MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁNTẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM - Pdf 71

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁNTẬP
HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN
PHẨM
I. Khái quát chung về tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm
1. Khái niệm về chi phí sản xuất và ý nghĩa của việc hạch toán chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất là toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá và các
chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải chi ra trong một thời kỳ nhất định,
biểu hiện bằng tiền.
Để thực hiện các hoạt động của mình, các doanh nghiệp phải có ba yếu tố cơ
bản: Tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Các yếu tố này tham gia
vào quá trình sản xuất có sự khác nhau và hình thành nên các chi phí tương ứng:
Chi phí khấu hao tư liệu lao động, chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công.Trong
điều kiện tồn tại nền kinh tế thị trường thì những chi phí này được biểu hiện bằng
thước đo tiền tệ.
Hoạt động trong doanh nghiệp thường bao gồm nhiều khâu, nhiều lĩnh vực khác
nhau như:
- Hoạt động sản xuất, thực hiện công việc lao vụ.
- Hoạt động thu mua, dự trữ hàng hoá.
- Hoạt động bán hàng: Luân chuyển tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, cung
cấp lao vụ, dịch vụ
- Hoạt động khác như đầu tư tài chính, nghiệp vụ bất thường, …
Trong các doanh nghiệp sản xuất thì chi phí bỏ ra cho khâu sản xuất được gọi là
chi phí sản xuất.
Thực chất chi phí sản xuất ở các doanh nghiệp là sự chuyển dịch vốn của các
doanh nghiệp vào đối tượng tính giá nhất định, nó là vốn của doanh nghiệp bỏ vào
qúa trình sản xuất.
Ngoài quan điểm về chi phí sản xuất kể trên, chúng ta có một số quan điểm về
chi phí sản xuất ở một số nước như sau:
* Theo quan điểm của kế toán Pháp thì chi phí sản xuất là số tiền bỏ ra để mua
các yếu tố cần thiết tạo ra sản phẩm mang lại lợi cho doanh nghiệp, chi phí bao
gồm hai bộ phận: Chi phí mua hàng hóa, nguyên vật liệu, vật từ các loại dự trữ chi

2.1. Phân loại CPSX theo nội dung, tính chất của chi phí
Theo cách phân loại này, những khoản chi phí có chung tính chất, nội dung
kinh tế được xếp chung vào một yếu tố, không phân biệt chi phí đó phát sinh ở đâu
và dùng vào mục đích gì trong sản xuất kinh doanh. Toàn bộ CPSX kinh doanh của
doanh nghiệp bao gồm các yếu tố sau:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu: bao gồm toàn bộ các loại nguyên vật liệu (NVL)
chính, NVL phụ, nhiên liệu... doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh
doanh trong kỳ.
- Chi phí nhân công: Bao gồm toàn bộ số tiền công phải trả, tiền trích BHXH,
BHYT, KPCĐ của công nhân và nhân viên hoạt đông sản xuất kinh doanh trong
doanh nghiệp.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: Bao gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao tài sản
cố định sử dụng cho sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: bao gồm toàn bộ số chi phí khác dùng cho hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Chi phí khác bằng tiền: bao gồm toàn bộ số chi phí khác dùng cho hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngoài bốn yếu tố đã nêu ở trên. Cách phân
loại này có tác dụng quan trọng đối với việc quản lý chi phí của lĩnh vực sản xuất:
Cho phép hiểu rõ cơ cấu, tỷ trọng từng yếu tố chi phí là cơ sở để phân tích, đánh
giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất, làm cơ sở cho việc dự trù hay xây
dựng kế hoạch cung ứng vật tư tiền vốn, huy động sử dụng lao động...
2.2. Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích công dụng của chi phí
Căn cứ vào mục đích, công dụng của chi phí trong quá trình sản xuất kinh
doanh, những chi phí có chung công dụng kinh tế được xếp vào một khoản mục chi
phí .
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp : Bao gồm chi phí về nguyên vật liệu chính,
nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu được sử dụng vào mục đích trực tiếp sản xuất sản
phẩm, không tính vào khoản mục này những chi phí NVL sử dụng vào mục đích
sản xuất chung và những hoạt động ngoài sản xuất.
- Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm chi phí về tiền công, tiền trích BHXH,

lương, kế hoạch khấu hao tài sản cố định..), là cở sở để xác định định mức tiêu hao
vật chất và tính thu nhập quốc dân của doanh nghiệp, nghành và toàn bộ nền kinh
tế.
2.4. Phân loại CPSX căn cứ vào mối quan hệ của chi phí với quy trình công
nghệ sản xuất sản phẩm và quá trình kinh doanh
-Chi phí cơ bản: Là các chi phí có liên quan trực tiếp quy trình công nghệ sản
xuất sản phẩm, như chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công sản
xuất sản phẩm: Khấu hao tài sản cố định dùng trực tiếp vào sản xuất, chế tạo sản
phẩm.
- Chi phí chung: Là các chi phí dùng vào tổ chức, quản ký và phục vụ sản cuất
có tình chất chung. Thuộc loại này có chi phí quản lý ở các phân xưởng ( đội, trại )
sản xuất và chi phí quản lý doanh nghiệp.
Cách phân loại này giúp các nhà quản trị koanh nghiệp xác định được phương
hướng và các biện pháp tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Đối với chi phí
cơ bản là các chi phí liên quan trực tiếp đến quá trình công nghệ sản xuất sản
phẩm, thiếu chúng thì không thể sản xuất, chế tạo được sản phẩm, vì vậy không thể
cắt bỏ một loại chi phí cơ bản vào mà phải phấn đấu giảm thấp các định mức tiêu
hao vật liệu, lao động, khấu hao... hoặc cải tiến công nghệ, hợp lý hoá sản xuất, tìm
kiếm vật liệu thay thế,... Ngược lại, đối với chi phí chung cần phải triệt để tiết
kiệm, hạn chế và thậm chí loại trừ các chi phí không cần thiết, tăng cường quản lý
chi phí chung theo dự toán tiêu chuẩn và chế độ chi tiêu.
2.5. Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ và khả năng quy nạp chi phí
vào các đối tượng kế toán chi phí
- Chi phí trực tiếp : Là những chi phí chỉ quan hệ trực tiếp đến việc sản xuất
mội loại sản phẩm, một công việc, lao vụ hoặc một hoạt động, một địa điểm nhất
định và hoàn toàn có thể hạch toán, quy nạp trực tiếp cho sản phẩm, công việc, lao
vụ,... đó.
- Chi phí gián tiếp : Là chi phí có liên quan đến nhiều sản phẩm , công việc, lao
vụ, nhiều đối tượng khác nhau nên phải tập hợp, quy nạp cho từng đối tượng bằng
phương pháp phân bổ gián tiếp.

xác định giá bán và xác định hiệu quả cuả hoạt động sản xuất. Đối với mỗi loại sản
phẩm sản xuất ra nếu giá bán không thay đổi thì lợi nhuận thu được càng cao khi
giá thành sản xuất của nó càng thấp, vì vậy phấn đầu hạ thấp giá thành sản phẩm là
mục tiêu và cũng là nhiệm vụ quan trọng của các doanh nghiệp sản xuất. Phấn đấu
hạ thấp giá thành cũng là tiền đề giúp cho các doanh nghiệp tăng tích luỹ, là cơ sở
nâng cao đời sống công nhân viên, tăng khoản đóng góp cho Nhà nước.
3.2. Phân loại giá thành
*Phân loại giá thành theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành
Căn cứ vào cơ sở số liệu và thời điểm tính gía thành , giá thành sản phẩm được
chia thành 3 loại:
- Giá thành kế hoạch: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí sản
xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch. Việc tính giá thành kế hoạch do bộ phận kế
hoạch của doanh nghiệp thực hiện và được tiến hành trước khị bắt đầu quá trình
sản xuất ,chế tạo sản phẩm, giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh
nghiệp, là căn cứ để so sánh, phân tích , đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hạ
giá thành của doanh nghiệp.
- Giá thành định mức:
Giá thành định mức là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở các định mức
chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm. Việc tính giá thành định mức
cũng được thực hiện trước khi tiến hành sản xuất, chế tạo sản phẩm. Giá thành
định mức là công cụ quản lý định mức của doanh nghiệp là thước đo chính xác để
xác định kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động trong sản xuất, giúp cho đánh giá
đúng đắn các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện trong quá
trình hoạt động sản xuất nhằm năng cao hiệu quả kinh doanh.
- Giá thành thực tế:
Giá thành thực tế là gía thành sản phẩm được tính trên cơ sở sổ liệu chi phí sản
xuất thực tế dã phát sinh và tập hợp được trong kỳ cũng như sản lượng sản phẩm
thực tế đã sản xuất trong kỳ. Giá thành thực tế chỉ có thể tính toán được sau khi kết
thúc quá tình sản xuất, chế tạo sản phẩm và được tính toán cho cả chỉ tiêu tổng giá
thành và giá thành đơn vị. Giá thành thực tế là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh

5. Đối tượng tập hợp CPSX và đối tượng tính giá thành
5.1. Đối tượng tập hợp CPSX
Đối tượng tập hợp CPSX ( hay đối tượng tập hợp chi phí ) là phạm vi, giới hạn
để tập hợp CP nhằm đáp ứng kiểm soát chi phí và tính giá thành sản phẩm.
Giới hạn (phạm vi ) để tập hợp CPSX có thể là:
+ Nơi phát sinh chi phí: Phân xưởng, đội trại sản xuất, bộ phận chức năng.
+Nợi gánh chịu chi phí: Sản phẩm, công việc hoặc lao vụ do doanh nghiệp đang
sản xuất, công trình, hàng mục công trình, đơn đặt hàng...
Việc xác định đối tượng kế toán CPSX thực chất là xác định nơi gây ra chi phí
và đối tượng chịu chi phí. Để xác định được đúng đối tượng tập hợp chi phí phải
căn cứ vào yếu tố sau:
* Dựa vào tính chất sản xuất và quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm. Với
mỗi doanh nghiệp tuỳ thuộc vào đặc điểm quy trình công nghệ, tính chất sản xuất
thì đối tượng kế toán kế toán chi phí sản xuất là khác nhau:
+ Với doanh nghiệp có quá trình công nghệ sản xuất giản đơn, không chia
thành các giai đoạn cụ thể rõ ràng thì đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là toàn bộ
quy trình công nghệ
+ Với doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất phức tạp, liên tục thì đối
tượng tập hợp chi phí sản xuất là từng giai đoạn công nghệ.
+ Với doanh nghiệp có quy trình sản xuất song song thì đối tượng tập hợp chi
phí sản xuất là từng chi tiết sản phẩm.
* Dựa vào đặc điểm tính chất sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay còn
gọi là loại hình sản xuất. Mỗi doanh nghiệp tổ chức sản xuất khác nhau thì đối
tượng tập hợp chi phí sản xuất cũng khác nhau:
+Nếu doanh nghiệp sản xuất hàng loạt thì đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là
theo loạt hàng hay theo đơn đặt hàng.
+ Nếu doanh nghiệp sản xuất khối lượng lớn như mặt hàng cố định, chu kỳ sản
xuất lặp đi lặp lại thì đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là từng loại sản phẩm.
* Dựa vào cơ cấu tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp: nếu doanh nghiệp sản
xuất theo phân xưởng thì tập hợp chi phí sản xuất theo phân xưởng, còn không thì

Tuỳ từng đặc đIểm tổ chức sản xuất và quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm
mà doanh nghiệp lựa chọn cho mình một kỳ tính giá thành khác nhau:
- Doanh nghiệp tổ chức sản xuất nhiều chu kỳ sản xuất ntgắn xen kẽ liên
tục thì kỳ tính giá thành thích hợp là cuối mỗi tháng.
- Doanh nghiệp tổ choc đơn chiếc hoặc hàng loạt theo đơn đặt hàng thì kỳ
tính giá thành thích hợp là cuối mỗi tháng.
- Các loại sản phẩm nông nghiệp do tính chất thời vụ và chu kỳ sản xuất
dài cho nên kỳ tính giá thành là hàng năm.
Như vậy xác định đúng kỳ tính giá thành và lựa chọn phương pháp tính giá
thành thích hợp với tong loại hình doanh nghiệp giúp cho việc tính giá thành được
chính xác, hợp lý hơn.
7. Mối quan hệ giữa đối tượng kế toán tập hợp chi phí và đối tượng tính giá
thành
Giữa đối tượng kế toán tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành có mối quan
hệ thật chặt chẽ vơí nhau, điều đó thể hiện số liệu CPSX đã tập hợp được trong kỳ
theo đối tượng là cơ sở và là căn cứ để tính giá thành sản phẩm cho từng đối tượng
tính giá thành có liên quan.
Chúng giống nhau ở bản chất chung vì đều là phạm vị giới hạn để tập hợp chi
phí sản xuất và cùng phục vụ cho công tác quản lý, phân tích kiểm tra chi phí và
giá thành . Song giữa chúng có những đIểm khác nhau.
- Xác định đối tượng tập hợp chi phí là xác định phạm vi, nơi phát sinh chi
phí để tập hợp chi phí phát sinh trong kỳ( như phân xưởng, công việc.).
- Xác định đối tượng tính giá thành là xác định nơI gánh chịu chi phí tức
là có liên quan đến kết quả của quá trình sản xuất ( như sản phẩm, công
việc, lao vụ hoàn thành.).
- Một đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể bao gồm nhiều đối tượng
tính giá thành và ngựơc lại một đối tượng tính giá thành lại có thể bao
gồm nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất.
II. Tình hình tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
1. Các loại chứng từ, tài khoản chủ yếu.

- Giá thành thực tế vật liệu thuê ngoài gia công chế biến hoàn thành.
Số dư bên Nợ:
- Chi phí sản xuất kinh doanh dang dở
- Chi phí thuê ngoài gia công chế biến chưa hoành thành
Trình tự kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm hoành thành theo phương
pháp kê khai htường xuyên:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status