doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngồi
Thứ nhất, khắc phục được nhược điểm trùng lắp "Thuế thu trên thuế" nên góp
phần khuyến khích chun mơn hóa, hợp tác hóa để nâng cao năng suất chất lượng, hạ
giá thành sản phẩm, phù hợp với nền kinh tế sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường.
Pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi được áp dụng rộng rãi
với mọi tổ chức và cá nhân có tiêu dùng sản phẩm, hàng hóa hoặc được cung ứng dịch
vụ, thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoồi chỉ tính vào phần giá trị tăng
thêm, khơng tính vào vốn nên pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngồi khơng những đảm bảo được nguồn thu cho NSNN tương ứng với số thuế doanh
thu trước đây mà cịn góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Trên cơ sở đó để tăng thu
cho NSNN. Pháp luật Thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi VAT của
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hàng năm ở các nước thuộc OECD (Tổ chức
Hợp tác và Phát triển kinh tế) chiếm 18,7%. Ở Việt Nam, thuế đóng góp vào NSNN liên
tục tăng). Có thể thấy, pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi

13


đóng góp phần quan trọng với tỷ lệ lớn nguồn thuế nộp vào NSNN hàng năm. Đối với
nhận thức của người nộp sắc thuế này thì đây là một sắc thuế hấp dẫn hơn các sắc thuế
khác vì bản chất của nó: NNT biết những gì họ phải trả và nếu họ khơng mua hàng hóa
thì họ khơng phải trả tiền thuế. Do có ít tác động tiêu cực đối với tâm lý của NNT nên
số pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi thu được cũng chiếm
tỷ lệ cao và tốt cho tăng trưởng kinh tế hơn so với thuế khác (điển hình như thuế thu

khích việc sản xuất hàng hố xuất khẩu và xuất khẩu thay vì luật thuế cũ khuyến khích
sản xuất hàng thay thế hàng nhập khẩu, đặc biệt pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngồi đã khuyến khích sản xuất, kinh doanh những mặt hàng mà
Việt Nam có thế mạnh: nơng sản, lâm sản, hải sản, thủ công mỹ nghệ. Đặc biệt Luật
thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi góp phần đến cơng tác quản lý
của doanh nghiệp tạo điều kiện cho cơ quan Nhà nước kiểm tra, giám sát hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp, tăng cường cơng tác hạch tốn, kế tốn và thúc đẩy việc
mua bán hố đơn VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở các doanh nghiệp.
Do yêu cầu của việc kê khai thuế GTGT, khấu trừ thuế VAT của doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngồi đầu vào, tính đúng thu nhập của doanh nghiệp nên những người làm
công tác quản lý kinh doanh đã bắt đầu trú trọng đến cơng tác mở sổ kế tốn, ghi chép,
quản lý và sử dụng hố đơn chứng từ. Thơng qua việc chấp hành cơng tác kế tốn, hố
đơn chứng từ của các doanh nghiệp, qua việc kê khai thuế, hồn thuế, quyết tốn thuế
đã giúp cơ quan chức năng và cơ quan thuế từng bước nắm được tình hình kinh doanh
của các doanh nghiệp. Pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi
có tác động trực tiếp đến doanh nghiệp và được xem như là một trong những giải pháp
hỗ trợ doanh nghiệp, kích thích nền kinh. góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng
lưu thơng hàng hố và đẩy mạnh xuất khẩu. Quá trình triển khai thực hiện Pháp luật thuế
VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi đã đi vào cuộc sống, tác động tích cực
đến nhiều mặt kinh tế - xã hội của đất nước và đã đạt được những mục tiêu đề ra khi ban
hành luật là góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, bảo đảm nguồn thu cho
NSNN.
1.1.3. Cơ chế quản lý thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài
Thuế giá trị gia tăng (GTGT) tác động đến hầu hết các đối tượng trong xã hội.
Luật Thuế giá trị gia tăng 2008, được sửa đổi, bổ sung 2016 điều chỉnh trực tiếp lĩnh
vực này. Đối với cơ chế quản lý thuế khác nhau mà pháp luật có những điều chỉnh khác
nhau. Trên thế giới có hai loại cơ chế quản lý thuế: Một là cơ chế cơ quan quản lý thuế
tính thuế; hai là cơ chế NNT tự khai, tự tính, tự nộp thuế.
Đối với Cơ chế cơ quan quản lý thuế tính thuế: Theo cơ chế này đòi hỏi cán bộ

việc áp dụng cơ chế tự khai tự nộp thuế được coi là trọng tâm của cải cách pháp luật về
quản lý thuế” [26,tr.17].
Theo cơ chế này, việc kê khai, tính thuế, nộp thuế được thực hiện trên nền tảng
sự tuân thủ tự giác về nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp nộp thuế. NNT căn cứ các quy
định của pháp luật thuế để xác định các loại thuế phải nộp, tự kê khai, tự tính thuế, tự
nộp số thuế đã tính vào NSNN. Đặc điểm cốt lõi của cơ chế tự khai - tự nộp là xác định
trách nhiệm của doanh nghiệp nộp thuế tự xác định doanh thu, chi phí và từ đó lập tờ

16


khai thuế đúng kỳ hạn và nộp thuế. Tờ khai được gửi đến cơ quan thuế trực tiếp quản lý
và sẽ được cơ quan thuế chuyển thông tin sang hệ thống Kho bạc, ngân hàng để thực
hiện thủ tục nộp thuế. NNT có trách nhiệm lưu giữ chứng từ, sổ sách kế toán để chứng
minh các số liệu đã kê khai cịn cơ quan thuế có nhiệm vụ hướng dẫn để doanh nghiệp
nộp thuế hiểu rõ chính sách thuế, các thủ tục về thuế và giám sát, quản lý việc tuân thủ
nghĩa vụ thuế thông qua công tác, kiểm tra, thanh tra để phát hiện, xử lý kịp thời, đúng
đắn những hành vi gian lận, trốn thuế của doanh nghiệp.
Cơ chế tự khai tự nộp thuế có nhiều ưu điểm: đảm bảo cân bằng quyền lợi giữa
cơ quan quản lý thuế và doanh nghiệp bởi cơ chế tự khai, tự nộp thuế giảm bớt sức ép
về thuế lên doanh nghiệp, cơ quan quản lý thuế khơng khốn thuế, ép thuế đối với doanh
nghiệp mà để doanh nghiệp tự tính và tự nộp thuế đồng thời tự chịu trách nhiệm với
hành vi của mình. Theo cơ chế này, doanh nghiệp được đặt ở vị trí trung tâm, cơ quan
quản lý thuế hỗ trợ, hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của họ đối với
nhà nước, đề cao quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện Luật Thuế
GTGT. Doanh nghiệp tự chủ trong hoạt động kê khai và nộp thuế đồng thời chịu trách
nhiệm đối với hành vi của mình trong từng khâu của việc thực hiện thuế GTGT. Cơ
quan quản lý thuế thực hiện cân bằng giữa hai chức năng: chức năng phục vụ, cung cấp
dịch vụ thuế cho doanh nghiệp và chức năng giám sát, chức năng quản lý nhà nước,
kiểm tra hoạt động tuân thủ pháp luật thuế đối với doanh nghiệp nộp thuế. Cơ quan thuế

Thuế giá trị gia tăng có nguồn gốc từ thuế doanh thu theo quy định của Luật thuế
giá trị gia tăng thì thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu đánh trên khoản giá trị
tăng thêm cuả hàng hố, dịch vụ phát sinh trong q trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu
dùng và được nộp vào ngân sách Nhà nước theo mức độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ. Ðây
là một loại thuế doanh thu đánh vào mỗi giai đoạn sản xuất, lưu thơng sản phẩm hàng
hố, từ khi cịn là ngun liệu thơ sơ cho đến sản phẩm hoàn thành, và cuối cùng là giai
đoạn tiêu dùng. Chính vì vậy mà chúng ta cịn gọi là thuế doanh thu có khấu trừ số thuế
đã nộp ở giai đoạn trước. Thuế giá trị gia tăng được cộng vào giá bán hàng hoá, dịch vụ,
và do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hoá, sử dụng dịch vụ.
Nếu như khơng có các sự kiện biến động về tài chính, tiền tệ, sản xuất và lưu
thơng giảm suất, yếu kém, kinh tế suy thoái và các nguyên nhân khác tác động thì việc
áp dụng thuế giá trị gia tăng thay cho thuế doanh thu sẽ khơng ảnh hưởng gì đến giá cả
các sản phẩm tiêu dùng, mà trái lại giá cả càng hợp lý hơn, chính xác hơn vì tránh được
thuế chồng lên thuế. Hệ thống này chỉ áp dụng trên phần giá trị tăng thêm mà không
phải đối với tồn bộ giá trị hàng hóa, dịch vụ, hệ thống chính sách pháp luật là một loại
thuế gián thu, được cộng vào giá bán hàng hóa, dịch vụ và do người tiêu dùng trả khi sử
dụng sản phẩm đó. Mặc dù người tiêu dùng mới chính là người chi trả thuế GTGT,

18


nhưng người trực tiếp thực hiện nghĩa vụ đóng thuế với Nhà nước lại là đơn vị sản xuất,
kinh doanh.
Như vậy, khái niệm pháp luật thuế giá trị gia tăng là tổng hợp các quy phạm
pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện nghĩa vụ
thuế GTGT của chủ thể. Hay nói cụ thể hơn là tập hợp tất cả các quy phạm, văn bản
pháp luật về thuế VAT tạo thành một cấu trúc tổng thể, được phân chia thành các bộ
phận có sự thống nhất nội tại theo những tiêu chí nhất định như bản chất, nội dung, mục
đích.điều chỉnh thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong
q trình từ sản xuất, lưu thơng đến tiêu dùng.

- Hàng hóa thuộc loại nội địa chưa sản xuất được cần nhập khẩu.
- Hàng hóa nhập khẩu và HHDV bán cho các tổ chức, cá nhân với mục đích
nhân đạo…
Cơ sở kinh doanh HHDV thuộc đối tượng khơng chịu thuế GTGT thì khơng
phải thực hiện nộp thuế GTGT. Do đó họ khơng được khấu trừ và hoàn thuế GTGT
đầu vào của HHDV sử dụng cho việc sản xuất kinh doanh thuộc đối tượng không chịu
thuế GTGT theo quy định mà phải tính vào nguyên giá tài sản cố định, giá trị nguyên
vật liệu hoặc chi phí kinh doanh.
* Đối tượng được miễn thuế GTGT
Miễn thuế là trường hợp hàng hóa hay dịch vụ nằm trong đối tượng chịu thuế ở
một mức thuế suất nhất định, có các căn cứ tính thuế rõ ràng và phải kê khai thuế đối
với cơ quan thuế. Tuy nhiên HHDV này được hưởng những ưu đãi từ nhà nước trong
một khoảng thời gian nhất định như đầu tư vào những vùng xa xôi, các ngành nghề
đặc biệt... nên được miễn thuế để khuyến khích cho nhà đầu tư và tạo điều kiện để sản
phẩm hàng hóa dễ dàng tiếp cận thị trường trong nước hoặc xuất khẩu. Do đó, miễn
thuế mang tính chất ưu tiên, ưu đãi hay được khuyến khích do có phần thuế được miễn
giảm hồn tồn hay một phần, được khấu trừ thuế đầu vào.
* Người nộp thuế
Người nộp thuế giá trị gia tăng bao gồm: Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh
HHDV chịu thuế (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác nhập khẩu
hàng hóa chịu thuế (gọi chung là người nhập khẩu) là người nộp thuế giá trị gia tăng.
Có nghĩa là, những cá nhân tổ chức có hành vi sau đây thì trở thành người nộp thuế
GTGT: hành vi nhập khẩu hàng hóa dịch vụ, hành vi sản xuất hàng hóa dịch vụ, hành
vi kinh doanh hàng hóa dịch vụ. Bên cạnh đó, thì người nộp thuế GTGT cịn có người
nộp thuế thay như đại lý thuế, cơ quan hải quan…
* Căn cứ tính thuế
Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng là giá tính thuế và thuế suất.
- Giá tính thuế

20

gián thu đặc biệt như thuế GTGT cần phải có sự phân hóa các mức thuế suất để đảm
bảo công bằng và hạn chế tính lũy thối.
* Phương pháp tính thuế GTGT: là cách thức tính tốn số thuế GTGT phải nộp.
Thơng thường thuế GTGT được tính tốn theo hai phương pháp sau:

21


Một là, Phương pháp khấu trừ
- Đối tượng áp dụng phương pháp khấu trừ:
Đối tượng bắt buộc áp dụng: đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ
kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ
doanh thu hàng năm từ bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ từ một tỷ đồng trở lên.
Đối tượng không được áp dụng: đối với cơ sở kinh doanh không thực hiện đầy
đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn,
chứng từ.
Đối tượng được lựa chọn áp dụng: đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ
chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn,
chứng từ doanh thu hàng năm từ bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới một tỷ đồng và
phải đăng ký sử dụng phương pháp này.
Số thuế GTGT phải nộp = Thuế GTGT đầu ra – Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ.

- Cơng thức tính:
Trong đó:
Số thuế GTGT đầu ra bằng tổng số thuế giá trị gia tăng của HHDV bán ra ghi
trên hóa đơn giá trị gia tăng.
Thuế giá trị gia tăng của HHDV bán ra ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng bằng =
giá tính thuế của HHDV chịu thuế bán ra (x) thuế suất thuế giá trị gia tăng của HHDV
đó.
Số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ bằng = tổng số thuế giá trị gia

Đối tượng bắt buộc áp dụng: đối với cơ sở kinh doanh khơng thực hiện đầy đủ
chế độ kế tốn, hố đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế tốn, hố đơn,
chứng từ và khơng xác định được số thuế GTGT đầu ra, đầu vào hoặc doanh thu quá
nhỏ.
Đối tượng không được áp dụng: đối với cơ sở kinh doanh khơng thực hiện đầy
đủ chế độ kế tốn, hố đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn,
chứng từ và doanh thu hàng năm từ bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ từ một tỷ đồng trở
lên.
Đối tượng được lựa chọn áp dụng: đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ
chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn,
chứng từ doanh thu hàng năm từ bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới một tỷ đồng và
không tự nguyện đăng ký áp dụng phương pháp khấu trừ.
- Cơng thức tính: phương pháp tính trực tiếp này có 3 trường hợp:
Trường hợp 1: Đối với DN đã thực hiện đầy đủ chế độ hóa đơn, chứng từ theo
quy định: Hàng hóa dịch vụ mua vào bán ra đều có hóa đơn, chứng từ hợp lệ thì:

23


Thuế GTGT phải nộp = GTGT của HHDV x thuế suất thuế GTGT tương ứng.

Trong đó, giá trị gia tăng của hàng hóa dịch vụ = doanh số bán ra – giá thanh
tốn của hàng hóa dịch vụ mua vào.
Trường hợp 2: Đối với DN đã thực hiện chế độ lập hóa đơn, chứng từ khi bán
HHDV nhưng khơng có đủ hoá đơn, chứng từ đối với HHDV mua vào thì:
Thuế giá trị gia tăng phải nộp = Doanh thu x Tỷ lệ % GTGT trên doanh thu.

Trường hợp 3: Đối với DN khơng thực hiện chế độ kế tốn, chế độ lập hóa
đơn, chứng từ khi mua bán HHDV: Về nguyên tắc, những loại DN này thường là
những DN nhỏ, bán lẻ và kinh doanh nhiều mặt hàng vụn vặt, hàng bán có thể khơng

thuế để quản lý đối tượng nộp thuế, theo dõi số liệu nộp thuế và ghi mã số đối tượng
nộp thuế trên mọi giấy tờ giao dịch với đối tượng nộp thuế như: thông báo nộp thuế,
thông báo phạt, lệnh thu, các quyết định phạt hành chính thuế, biên bản kiểm tra về thuế
* Kê khai thuế GTGT
Mỗi chủ thể khi tham gia đăng ký nộp thuế GTGT với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền và được cấp mã số thuế thì đều phải thực hiện việc kê khai thuế theo quy định
của pháp luật.
Kê khai thuế là việc khai báo tất cả những nghiệp vụ chịu thuế phát sinh trong kỳ
(tháng, quý hoặc năm), số thuế GTGT đã trả khi mua hàng, số thuế GTGT thu được khi
bán hàng, số thuế GTGT đã nộp, số thuế GTGT phải nộp trong kỳ cho cơ quan thuế.
Việc kê khai thuế được tiến hành theo mẫu tờ khai thuế. Người có nghĩa vụ kê
khai thuế căn cứ vào các dữ liệu trên tờ khai thuế thực hiện hành vi kê khai, chịu trách
nhiệm về tính chính xác của việc kê khai và nộp tờ khai cho cơ quan nhà nước có thẩm
quyền. Sau khi lập xong tờ khai thuế phải nộp tờ khai cho cơ quan thuế. Sau khi tính số
thuế phải nộp cho đối tượng nộp thuế, cơ quan thuế mới ra thông báo nộp thuế gửi cho
các đối tượng nộp thuế. Việc kiểm tra tính đúng đắn của kê khai thuế xảy ra trước thời
điểm nộp thuế. Việc sai sót trong việc tính số thuế phải nộp thuộc trách nhiệm của cơ
quan thuế.
* Nộp thuế GTGT
Nộp thuế GTGT là việc người cung cấp hàng hoá, dịch vụ chuyển thuế đã thu
hộ Nhà nước do người tiêu dùng trả thông qua cơ chế giá khi mua hàng hoá, dịch vụ
thuộc diện chịu thuế GTGT vào kho bạc Nhà nước. Đây là nghĩa vụ cơ bản nhất của
mỗi đối tượng nộp thuế. Để thực hiện nghĩa vụ này một cách có hiệu quả cần điều
chỉnh những vấn đề cơ bản sau:
-Về hình thức nộp thuế, có thể nộp trực tiếp cho cơ quan thuế hoặc có thể nộp
thuế qua Ngân hàng, qua Kho bạc Nhà nước.
- Về cơ chế nộp thuế. Hiện nay trong thực tiễn tiến hành thu thuế tồn tại hai cơ
chế:

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status