Thực trạng và biện pháp quản lý hoạt động học ở các trường cao đẳng sư phạm trung ương thành phố hồ chí minh - Pdf 71

THƯ
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Thuận

THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT
ĐỘNG HỌC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM
TRUNG ƯƠNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục
Mã số: 60 14 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN THỊ BÍCH HẠNH

Thành phố Hồ Chí Minh – 2009


LỜI CẢM ƠN
 Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phịng Khoa học cơng nghệ - Sau đại
học, Khoa Tâm lý trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ và tạo điều
kiện cho tơi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn.
 Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô đã tận tình giảng dạy, chỉ dẫn cho tơi những tri
thức, kinh nghiệm, bài học quý báu.
 Đặc biệt, xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Thị Bích
Hạnh đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ tơi hồn thành luận văn này.
 Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phịng Đào tạo và tồn thể giảng viên,
cán bộ, công nhân viên trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương thành phố Hồ Chí Minh
đã tạo mọi điều kiện cho tôi cả về thời gian, tinh thần, vật chất trong suốt 3 năm qua.


: Giáo dục Đặc biệt

GV

: Giảng viên

HTNL

: Học tập ngoài lớp

MN

: Mầm non

MT

: Mỹ thuật

SP

: Sư phạm

SV

: Sinh viên

F

: S phi u

[28]; “Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy tại trường Đại Học Mở TP. Hồ Chí Minh
(Luận văn Thạc sĩ giáo dục học của Nguyễn Thị Nhận) [35]... Song nghiên cứu về hoạt động
học và quản lý hoạt động học thì chưa có nhiều cơng trình triển khai.
Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương thành phố Hồ Chí Minh trước đây là trường
Cao đẳng Sư phạm Mẫu giáo Trung ương 3 chuyên đào tạo giáo viên mầm non có trình độ
cao đẳng đáp ứng u cầu giáo dục của các trường mầm non phía Nam. Sinh viên thi tuyển
vào trường này đa phần là từ các tỉnh phía Nam, các em học và ở nội trú tại trường nên việc
quản lý họat động học của họ có nhiều thuận lợi nhưng cũng có nhiều khó khăn so với các
trường đào tạo nghề khác.
Từ những lý do và sự phân tích ở trên, chúng tơi chọn đề tài: “Thực trạng và biện pháp
quản lý hoạt động học ở trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương thành phố Hồ Chí Minh”
được thực hiện.
2. Mục đích nghiên cứu


Trên cơ sở khảo sát thực trạng công tác quản lý hoạt động học ở trường Cao đẳng Sư
phạm Trung ương thành phố Hồ Chí Minh, đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao
kết quả hoạt động học và chất lượng đào tạo của nhà trường.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể: Quản lý hoạt động dạy học của trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương
thành phố Hồ Chí Minh.
3.2 Đối tượng: Thực trạng và biện pháp quản lý hoạt động học tại trường Cao đẳng Sư
phạm Trung ương thành phố Hồ Chí Minh.
4. Giả thuyết khoa học
Hiện nay, sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương thành phố Hồ Chí Minh đã
thực hiện hoạt động học và đạt được kết quả nhất định nhưng vẫn cịn thiếu tính tự giác, tích
cực và độc lập. Nguyên nhân của thực trạng này có thể do động cơ học tập, phương pháp học
tập của sinh viên hoặc do hoạt động dạy,… trong đó cơng tác quản lý hoạt động học của sinh
viên chưa khoa học và kém hiệu quả. Cần đề ra các biện pháp quản lý hoạt động học hợp lý
nhằm nâng cao kết quả hoạt động học và chất lượng đào tạo của nhà trường.

tìm hiểu sâu hoạt động học và quản lý hoạt động học.
 Phương pháp xin ý kiến chuyên gia.
7.2.3 Phương pháp toán thống kê: Sử dụng phần mềm SPSS for window để xử lý số
liệu.


Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 . Tổng quan vấn đề nghiên cứu
● Nghiên cứu về học trong quan hệ với dạy. Ngay từ thời cổ đại, nhiều nhà giáo dục
lỗi lạc cũng đã quan tâm nghiên cứu hoạt động học trong quan hệ với hoạt động dạy, đặc biệt
nhấn mạnh tính tích cực, độc lập của người học. Khổng Tử (551 – 479 Tr.CN) là người rất
coi trọng tính tích cực nhận thức của học sinh. Theo ơng, thầy giáo chỉ giúp học trò cái mấu
chốt nhất, còn mọi vấn đề khác học trị phải từ đó mà tìm ra: “Khơng tức giận vì muốn biết
thì khơng gợi mở cho, khơng bực vì khơng rõ thì khơng bày vẽ cho. Vật có bốn góc, bảo cho
biết một góc mà khơng suy ra ba góc kia thì khơng dạy nữa” [Lịch sử giáo dục thế giới, 47,
tr.60].
- Nhà sư phạm vĩ đại J.A.Comenxki (1592-1670) đã đưa ra những yêu cầu cải tổ nền
giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của người học. Theo ông, dạy
học phải làm như thế nào để người học tự tìm tịi, suy nghĩ để tự nắm bắt lấy bản chất của sự
vật và hiện tượng.
- Các nhà giáo dục ở thế kỉ XVIII và XIX như Pextalodi (1746-1827), Disterverg
(1790-1886), Usinxki (1824-1870)... đã nhấn mạnh cách làm cho người học giành lấy kiến
thức bằng con đường tự khám phá, tự tìm tịi.
Những tư tưởng về vấn đề học trong quan hệ với hoạt động dạy của các nhà giáo dục
tiền bối đến nay vẫn còn giá trị, đặt cơ sở vững chắc cho sự phát triển của nền giáo dục hiện
đại, gợi ra một hướng đi đúng đắn khi nghiên cứu về hoạt động học của người học, đặc biệt
là học ngoài giờ lên lớp.
- Các nhà giáo dục hiện đại đã đi sâu nghiên cứu khoa học giáo dục và tiếp tục khẳng
định vai trò của hoạt động học trong quan hệ với hoạt động dạy, tìm kiếm những cách thức

nghiên cứu trong cơng trình như động cơ, mục đích học tập, hứng thú học tập bộ môn,... hay
những nguyên nhân khách quan như tài liệu tham khảo, việc tổ chức thi cử...
Nhìn chung các tác giả trong và ngồi nước đều xem học và học ngoài giờ lên lớp như
là bộ phận của hoạt động dạy học, một thành phần khơng thể thiếu được của q trình dạy
học, mà đỉnh cao của học là tự tìm tịi, tự khám phá.
● Nghiên cứu về quản lý hoạt động học ngoài giờ lên lớp cũng được bàn đến trong đề
tài : “Quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực tự học cho học sinh trung học phổ
thông tại thành phố Hồ Chí Minh” (Luận văn Thạc sĩ của Lê Khắc Mỹ Phượng) [40]; “Các
biện pháp quản lý hoạt động tự học của học viên trường sĩ quan lục quân 2” (Luận văn Thạc
sĩ Giáo dục học của Trần Bá Khiêm) [19]; “Thực trạng công tác quản lý của Hiệu trưởng đối


với hoạt động tự học của học sinh THPT, huyện Thốt Nốt, Cần Thơ” (Luận văn Thạc sĩ Giáo
dục học của Lê Thị Thanh Tú) [51].
Các cơng trình nghiên cứu trên đã đề cập đến việc quản lý hoạt động tự học của học
sinh, sinh viên trong quan hệ với hoạt động dạy, mà cụ thể là phương pháp dạy học; đến các
biện pháp quản lý của Hiệu trưởng để nâng cao năng lực tự học của học sinh; hoặc các biện
pháp nặng về mặt hành chính trong việc quản lý hoạt động tự học của học viên.

1.2. Hoạt động học ngoài lớp của sinh viên
1.2.1. Khái niệm hoạt động học tập ngoài lớp của sinh viên
Trong cuộc sống thường ngày, từ lúc lọt lòng mẹ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, lúc
nào con người cũng học được một cái gì đó – học trong cuộc sống. Cách học này chỉ đưa lại
cho con người những tri thức tiền khoa học. Song thực tiễn đòi hỏi con người phải có những
tri thức khoa học thực sự, năng lực thực tiễn mới thì phương thức học trong cuộc sống trở
nên bất lực không đáp ứng được. Một phương thức đặc thù (phương thức nhà trường) mới có
khả năng tổ chức để cá nhân tiến hành một hoạt động đặc biệt, gọi là hoạt động học. Vậy,
“học” là khái niệm dùng để chỉ việc học diễn ra theo phương thức hàng ngày, còn “hoạt động
học” là khái niệm dùng để chỉ việc học diễn ra theo phương thức đặc thù nhằm lĩnh hội
những hiểu biết mới, kỹ năng, kỹ xảo mới. Trong luận văn này, chúng tơi nói đến hoạt động

- Ý chí trong học tập phải mạnh để giúp sinh viên vượt qua những khó khăn trên con
đường áp dụng phương pháp học, theo đuổi việc học đến cùng.
- Tự kiểm tra, tự đánh giá và tự điều chỉnh thường xuyên hoạt động học để đạt được
mục đích, nhiệm vụ học tập được giao.
Từ những đặc điểm trên, theo chúng tơi có thể hiểu học tập ở ngoài lớp là một bộ phận
của hoạt động dạy học mà ở đó người học tự lực giải quyết các nhiệm vụ học tập nhằm vận
dụng tri thức hình thành kỹ năng, củng cố và bổ sung, hệ thống hóa tri thức, kỹ năng, hoặc
chuẩn bị cho việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng mới ở trên lớp dưới sự hướng dẫn gián tiếp của
giảng viên.
1.2.2. Ý nghĩa của học tập ngoài lớp
- Học tập ở ngoài lớp giúp sinh viên vận dụng tri thức, củng cố, đào sâu kiến thức,
khái quát và hệ thống hoá kiến thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo.
- Học tập ngồi lớp cho phép người học tiến theo nhịp độ riêng phù hợp với năng lực
của bản thân, điều đó giúp người học chủ động lựa chọn và quyết định một phong cách học
hiệu quả.


- Học tập ngoài lớp giúp sinh viên tự lực nắm vững tri thức, kĩ năng kĩ xảo về nghề
nghiệp tương lai, họ tự vận động từng bước biến vốn kinh nghiệm lịch sử của loài người
thành vốn tri thức riêng của cá nhân - vai trò chủ thể hoạt động nhận thức được thể hiện ở
trình độ cao.
- Học tập ngồi lớp hình thành và rèn luyện năng lực, hứng thú, thói quen, phương
pháp tự học thường xuyên.
- Học ngồi lớp hình thành niềm tin khoa học, rèn luyện ý chí phấn đấu, tính kiên trì,
óc phê phán, bồi dưỡng lòng say mê nghiên cứu khoa học...
- Học tập ngoài lớp cho phép sinh viên tự kiểm tra mức độ lĩnh hội kiến thức, kỹ năng
làm cơ sở cho tự điều chỉnh hoạt động học và tự học của chính sinh viên.
Vì những lẽ trên, việc khơi dậy, phát triển khả năng học tập ngoài lớp cho sinh viên sẽ
tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có của mỗi người, kết quả học tập sẽ được
nâng cao.

với họ, nhờ vậy họ có thể làm rõ ràng được những ý mà họ chưa hiểu và bổ sung thêm các
chi tiết mà họ đã bỏ sót. Khi ôn lại bài học, sinh viên nên tiến hành theo các bước sau:
- Nhớ lại tư tưởng chủ đạo của bài giảng (bài giảng nói về vấn đề gì, giải quyết vấn đề
gì và giải quyết như thế nào).
- Nhớ lại cấu trúc các phần, các mục và từng nội dung trong mỗi mục. Chỉ giở vở xem
lại khi đã cố gắng mà vẫn không nhớ lại được.
* Bổ sung bài ghi bằng các thông tin từ nhiều nguồn khác nhau
- Sau khi đã nhớ lại cấu trúc của bài học và những nội dung quan trọng, sinh viên cần
tìm đọc những tài liệu liên quan đến bài học được giảng viên chỉ định và qua trao đổi với bạn
khi học nhóm, làm bài tập thực hành ứng dụng để chỉnh lý, bổ sung, mở rộng, đào sâu cho
nội dung bài học. Công việc này giúp sinh viên hiểu đúng bản chất khái niệm.
- Nhận diện cấu trúc của từng phần và toàn bài, giúp sinh viên tái nhận bài học dưới
dạng cô đọng. Đây là bước khái quát hoá, hệ thống hoá khái niệm, bỏ đi những dấu hiệu
khơng bản chất như những biện luận, ví dụ minh họa mà đã được đưa vào để thông hiểu khái
niệm. Sinh viên có thể sử dụng sơ đồ hoặc bảng hệ thống để hệ thống hoá các khái niệm
trong một bài, một chương hoặc nhiều chương,…
* Dựng lại bài học
Là khâu mở rộng khái niệm với tất cả các góc cạnh, bình diện phong phú của nó.
Chúng tơi đưa ra hai mức sau:
- Dựng lại một khái niệm (chúng tôi gọi là “viết các đoạn văn), sinh viên có thể chọn
một khái niệm cơ bản, quan trọng trong bài học và viết về khái niệm đó với tất cả hiểu biết
liên quan đến khái niệm bằng ngơn ngữ của chính họ – viết đoạn văn.
- Dựng lại bài học. Khi sinh viên đã hiểu đúng bản chất các khái niệm và có kỹ năng
viết, họ có thể dựng lại cả bài học bằng tất cả những thông tin liên quan đến nội dung bài học


mà sinh viên không chỉ tiếp thu từ bài diễn giảng trên lớp, mà cịn bao gồm cả những thơng
tin liên quan đến bài học được sinh viên tiếp thu từ nhiều nguồn khác nhau.
Như vậy, những việc làm trên khơng chỉ liên quan đến q trình ghi nhớ tri thức, củng
cố tri thức hoặc xác lập kết quả nắm vững tri thức bài học của sinh viên, mà còn liên quan

- Bài tập nghiên cứu của sinh viên cao đẳng, đại học phải đảm bảo các yêu cầu sau
đây:
+ Phải giải quyết được các nhiệm vụ nghiên cứu của một đề tài nhỏ về mặt lý luận
hoặc thực tiễn, hoặc kết hợp cả hai mặt đó.
+ Phải đảm bảo tính logic khoa học, được trình bày rõ ràng, sáng sủa, sạch đẹp, đảm
bảo yêu cầu về nội dung và hình thức của một bài tập nghiên cứu.
- Quy trình thực hiện bài tập nghiên cứu
+ Lựa chọn và chính xác hố đề tài.
+ Lập kế hoạch nghiên cứu gồm: xác định mục tiêu (nhiệm vụ nghiên cứu), vạch ra
những nội dung cụ thể, lựa chọn phương pháp thực hiện, và các bước thực hiện.
+ Đọc các tài liệu tham khảo và ghi chép theo các mục mà sinh viên đã xác định; khảo
sát thực trạng (nếu có) giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu.
+ Xử lý số liệu đã thu thập được (tóm tắt các ghi chép, xử lý số liệu thực tế bằng toán
thống kê).
+ Viết kết quả nghiên cứu, gồm viết nháp lời giới thiệu; viết nháp nội dung bài tập;
viết nháp phần kết luận của bài tập; xem xét lại những gì đã viết, kiểm tra lại tính liên kết,
chặt chẽ rõ ràng và đảm bảo rằng đã trả lời được những yêu cầu mà bài tập đặt ra; sắp xếp lại
và kiểm tra lỗi chính tả, lỗi kỹ thuật và in bản cuối.
Rõ ràng là quy trình làm bài tập nghiên cứu đã cho phép sinh viên được rèn luyện
hàng loạt các kỹ năng học tập đã nêu và phân tích ở những phần trên (như kỹ năng đọc sách
và ghi chép khi đọc sách; kỹ năng tóm tắt từ các ghi chép; kỹ năng sắp xếp các ý tưởng và
liên kết các khái niệm theo một cấu trúc mới hợp lý với nhiệm vụ học tập; kỹ năng dựng lại
một chủ đề bằng ngôn ngữ của cá nhân và kỹ năng quản lý thời gian và quản lý việc học
tập).

 Chuẩn bị đề cương thảo luận nhóm hay đề cương seminar
- Xác định được cấu trúc của chủ đề.
- Xác lập kế hoạch thực hiện chủ đề (nội dung, các bước thực hiện, thời gian và
phương tiện).
- Thu thập thông tin liên quan đến chủ đề từ nhiều nguồn khác nhau (bài giảng trước

Việc đọc sách đem lại nhiều lợi ích cho sinh viên như bổ sung, mở rộng, đào sâu
những kiến thức đã lĩnh hội thơng qua bài giảng trên lớp; hồn thành các nhiệm vụ học tập;
tiếp cận với sự phát triển của khoa học và nghề nghiệp tương lai; bồi dưỡng tư tưởng, tình
cảm, hứng thú học tập và nghiên cứu; nâng cao trình độ văn hố cá nhân… Để hoạt động này
có kết quả, sinh viên cần lưu ý các yêu cầu sau:


- Xác định mục đích đọc sách và lựa chọn sách đọc
Mục đích đọc sách chi phối tồn bộ q trình đọc sách như tránh cho sinh viên đọc
sách tràn lan, tốn thời gian, công sức và không đem lại hiệu quả học tập, qui định cả hướng
khai thác thông tin trong cuốn sách. Có mục đích lâu dài và mục đích trước mắt như tìm
kiếm luận cứ hay sự khẳng định cho một kết luận hay một tư tưởng; tìm kiếm thơng tin để
hồn thành một nhiệm vụ học tập nào đó; tích luỹ thơng tin để viết bài tham luận khoa học
hay làm luận văn tốt nghiệp...
- Lựa chọn sách đọc
Trong điều kiện bùng nổ thông tin như hiện nay, sách, báo, tài liệu tham khảo vô cùng
phong phú. Để nhanh chóng tìm đúng cuốn sách cần tìm, sinh viên có thể căn cứ vào:
+ Nhiệm vụ học tập do giáo viên bộ môn nêu ra khi học một chương, một phần hay
mơn học.
+ Sinh viên phải có kỹ năng sử dụng các loại thư mục sách ở các thư viện như tìm
sách theo chủ đề, tìm theo tên tác giả, tên sách. Hiện nay “thư viện điện tử” được sử dụng
trong một số trường đại học, sinh viên cịn phải có kỹ năng tìm sách qua máy tính vừa nhanh
và hiệu quả hơn nhiều.
+ Các loại sách mà sinh viên cần đọc phục vụ cho việc học tập của bản thân như sách,
báo, tài liệu tham khảo của mơn học, các cơng trình nghiên cứu khoa học liên quan đến
chuyên ngành sinh viên đang học, các văn bản quy định về giáo dục và đào tạo, tạp chí
chuyên ngành và sách tra cứu.
* Đọc sách nghiên cứu phục vụ cho việc học tập ngoài lớp nên tuân theo các bước sau:
Bước 1- Đọc lướt nhằm tìm hiểu khái quát nội dung chung của cuốn sách một cách
nhanh chóng, trên cơ sở ấy mà đánh giá xem có nên dành thêm thời gian để đọc chi tiết

kiểm tra.
- Nâng cao khả năng tư duy và ngôn ngữ của người học.
- Động viên sự chú ý, giảm mệt mỏi và kiểm tra mức độ lĩnh hội tài liệu ở người đọc.
Vì thế, tuỳ theo mục đích nghiên cứu, tuỳ theo giá trị kiến thức và nội dung cuốn sách
mà chọn những hình thức ghi chép khác nhau như ghi trích dẫn, ghi tóm tắt, ghi theo luận đề,
đề cương, ghi tự do.
Khi ghi chép thông tin từ sách và tài liệu đọc cần ghi tên sách, tên tác giả, số trang tài
liệu trích dẫn để sử dụng trong các sản phẩm học tập của bản thân.
1.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động học ngoài lớp


Hoạt động tập ngoài lớp là một bộ phận của hoạt động dạy học nên nó cũng chịu ảnh
hưởng, chi phối bởi các yếu tố thuộc cấu trúc của hoạt động dạy học như nội dung, người
học, người dạy và môi trường.

 Nội dung môn học
Nội dung môn học là hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ mà sinh viên cần
lĩnh hội trong quy trình đào tạo. Nội dung môn học mới lạ, gắn với thực tế cuộc sống, thực
tiễn nghề nghiệp trong tương lai, nội dung môn học không quá khô khan, trừu tượng, mà
được thiết dưới dạng các tình huống có vấn đề sẽ có tác dụng thu hút hứng thú, kích thích
tính tìm tòi khám phá ở sinh viên.
 Người học (sinh viên)
Sinh viên – chủ thể của hoạt động, người chịu trách nhiệm chính đối với hoạt động
ngồi giờ lên lớp. Vì thế, các yêu tố bên trong như động cơ, hứng thú học tập, trình độ phát
triển trí tuệ, tri thức, kỹ năng được hình thành trước đó, cả phong cách học, cá tính đều ảnh
hưởng đến hoạt động học và kết quả học tập ngoài giờ lên lớp.
Các yếu tố bên ngoài sinh viên như thời gian dành cho việc học ngoài lớp, điều kiện
kinh tế và các phương tiện, điều kiện phục vụ cho hoạt động học ngoài lớp đều có tác động
đến việc duy trì và đảm bảo cho hoạt động học tập ngồi lớp có kết quả.


1.3. Quản lý hoạt động học ngoài lớp
1.3.1. Khái niệm quản lý hoạt động học ngoài lớp
Hoạt động học tập ngoài lớp là một bộ phận của hoạt động dạy học, nên quản lí hoạt
động học tập ngồi lớp mang đầy đủ các đặc điểm, chức năng, tính chất của hoạt động quản
lý của nhà trường nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng như chủ thể, đối tượng
quản lý, nội dung quản lý, phương pháp quản lý, phương tiện quản lý,… Vì thế, chúng tơi
hiểu quản lý hoạt động học tập ngoài lớp của sinh viên là những tác động có ý thức của chủ
thể quản lý đến sinh viên và hoạt động học tập của sinh viên nhằm đạt được các mục tiêu
dạy học của nhà trường.
- Chủ thể quản lý hoạt động học tập ngoài lớp của sinh viên bao gồm nhiều bộ phận
theo quan hệ dọc và quan hệ ngang, đó là Ban giám hiệu, Tổ bộ mơn, phịng Đào tạo, đội
ngũ giảng viên, phịng Cơng tác sinh viên, Đoàn thanh niên, giáo viên chủ nhiệm,… Mỗi bộ
phận, thành viên của tổ chức quản lý này đảm nhận những vai trị, vị trí khác nhau. Cụ thể:
 Ban giám hiệu chỉ đạo chung, huy động và thống nhất các nguồn lực, nhân lực tác
động đến hoạt động học tập ngồi lớp của sinh viên. Phân cơng trách nhiệm quản lý hoạt
động học ngoài lớp đến từng phòng ban, cá nhân. Ban giám hiệu quản lý hoạt động học
ngoài lớp của sinh viên theo kế hoạch.
 Giáo viên bộ môn là người quản lý trực tiếp hoạt động học tập ngoài lớp của sinh
viên bằng hệ thống nhiệm vụ học tập; gợi ý các nguồn tài nguyên thực hiện các nhiệm vụ
học ngoài lớp, phối hợp với các lực lượng khác đôn đốc, kiểm tra hoạt động học ngoài lớp,


đặc biệt đánh giá kết quả hoạt động ngoài lớp, làm cho hoạt động này trở nên có ý nghĩa đối
với sinh viên nhằm duy trì động cơ, hứng thú học tập ngồi lớp ở họ.
 Phịng Đào tạo, Đồn thanh niên, Ban quản lý ký túc xá và giáo viên chủ nhiệm là
những lực lượng phối hợp tổ chức, đôn đốc, và tạo điều kiện về cơ sở vật chất, về thời gian
giúp sinh viên thực hiện có kết quả hoạt động học ngoài lớp.
 Các nguồn lực khác như phịng Kế hoạch tài chính, phịng Quản trị thiết bị, Thư
viện hỗ trợ và phục vụ hoạt động học tập ngoài lớp của SV.
- Đối tượng chịu sự quản lý hoạt động học ngoài lớp là sinh viên. Tuy nhiên quản lý

Với chức năng này, Ban giám hiệu phân công nhiệm vụ quản lý cụ thể cho từng
người, từng bộ phận đối với học tập ngoài lớp của sinh viên. Ví dụ như giảng viên quản lý
theo nhiệm vụ và kết quả học ngồi lớp; phịng Đào tạo, phịng Cơng tác học sinh - sinh
viên, ban Quản lý ký túc xá quản lý thời gian và q trình học ngồi lớp của SV, Thư viện
lên lịch hoạt động đáp ứng yêu cầu học ngoài lớp của sinh viên, phòng Thiết bị kiểm tra hệ
thống mạng, máy vi tính phục vụ sinh viên khai thác thơng tin phục vụ học ngoài lớp,…
 Kiểm tra là hoạt động của chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý thơng qua
một cá nhân, nhóm hay tổ chức để xem xét thực tế, đánh giá, giám sát thành quả hoạt động,
đồng thời uốn nắn, điều chỉnh các sai sót lệch lạc nhằm thúc đẩy hệ thống sớm đạt được mục
tiêu đã định. Để tiến hành kiểm tra, cần phải có các tiêu chuẩn, nội dung và phương pháp
kiểm tra, dựa trên các nguyên tắc khoa học để hình thành hệ thống kiểm tra thích hợp.
Chẳng hạn, giảng viên kiểm tra học ngoài lớp của sinh viên bằng cách đòi hỏi và tạo
điều kiện cho sinh viên huy động những kiến thức lĩnh hội từ học ngoài lớp như đọc sách,
thảo luận nhóm vào việc xây dựng bài học mới ở trên lớp hay vào làm bài kiểm tra, kiểm tra
các sản phẩm học ngoài lớp như đề cương thảo luận, biên bản thảo luận nhóm, các bài tập,
bài tiểu luận và các sản phẩm khác,… Ban Quản lý ký túc xá quản lý học ngoài lớp của sinh
viên theo nội quy tự học,
1.3.2.Nội dung quản lý hoạt động học ngoài lớp của sinh viên
Quản lý hoạt động học ngồi lớp chúng tơi tiếp cận quan điểm quản lý theo mục tiêu
(MOB), có nghĩa là quản lý mục tiêu, quản lý quá trình và những điều kiện, phương tiện tác
động đến quá trình và quản lý sản phẩm học ngoài lớp của sinh viên.

 Quản lý mục tiêu hoạt động học tập ngoài lớp của sinh viên
Hoạt động nào cũng phải xác định mục đích rõ ràng từ đó mới lựa chọn nội dung,
phương pháp, phương tiện và các điều kiện thực hiện hoạt động đạt đến mục tiêu đã xác
định.


Mục tiêu chính của hoạt động học ngồi lớp là bổ sung, hoàn thiện, đào sâu kiến thức
học ở trên lớp, củng cố, hệ thống hóa kiến thức đã lĩnh hội, vận dụng kiến thức học trên lớp



+ Ôn tập phục vụ cho kiểm tra và thi như ôn tập chuẩn bị kiểm tra giữa học phần,
kiểm tra hết học phần, thi tốt nghiệp.
+ Thực hiện bài tập nghiên cứu, khóa luận tốt nghiệp như bài tiểu luận, bài tập lớn,
khóa luận tốt nghiệp.
- Từ những nội dung học ngoài lớp ở trên, Ban giám hiệu yêu cầu từng giảng viên xác
định hệ thống nhiệm vụ học ngồi lớp cho từng nội dung, trong đó cần làm rõ:
+ Hệ thống các nhiệm vụ học ngoài lớp cho từng bài, chương và phần.
+ Gợi ý các nguồn tài nguyên phục vụ học ngoài lớp của sinh viên.
+ Mức độ đạt đến, thời gian đạt đến của từng nhiệm vụ học ngoài lớp để sinh viên
phân bổ thời gian, đầu tư cơng sức phù hợp.
+ Tiêu chí, chuẩn đánh giá cho kết quả học ngoài lớp theo các nhiệm vụ học ngoài lớp
như đề cương thảo luận, tham luận seminar, bài tiểu luận, bài tập nghiên cứu và giá trị
của từng kết quả trong kết quả chung của môn học.
+ Các nguồn lực trợ giúp sinh viên học ngoài lớp như các lực lượng tham gia phối hợp
quản lý, cơ sở vật chất,…
- Quản lý hình thức học tập ngoài lớp của sinh viên. Căn cứ vào yêu cầu của nhiệm vụ
học tập và mức độ đạt đến của nhiệm vụ (kiến thức ở tầng bậc cá nhân hay tầng bậc nhóm)
mà tổ chức cho sinh viên học tập cá nhân - sinh viên độc lập thực hiện các nhiệm vụ học tập
ở Thư viện, Ký túc xá hay phịng học; học tập theo nhóm - sinh viên có thể học tập theo
nhóm để thảo luận, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm nhằm hoàn thành nhiệm vụ học tập cá
nhân hoặc nhiệm vụ học tập của nhóm mà giảng viên đã giao cho.
- Dựa theo hình thức học ngồi lớp mà Ban giám hiệu yêu cầu giảng viên bộ mơn can
thiệp, giúp đỡ trực tiếp hoặc trước đó về phương pháp học ngoài lớp như phương pháp đọc
sách, phương pháp học nhóm, phương pháp viết bài khoa học.

 Quản lý thời gian, không gian, điều kiện, phương tiện học ngoài lớp
- Thời gian học ngoài lớp là thời gian được xác định như sau: Quỹ thời gian trong
ngày trừ đi thời gian học trên lớp, thời gian ăn, ngủ, sinh hoạt cá nhân, tập luyện sức khỏe

đọc sách, các câu trả lời cho các câu hỏi khi ôn tập, các bài tập đã giải, các đề cương thảo
luận, tham luận seminar, …
- Ban giám hiệu, tổ bộ môn yêu cầu giảng viên tạo mọi điều kiện để sinh viên có cơ
hội thể hiện, ứng dụng kết quả học tập ngoài lớp vào quá trình học tập trên lớp như sự liên
kết kiến thức cũ với kiến thức mới, sự giải thích kiến thức mới bằng các thơng tin từ nhiều
nguồn, sự chuẩn bị bài đầy đủ và có chất lượng,…
- Ban giám hiệu yêu cầu các trưởng bộ môn và giảng viên khi kiểm tra, đánh giá tri
thức, kỹ năng, kỹ xảo của sinh viên bao gồm cả những kiến thức thuộc những nội dung học
ngoài lớp và cho phép sinh viên sử dụng các thông tin tiếp thu từ nhiều nguồn khác nhau vào
làm bài kiểm tra và thi.


 Quản lý phối hợp các lực lượng tham gia quản lý học ngoài lớp của sinh viên
Học ngoài lớp của sinh viên liên quan đến nhiều lực lượng như giảng viên bộ mơn,
phịng Đào tạo, phịng Thiết bị, GVCN, ban Quản lý ký túc xá, phịng Cơng tác sinh viên,
Đồn thanh niên,… Vì thế cần có sự phối hợp, thống nhất các lực lượng tham gia quản lý
học ngoài lớp của sinh viên.
- Ban giám hiệu chịu trách nhiệm chỉ đạo chung, phân công, điều phối, nhắc nhở cá
nhân, bộ phận, lực lượng tham gia quản lý học ngoài lớp theo chức năng, vai trị của mình.
- Giảng viên có trách nhiệm chính trong việc xây dựng hệ thống các nhiệm vụ học
ngoài lớp, giúp đỡ sinh viên học ngoài lớp, kiểm tra và đánh giá học ngoài lớp của sinh viên,
và phối hợp với các lực lượng theo theo dõi, đôn đốc sinh viên thực hiện các nhiệm vụ học
ngồi lớp.
- Phong Đào tạo, phịng Trang thiết bị, Thư viện nhà trường chịu trách nhiệm tạo điều
kiện về cơ sở vật chất, thiết bị, phương tiện phục vụ học ngồi lớp của sinh viên.
- GVCN, phịng Quản lý ký túc xá, phịng Cơng tác học sinh – sinh viên, Đồn thanh
niên có trách nhiệm hỗ trợ, đơn đốc, động viên sinh viên thực hiện tốt học ngoài lớp.
Tiểu kết chương 1
Học ngoài lớp là một bộ phận của hoạt động dạy học với mục đích chính là vận dụng
kiến thức, hình thành kỹ năng, củng cố và hệ thống hóa tri thức, kỹ năng làm cho kiến thức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status