THƯ
VIỆN
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
VŨ THỊ BẮC
Ơ NHIỄM MƠI TRƯỜNG BIỂN ANH
HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN CÁC HOẠT ĐỘNG
KINH TẾ - XÃ HỘI TP.HCM
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ
MÃ SỐ:603195
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
PGS.TS. ĐẶNG VĂN PHAN
TP. HỒ CHÍ MINH - 2010
Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, sự giúp đỡ rất tận
tình từ phía các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè. Qua đây, tác giả xin được gửi lời cảm ơn
chân thành đến:
PGS.TS Đặng Văn Phan người đã tận tình hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình
tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn. Tác giả xin gửi lời tri ân chân thành nhất đến
Thầy.
Nhu cầu oxy sinh hóa
BĐKH
Biến đổi khí hậu
BVMT
Bảo vệ mơi trường
CN
Cơng nghiệp
COD
Nhu cầu oxy hóa học
CTNH
Chất thải nguy hại
ĐBSCL
Đồng bằng sông Cửu Long
ĐNB
Đông Nam bộ
Ơ nhiễm mơi trường
RNMCG
Rừng ngập mặn Cần Giờ
TN&MT
Tài nguyên và môi trường
TP
Thành phố
TP.HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
TSS
Tổng lượng chất rắn lơ lửng
TTCN
Trung tâm cơng nghiệp
TX
Thị xã
trọng của cả nước. Bên cạnh sự phát triển vượt bậc về kinh tế, Tp. Hồ Chí Minh cũng gặp phải
những thách thức về vấn đề mơi trường, trong đó vấn đề ơ nhiễm mơi trường biển cũng được TP hết
sức quan tâm. Những thách thức về vấn đề môi trường biển hiện nay tại Tp. Hồ Chí Minh nói riêng
và cả nước nói chung địi hỏi chúng ta phải tiếp cận, hiểu rõ các nguyên nhân, các nguồn gây ô
nhiễm môi trường biển, đánh giá những tác động của ô nhiễm môi trường biển đến các hoạt động
kinh tế - xã hội nhằm giảm thiểu những tác động đó để bảo đảm sự phát triển bền vững cho mơi
trường biển nước ta hiện nay. Đó cũng chính là lý do mà tơi chọn đề tài “Ơ NHIỄM MƠI
TRƯỜNG BIỂN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NĨ ĐẾN CÁC HOẠT ĐỘNG KINH TẾ - XÃ HỘI
TP.HỒ CHÍ MINH”.
2. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
2.1. Mục đích của đề tài
Mục đích của đề tài là tìm hiểu thực trạng của ô nhiễm môi trường biển, ảnh hưởng của nó
đến các hoạt động kinh tế - xã hội của thành phố, cũng như đề xuất các giải pháp cho vấn đề này. Từ
đó hướng đến sự phát triển bền vững mơi trường biển tại Tp. Hồ Chí Minh.
2.2. Nhiệm vụ của đề tài
Các nhiệm vụ cần thực hiện :
-
Tìm hiểu cơ sở lí luận vấn đề mơi trường biển, ô nhiễm môi trường biển và các nguồn gây ơ
nhiễm mơi trường biển hiện nay.
-
Tìm hiểu thực trạng ô nhiễm môi trường biển tại Việt Nam nói chung và Tp. Hồ Chí Minh
nói riêng.
-
Ơ nhiễm biển khơng chỉ bao gồm các hoạt động ô nhiễm xảy ra trên biển mà còn bao gồm
các hoạt động có nguồn từ đất liền. Vì thế ơ nhiễm mơi trường biển tại Tp. Hồ Chí Minh có liên
quan mật thiết đến các hoạt động ô nhiễm tại hệ thống sơng Sài Gịn – Đồng Nai. Sơng Đồng Nai là
một trong những con sông lớn của Việt Nam. Lưu vực sông Đồng Nai nằm phần lớn trong các tỉnh
thuộc vùng Đơng Nam Bộ. Vì vậy khi nghiên cứu vấn đề ô nhiễm môi trường biển tại Tp. Hồ Chí
Minh cần liên hệ với những vấn đề mơi trường tại lưu vực của hai con sơng này.
Bên cạnh đó, ô nhiễm môi trường biển không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà còn rất nhiều nước
trong khu vực Biển Đơng và trên thế giới, chính vì vậy trên cơ sở hệ thống của khu vực, vùng giúp
chúng ta có cái nhìn đúng đắn về vấn đề này hiện nay. Từ đó học hỏi kinh nghiệm của các nước tiên
tiến, phát huy những thế mạnh của chúng ta để khắc phục triệt để vấn đề ô nhiễm môi trường biển
cũng như hạn chế đến mức thấp nhất tác hại của nó đến kinh tế - xã hội và mơi trường.
5.3. Quan điểm phát triển bền vững
Khi nghiên cứu vấn đề môi trường đặc biệt là ô nhiễm môi trường biển cần phải dựa trên quan
điểm sinh thái và phát triển bền vững. Phát triển kinh tế - xã hội của TP.HCM phải đi đơi với sử
dụng hợp lí, bảo vệ và tái tạo tài nguyên thiên nhiên, chống gây ô nhiễm mơi trường; kết hợp hài
hồ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của
con người.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp định lượng
6.1.1. Phương pháp sưu tầm và thống kê số liệu
Để đề tài được hoàn thành, việc sưu tầm các tài liệu liên quan có ý nghĩa quan trọng, những tài
liệu nghiên cứu, những thông tin dựa vào các nguồn như sách, tạp chí, báo chuyên ngành, các
website chuyên ngành về môi trường và ô nhiễm mơi trường biển giúp cho việc phân tích được cặn
kẽ hơn. Sau khi sưu tầm các tài liệu tham khảo, người nghiên cứu phải chắt lọc các thông tin cần
thiết, thống kê các số liệu theo thời gian cho phù hợp với đề tài đã chọn. Phương pháp sưu tầm và
thống kê số liệu cho phép người nghiên cứu có cái nhìn khách quan nhất về vấn đề ơ nhiễm mơi
trường biển hiện nay tại Tp. Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung. Tuy nhiên nguồn tài liệu
lấy từ nhiều kênh thông tin khác nhau nên không thể tránh khỏi những thiếu sót.
sức cần thiết. Dựa trên các công thức dự báo sẵn có, thơng qua một số phép tính, người nghiên cứu
đưa ra những phân tích, đánh giá về tác động của ô nhiễm biển đến các hoạt động kinh tế - xã hội
trong tương lai của Tp. Hồ Chí Minh. Từ đó, đưa ra những giải pháp cho vấn đề này trong thời gian
sắp tới.
7. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ơ nhiễm mơi trường là một trong những vấn đề đang được quan tâm hàng đầu hiện nay. Tình
trạng ơ nhiễm xảy ra ở khắp mọi nơi cùng với sự phát triển về kinh tế - xã hội của các nước, đặc biệt
là ở các nước đang phát triển tình trạng này càng đáng báo động. Việt Nam cũng không là một
trường hợp ngoại lệ. Với 3260 km đường bờ biển, với nhiều bãi cát đẹp thích hợp cho du lịch, cùng
nhiều tài nguyên khoáng sản quan trọng đã nói lên vai trị của biển đối với Việt Nam. Tuy nhiên,
vấn đề khai thác tài nguyên biển cũng phải đi đôi với vấn đề bảo vệ môi trường biển. Ô nhiễm biển
hiện nay tại Việt Nam cũng đang trong tình trạng báo động. Có nhiều đề tài nghiên cứu đã đề cập
đến vấn đề này như:
Trong cuốn sách “Bảo vệ môi trường biển – vấn đề và giải pháp” của TS Nguyễn Hồng
Thao, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2004, có đề cập đến vấn đề ô nhiễm môi trường biển, các
nguyên nhân gây ô nhiễm, các điều ước quốc tế và khu vực Đông Nam Á về vấn đề ô nhiễm môi
trường biển. Tác giả cũng phân tích rất kĩ về hiện trạng tài nguyên, vấn đề ô nhiễm biển cũng như
các chiến lược, hoạt động liên quan đến vấn đề này tại Việt Nam. Tuy nhiên cuốn sách cũng chưa
đề cập đến vấn đề tác động của ô nhiễm môi trường biển đến các vấn đề kinh tế - xã hội của Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay.
Đề cập đến chiến luợc biển của Việt Nam, cũng như các công ước quốc tế về biển mà Việt
Nam đang thực hiện, cuốn sách “Công ước biển 1982 và chiến lược biển của Việt Nam” cũng do
TS Nguyễn Hồng Thao (chủ biên) cùng nhóm tác giả PGS.TS Đỗ Minh Thái, TS Nguyễn Thị Như
Mai, ThS. Nguyễn Thị Hường, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2008, đã nêu đầy đủ và chi tiết về
Công ước biển 1982. Trong đó, có một phần đề cập đến vấn đề ô nhiễm môi trường biển là “Thực
hiện cơng ước 1982 trong lĩnh vực bảo vệ và gìn giữ môi trường biển”. Tuy nhiên cuốn sách cũng
chỉ đánh giá các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển và các biện pháp bảo vệ môi trường biển chứ
chưa phân tích về tác động ngược lại của ơ nhiễm biển đến các hoạt động kinh tế - xã hội.
GS.TS Lâm Minh Triết, người có rất nhiều năm nghiên cứu say mê về đề tài bảo vệ môi trường
nước cho TP.HCM nói chung và sơng Sài Gịn nói riêng. Chưa bao giờ sơng Sài Gịn được quan
tâm nhiều như hiện nay bởi những diễn biến ngày càng xấu về chất lượng nước của dịng sơng đe
dọa nghiêm trọng đến đời sống xã hội và trước hết đe dọa trực tiếp về nhu cầu cấp nước cho thành
phố và đe dọa nghiêm trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của TP.HCM, tỉnh Tây Ninh
và Bình Dương trên lưu vực sơng Sài Gịn.
Nói đến chiến lược biển, kinh tế biển, phải nhắc đến Đề án Chiến lược biển Việt Nam đến năm
2020 và Nghị quyết về “Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020” của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020, phải phấn đấu để
nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia
trên biển, góp phần giữ vững ổn định và phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế
- xã hội với đảm bảo quốc phòng, an ninh và bảo vệ mơi trường; có chính sách hấp dẫn nhằm thu
hút mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế biển; xây dựng các trung tâm kinh tế lớn vùng duyên hải
gắn với các hoạt động kinh tế biển làm động lực quan trọng đối với sự phát triển của cả nước. Từ
đó, có thể thấy trong văn bản này Đảng và Nhà nước ta cũng rất quan tâm đến vấn đề “hướng ra
biển” của Việt Nam.
Như vậy, cho đến nay, đã có rất nhiều đề tài viết về vấn đề ô nhiễm môi trường biển, các hoạt
động kinh tế biển tại Việt Nam cũng như ảnh hưởng của hoạt động kinh tế biển đến kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, chưa có một đề tài cụ thể nào đề cập đến ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường biển đến
các hoạt động kinh tế - xã hội của Tp. Hồ Chí Minh hiện nay. Trên cơ sở các tài liệu thu thập được,
tham khảo ý kiến thầy hướng dẫn, cũng như kiểm nghiệm từ thực tế, tôi đã bắt tay vào việc thực
hiện đề tài này. Tôi hy vọng đề tài của mình sẽ giúp cho mọi người tiếp cận với vấn đề ô nhiễm môi
trường biển một cách dễ dàng hơn và có cái nhìn trực quan hơn về tác động của kinh tế đến môi
trường biển cũng như những ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường biển đến các hoạt động kinh tế - xã
hội của Tp. Hồ Chí Minh hiện nay.
8. Đóng góp của đề tài :
-
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ Ô NHIỄM
MÔI TRƯỜNG BIỂN
1.1.
Định nghĩa một số thuật ngữ liên quan
1.1.1. Khái niệm về môi trường
Điều 1 Luật bảo vệ Môi trường của Việt Nam năm 1995 quy định: “Môi trường bao gồm các
yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người,
có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”.
Điều 2 Luật bảo vệ Môi trường của Việt Nam năm 1995 quy định: “Thành phần môi trường
bao gồm các yếu tố : khơng khí, nước, đất, âm thanh, ánh sáng, núi, rừng, sông, hồ, biển, sinh vật,
các hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên, danh
lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác”.
Theo GS.TSKH Lê Huy Bá thì “Mơi trường (Environment) là tập hợp các thành phần vật chất
vô cơ, sinh vật và con người cùng tồn tại và phát triển trong một không gian và thời gian nhất định.
Giữa chúng có sự tương tác với nhau theo nhiều chiều, mà tổng hịa các mối tương tác đó sẽ quyết
định lên chiều hướng phát triển của tồn bộ hệ thống Mơi trường”.[1]
Tùy theo mục đích mà người ta phân loại mơi trường thành nhiều kiểu khác nhau. Ta có:
-
Theo các tác nhân thì có mơi trường tự nhiên và mơi trường nhân tạo.
-
Theo sự sống thì có mơi trường vật lý, môi trường sinh học.
-
Lấy sinh vật hoặc con người làm đối tượng nghiên cứu thì chia ra mơi trường bên trong và
1.1.3. Khái niệm về ơ nhiễm mơi trường biển
Năm 1981, Nhóm chun gia về các khía cạnh khoa học của ô nhiễm biển (Joint Group of
Expert on the Scientific Aspects of Marine Pollution – GESAMP) đưa ra định nghĩa đầu tiên về ô
nhiễm môi trường biển (Marine pollution) là “Việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất
liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển (bao gồm cả các cửa sông), gây ra những tác hại như gây
tổn hại đến nguồn lợi sinh vật, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt
động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương diện sử dụng
nó và làm giảm sút các giá trị mỹ cảm của biển”
Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982, điều 1, khoản 4 đã đưa ra một định
nghĩa có phần mở rộng hơn: “Ơ nhiễm môi trường biển là việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp
đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào mơi trường biển, bao gồm các cửa sơng, khi đó việc gây ra
hoặc có thể gây ra những tác hại như gây tổn hại đến nguồn lợi sinh vật và đến hệ động vật và hệ
thực vật biển, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể cả
việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng
nước biển về phương diện sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mỹ cảm của biển”[37]
1.1.4. Khái niệm về các hoạt động kinh tế - xã hội
Theo từ điển Bách khoa tồn thư thì khái niệm kinh tế là :
Tổng thể các hoạt động của một cộng đồng người, một nước, liên quan đến tồn bộ q trình
hay một phần của tổng quá trình bao gồm các quá trình sản xuất, trao đổi hàng hóa, phân phối và
tiêu dùng các sản phẩm xã hội.
Tổng thể những mối quan hệ trong quá trình sản xuất của một hình thái kinh tế - xã hội nhất
định, trong tổ chức và hoạt động của cơ cấu hạ tầng của xã hội, bao gồm các ngành kinh tế - kĩ
thuật, các loại hình sản xuất tương ứng.
Khái niệm xã hội
Theo nghĩa hẹp, là khái niệm chỉ một loại hệ thống XH cụ thể trong lịch sử, một hình thức nhất
định của những quan hệ XH, là một XH ở vào một trình độ phát triển lịch sử nhất định, là một kiểu
loại XH nhất định đã hình thành trong lịch sử. Ví dụ: XH nơ lệ, XH phong kiến, XH tư bản... Trong
trường hợp này, XH trùng hợp với hình thái kinh tế xã hội (Hình thái kinh tế - xã hội).
học - công nghệ biển, đào tạo nhân lực phục vụ phát triển kinh tế biển, điều tra cơ bản về tài nguyên
- mơi trường biển. Có thể coi cách hiểu kinh tế biển bao gồm cả các hoạt động kinh tế diễn ra trên
biển và các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển ở dải đất liền ven biển là quan
niệm về kinh tế biển theo nghĩa rộng.
1.2. Các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển
Theo Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982, ô nhiễm mơi trường biển bao
gồm 6 nguồn chính sau:
Bảng 1.1. Các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển theo Công ước của Liên Hiệp Quốc
về Luật Biển năm 1982
Các nguồn gây ơ nhiễm
STT
1.
Ơ nhiễm bắt nguồn từ đất liền kể cả các ơ nhiễm xuất phát từ các dịng sơng,
cửa sông, ống dẫn và các thiết bị thải của công nghiệp.
2.
Ô nhiễm do các hoạt động liên quan đến đáy biển thuộc quyền tài phán của
quốc gia ven biển, hay xuất phát từ các đảo nhân tạo, các cơng trình thiết bị
thuộc quyền tài phán của họ.
3.
Ô nhiễm do các hoạt động tự nhiên và nhân tạo trong vùng (tức vùng đáy biển
di sản chung của loài người) lan truyền tới.
Nguồn hoặc các hoạt động gây ơ
nhiễm biển
Khí CO2
Các tác động liên quan
Thay đổi khí hậu, làm thay đổi nhiệt độ,
thay đổi mực nước biển.
2.
3.
4.
5.
6.
Các kim loại nặng
Vi sinh vật
Đổ chất thải phóng xạ
Các hóa chất mới
Sản xuất năng lượng
Tác động độc hại tiềm tàng
Tác hại tới sức khỏe cộng đồng
Tác hại tới sức khỏe cộng đồng
Độc hại cho con người và sinh vật
Thay đổi hoặc làm xáo trộn mơi trường
sống
7.
Khai khống
động liên quan đến đáy biển thuộc quyền tài phán quốc gia gây ra hay xuất phát từ các đảo nhân tạo,
các cơng trình thiết bị thuộc quyền tài phán quốc gia (Điều 208).
Theo Chương trình hành động 21 của Hội nghị Rio de Janeiro về Mơi trường và Phát triển
nhận xét: “Ơ nhiễm có nguồn gốc từ đất liền chiếm 70% ơ nhiễm biển, trong khi các hoạt động giao
thông vận tải biển và nhận chìm ở biển đóng góp 10% từng loại.”
Do định nghĩa về đất liền khác nhau nên cách tính ơ nhiểm biển có nguồn gốc từ đất liền
cũng rất khác nhau. Theo báo cáo của GESAMP 1990 thì ô nhiễm biển xuất phát từ đất liền chiếm
44%. Mặc dù các con số chưa thống nhất nhưng không ai phủ nhận ơ nhiễm có nguồn gốc từ đất
liền đóng góp phần lớn trong các tác nhân gây ơ nhiễm cho môi trường biển.
Việc xác định các nguồn gây ô nhiễm trên đất liền cũng không phải đơn giản. Nguồn ô nhiễm
có nguồn gốc từ đất liền rất đa dạng, xuất phát từ rất nhiều hoạt động khác nhau. Vì vậy, nguồn gây
ơ nhiễm có thể chia làm hai loại : nguồn xác định và nguồn không xác định. Nguồn xác định là
nguồn mà vị trí đổ thải vào mơi trường biển được xác định chính xác và có thể phân loại các chất ô
nhiễm theo kim loại, chất hữu cơ, chất nguy hại…Các nhà máy xử lý chất thải thành thị chiếm đến
25% tổng các nguồn xác định đổ vào các vùng nước ven bờ. Các nguồn không xác định là các
nguồn phân tán, xâm nhập vào môi trường biển bằng các con đường gián tiếp như thông qua khí
quyển, theo nước mưa chảy vào sơng ra biển. Các chất này có thể là thuốc trừ sâu, muối, dầu, các
chất nhiễm bẩn từ đường sá, cầu cống, các chất thải từ gia súc…các nguồn khơng xác định này có
thể chia thành 4 loại liên quan đến thành thị, nông thơn, cơng nghiệp và xây dựng phát triển.
1.2.2. Ơ nhiễm từ các hoạt động liên quan đến đáy biển
Các hoạt động liên quan đến đáy biển có thể bao gồm:
Các hoạt động thăm dị và khai thác dầu khí;
Các hoạt động thăm dị và khai thác khống sản, quặng đa kim;
Các hoạt động khoan, đào, nổ nhằm mục đích xây dựng đường hầm, đặt cáp, ống
dẫn…
Khai thác dầu khí ngồi biển được bắt đầu vào năm 1923, ngồi khơi Vênêxla. Từ đó đến
nay việc thăm dị và khai thác dầu khí đã phát triển mạnh mẽ, khơng chỉ giới hạn ở các vùng biển
gần bờ mà đã ra đến cả các vùng sâu hàng nghìn mét. Các cuộc khảo sát địa chấn, các chất thải,
hạt nhân. Khối lượng này ngày càng tăng đặc biệt chất thải có nồng độ phóng xạ chứa tới 99% là
lượng phóng xạ và đó là một nguồn nguy hiểm phóng xạ tiềm tàng.
1.2.4. Ô nhiễm do tàu thuyền gây ra
Ô nhiễm do tàu thuyền chiếm 12% ô nhiễm môi trường biển. Theo Egard Gold, ơ nhiễm biển
từ tàu có thể chia làm 5 nhóm sau :
Các hoạt động chất thải đổ từ tàu dầu khi rửa tàu.
Các hoạt động xả đáy từ tất cả các loại tàu.
Tràn dầu, chất độc nguy hại… do các sự cố trên biển như đâm va, chìm đắm, nổ,
cháy…
Tràn dầu, chất độc nguy hại…trong quá trình sắp xếp, dỡ, vận chuyển và đưa vào kho.
Cố ý đổ thải các chất rác, nước thải sinh hoạt.
Bảng 1.3. Tác động đến môi trường từ tàu thuyền
Thể loại ô nhiễm
Các chất từ tàu thuyền
Dầu
Các chất lỏng độc hại
Nước thải
Rác
Ô nhiễm từ các hoạt động bình thường
Các chất rắn chun chở rời
Ơ nhiễm khơng khí
Các chất sơn chống gỉ
Các sinh vật lạ
Tiếng ồn
Dầu
Ơ nhiễm do tai nạn
Các chất lỏng độc hại
bầu khí quyển hay qua bầu khí quyển (ơ nhiễm từ khí quyển) là nguồn ơ nhiễm biển riêng biệt.
Báo cáo của GESAMP năm 1990 nhận xét: “Khí quyển chứa đựng các vật chất từ nhiều
nguồn khác nhau, tự nhiên và nhân tạo. Nguồn tự nhiên bao gồm các bụi từ nhiều vùng, từ đất, từ
núi lửa, thực vật, các đám cháy rừng cũng như từ các vòi rồng trên biển. Trong số các nguồn nhân
tạo có các khí thải từ các ngành công nghiệp, sản xuất và sử dụng năng lượng, đốt rác thải và các
hoạt động nơng nghiệp…các thành phần này có thể được đưa vào bầu khí quyển ngay phía trên các
vùng đất. Từ đó chúng được xáo trộn theo chiều thẳng đứng và có thể được chuyển đi hàng ngàn km
vượt qua các đường biên giới quốc gia và lan truyền đến các hệ sinh thái lớn của biển cả. Các chất
nhiễm bẩn này có thể rơi trực tiếp xuống biển thơng qua các hình thức mưa và tuyết rơi”.
Đánh giá chính xác về lượng các chất nhiễm bẩn được đưa vào bầu khí quyển cho đến nay
vẫn là điều khơng thể. Theo các đánh giá sơ bộ trên phạm vi toàn cầu, lượng chì được đưa vào biển
cả có tới 98% là nguồn gốc từ khí quyển. Khí quyển cịn cung cấp cả các chất đồng, sắt, kẽm, niken,
chất hóa học… vào biển nhiều hơn là từ các dịng sơng. Các vụ thử hạt nhân cũng đưa những chất
phóng xạ vào biển, vào khí quyển thơng qua những cơn mưa.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến môi trường biển
1.3.1. Nhân tố vĩ mô
1.3.1.1. Luật biển, công ước biển quốc tế, luật bảo vệ môi trường
Trong giai đoạn hiện nay, luật biển và các cơng ước quốc tế đã có tác động đến vấn đề môi
trường biển một cách sâu sắc. Nhờ có luật biển quốc tế năm 1982 mà các vấn đề về biển đã được
qui định một cách rõ ràng và các nước trên thế giới phải công nhận vấn đề này. Trên thế giới, ngồi
một số cơng ước liên quan đến việc quản lý và ngăn chặn ô nhiễm biển từ các hoạt động vận tải biển
như: Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm biển do tàu biển gây ra (Marpol 73/78), Công ước về ngăn
ngừa ô nhiễm biển do thải chất thải và vấn đề khác (London Dumping 1972), Công ước về sẵn sàng
hợp tác và ứng cứu ô nhiễm dầu (OPRC 1990), Công ước liên quan đến việc can thiệp trong trường
hợp bất cẩn gây ô nhiễm dầu (Intervention 1969) và một số cơng ước khác, cịn có rất nhiều nước
quy định pháp lý xử lý ơ nhiễm biển vơ cùng chặt chẽ. Thậm chí, bất kể phương tiện thủy nào khi
vào vùng lãnh thổ biển đều phải nộp phí hưởng mơi trường biển sạch và sẽ xử lý phạt rất nặng lỗi
gây ô nhiễm môi trường. Khơng ít tàu biển Việt Nam bị phạt hàng chục nghìn đơla vì lỗi này.
chủ yếu dựa trên kinh nghiệm “cha truyền con nối” luôn ẩn chứa những rủi ro đối với người đi
biển. Tiềm năng của Biển Đơng có nhiều, nhưng sản lượng cá ven bờ ngày càng cạn kiệt. Vì thế,
những năm gần đây, ngư dân của Việt Nam đã tiến đến đánh bắt xa bờ. Tuy nhiên việc đánh bắt cịn
gặp nhiều khó khăn do thiên tai nên một số ngư dân đã sử dụng các phương pháp đánh bắt gây ảnh
hưởng đến môi trường biển như dùng mìn đánh bắt cá, lưới cào, sử dụng mắt lưới ngày càng nhỏ
hơn làm cho cá con khơng có thời gian sinh trưởng, sản lượng cá ngày càng giảm. Bên cạnh đó việc
ni trồng thủy sản ven biển cũng gây ra nhiều tác nhân ảnh hưởng đến môi trường biển.
Vấn đề khai thác các cảng biển, giao thông vận tải biển, du lịch biển và khai thác khoáng sản
biển như dầu khí cũng gây ảnh hưởng khơng nhỏ đến mơi trường biển. Vấn đề này sẽ được đề cập
kĩ hơn trong hiện trạng của môi trường biển Việt Nam hiện nay.
1.3.2.2. Các yếu tố khí tượng thủy văn (nhiệt độ nước biển, thủy triều, gió, bão…)
Nhiệt độ của nước biển
Biển Việt Nam là một biển ấm, nhiệt độ nước biển thay đổi theo mùa, thấp nhất là mùa đông
(từ tháng 11 đến tháng 3) và cao nhất về mùa hè (từ tháng 5 tới tháng 8). Nhiệt độ nước biển tầng
mặt thường lớn hơn 200C. Tuy nhiên vào mùa đơng có sự giảm thấp nhiệt độ tương đối của lớp
nước tầng mặt ở vùng biển phía Bắc xuống dưới 200C.
Thủy triều
Thủy triều vùng biển Việt Nam hết sức đa dạng :
Vùng ben bờ biển Bắc Bộ và Thanh Hóa có chế độ thủy triều thuộc loại nhật triều thuần nhất.
Vùng ven biển từ Nghệ An đến Cửa Việt có chế độ nhật triều khơng đều.
ở vùng ven bờ. Nước dâng do bão gây thiệt hại to lớn về người và tài sản ở vùng ven biển, gây nguy
hiểm đối với hoạt động của tàu thuyền.
Vùng biển nước ta với các yếu tố khí tượng thủy văn nói trên đã có ảnh hưởng to lớn đến sự
phân tán và phân hủy dầu. Các trường nhiễm bẩn dầu đã được hình thành ở các vùng cửa sơng, ven
bờ, vùng có tuyến hàng hải quốc tế đi qua, dưới tác động của gió, dịng chảy mạnh, nhiệt độ nước
biển cao, dầu và các chất gây ô nhiễm bị phân tán, lan truyền nhanh và rộng, ảnh hưởng tới một
vùng diện tích rộng nhưng đồng thời cũng dễ bị phân hủy. Càng xa bờ, càng xa nguồn thải, nồng độ
dầu, nồng độ chất ô nhiễm càng giảm. Tới khoảng cách hàng chục, hàng trăm km thì hàm lượng dầu
và các chất ơ nhiễm khác có thể trở lại bình thường.
1.4. Vai trị của biển Đơng đối với các hoạt động kinh tế - xã hội
Biển có vai trị rất quan trọng đối với sự phát triển và an ninh của các nước có biển nói riêng
và của thế giới nói chung. Một số nước và vùng lãnh thổ đã lợi dụng thế mạnh về biển đạt trình độ
phát triển kinh tế rất cao. Do tầm quan trọng của biển, từ lâu cuộc chạy đua trong sự phát triển kinh
tế biển cũng như triển khai lực lượng quân sự trên biển và sự tranh chấp trên biển diễn ra rất gay
gắt.
Thế kỷ XXI được các nhà chiến lược xem là ''Thế kỷ của đại dương'', bởi cùng với tốc độ
tăng trưởng kinh tế và dân số hiện nay, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên không tái
tạo được trên đất liền, sẽ bị cạn kiệt sau vài ba thập kỷ tới. Trong bối cảnh đó, các nước có biển,
nhất là các nước lớn đều vươn ra biển, xây dựng chiến lược biển, tăng cường tiềm lực mọi mặt để
khai thác và khống chế biển. Riêng trong lĩnh vực khai thác tài nguyên, các nước, nhất là các nước
lớn đều có thiên hướng bảo tồn tài nguyên trên đất liền và vùng biển của mình, vươn ra điều tra,
khai thác tài nguyên trên đại dương. Do ý nghĩa và vai trò quan trọng của biển nên sự hợp tác quốc
tế về biển cũng không ngừng được mở rộng, bao gồm việc xây dựng khuôn khổ pháp lý mà tập
trung nhất là Công ước biển năm 1982 của Liên Hợp quốc, hình thành các cơ chế, tổ chức hợp tác
tồn cầu và khu vực.
1.4.1. Vị trí địa kinh tế và địa chính trị của biển Việt Nam
Việt Nam nằm bên bờ Biển Đơng, có vùng biển rộng trên 1 triệu km2. Bờ biển Việt Nam dài
khoảng 3.260 km, trải dài trên 13 vĩ độ, có tỷ lệ chiều dài đường biển trên diện tích đất liền cao nhất
Tuy nhiên, tài ngun khống sản biển nói chung và dầu khí nói riêng thuộc nhóm tài ngun khơng
tái tạo, nên rất cần xây dựng chính sách, chiến lược quy hoạch, khai thác và sử dụng tài nguyên
khoáng sản một cách hợp lý để phát triển kinh tế xã hội bền vững.
Thềm lục địa Việt Nam có nhiều bể trầm tích chứa dầu khí và có nhiều triển vọng khai thác
nguồn khống sản này. Tổng trữ lượng dầu khí ở biển Việt Nam ước tính khoảng 10 tỉ tấn dầu quy
đổi.Tuy mới ra đời, nhưng ngành dầu khí của ta đã trở thành một trong những ngành kinh tế mũi
nhọn, có tiềm lực kỹ thuật, vật chất lớn và hiện đại nhất trong những ngành khai thác biển; đồng
thời cũng là một trong những ngành xuất khẩu và thu nhiều ngoại tệ nhất cho đất nước.[15]
Ngoài dầu mỏ, biển Việt Nam cịn có tiềm năng về khí - điện - đạm và năng lượng biển cũng
rất lớn như năng lượng gió, năng lượng mặt trời, thủy triều, sóng và cả thủy nhiệt.
1.4.3. Tài nguyên sinh vật
Biển Việt Nam rất giàu và phong phú, đa dạng về các dạng sinh vật, ước tính gồm hơn
12.000 thực vật, trong đó có khoảng 7.000 loài cây thực vật lớn (macrophytes) và 1.400 lồi nấm.
Về động vật có 273 lồi động vật có vú, 638 lồi chim (1009 lồi nếu tính cả lồi phụ), 349 lồi
động vật lưỡng cư và bị sát, hơn 500 loài cá nước ngọt, hơn 2.000 loài cá biển, hàng nghìn lồi
động vật khơng xương sống hiện đã được xác định. [58]
Ngồi ra, vùng biển nước ta cịn có các loại động vật quý khác như đồi mồi, rắn biển, chim
biển, thú biển. Vùng biển và đảo Việt Nam còn là nơi cư trú lý tưởng của trên 50 lồi chim di cư,
trong đó chim yến cho sản lượng khai thác khoảng 4000kg yến sào mỗi năm. Hơn 300 lồi san hơ
cứng được tìm thấy ở vùng biển Việt Nam. Ở miền Nam xác định được 277 lồi san hơ cứng thuộc
72 giống. Ở miền Bắc xác định được ít hơn, có 165 lồi thuộc 52 giống. Khoảng 17 lồi san hơ thân
mềm và 20 lồi san hơ sừng cũng được tìm thấy ở vùng biển Việt Nam.
Biển nước ta chủ yếu là vùng biển nhiệt đới mang tính chất địa phương, có tính chất riêng về
nhiều mặt như khí tượng - hải văn, chế độ thủy triều.... Hiện tượng nổi bật là sự xuất hiện vùng
nước trồi - một vùng sinh thái đặc biệt phong phú, đa dạng và là nơi tập trung nhiều loài sinh vật
biển. Nguồn lợi hải sản của biển nước ta được đánh giá vào loại phong phú trong khu vực. Tổng trữ
lượng hải sản khoảng 3,9 - 4,0 triệu tấn/năm, cho phép hàng năm khai thác 1,9 triệu tấn, trong đó
vùng biển gần bờ chỉ khoảng 500 nghìn tấn, cịn lại là vùng xa bờ; cá biển chiếm 95,5%, cịn lại là
Lớp cảnh quan sinh thái núi phân bố thành một dải từ Bắc xuống Nam bao gồm chủ yếu các
dãy núi trung bình và thấp với độ cao từ 1600 – 1500m đến 600 – 700m. Lớp cảnh quan núi được
chia ra làm 2 phụ lớp: phụ lớp cảnh quan núi trung bình và phụ lớp cảnh quan núi thấp
Cũng như lớp núi, lớp cảnh quan sinh thái đồi cũng được phân bố suốt từ Bắc xuống Nam
nhưng rải rác hơn, trong đó tập trung chủ yếu ở các khu vực rìa đồng bằng Bắc Bộ, Trung Bộ và
Nam Bộ.
Lớp cảnh quan sinh thái đồng bằng bao gồm toàn bộ các đồng bằng ven biển và hầu hết được
sử dụng để canh tác, ngoại trừ các khu vực tiếp giáp với đồi núi còn bỏ hoang. Hiện nay lớp cảnh
quan sinh thái đồng bằng đã được sử dụng triệt để vào sản xuất nông nghiệp.
Các phân vị cơ sở này có ý nghĩa thiết thực nhất, chúng cung cấp những thông tin khoa học
quan trọng, đầy đủ và cụ thể nhất về các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của lãnh thổ, cấu
trúc của chúng theo không gian, cũng như chức năng và động lực phát triển của chúng...làm cơ sở
cho việc đánh giá tổng hợp lãnh thổ phục vụ cho các mục đích sử dụng cụ thể.
1.4.5. Tài nguyên địa hình biển
Địa hình ven biển Việt Nam rất đa dạng và phức tạp với gần 40 kiểu địa hình khác nhau
thuộc 4 nhóm chính là: [60]
Nhóm kiểu địa hình núi (gồm 11 kiểu): được tách ra khỏi các địa hình khác bởi độ chênh cao
trên 150m. Đối với địa hình này cần có kế hoạch khai thác sử dụng hợp lí, tránh những tác
động của q trình ngoại sinh, đồng thời cần bảo vệ lớp phủ thực vật để bảo vệ lớp phủ thổ
nhưỡng.
Nhóm kiểu địa hình đồi (gồm 4 kiểu): được tách ra khỏi các địa hình khác bởi độ chênh lệch
cao từ 10 – 150m. Tại khu vực phía Bắc điển hình là ven biển Quảng Ninh, còn từ Nam đèo
Hải Vân trở vào điển hình là Ninh Thuận, Bình Thuận và Đơng Nam Bộ. Nhóm địa hình này
khá thích hợp cho việc phát triển cây công nghiệp dài ngày như chè, cà phê hoặc cây
màu…Tuy nhiên cần canh tác hợp lí để tránh gây xói mịn, thối hóa đất và các q trình