<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>Phân tích tác phẩm Người lái đị sơng đà</b> <b>Ngữ văn 12</b>
<b>Dàn ý Phân tích tác phẩm Người lái đị sơng đà</b>
<b>I. Mở bài</b>
- Tác giả Nguyễn Tn: có phong cách nghệ thuật độc đáo, cái tơi đầy cá tính,
một nhà văn tài hoa un bác, ln khám phá thế giới ở bình diện văn hóa thẩm
mĩ.
- Tác phẩm được sáng tác trong gian đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền
Bắc, với nội dung ngợi ca vẻ đẹp của con người và thiên nhiên Tây Bắc.
<b>II. Thân bài</b>
<b>1. Lời đề từ</b>
- Lời đề từ “Đẹp vậy thay ...”: thể hiện xúc cảm mãnh liệt trước vẻ đẹp của
dịng sơng và con người gắn bó với dịng sơng, thấy được cảm hứng chủ đạo là
ngợi ca.
- Lời đề từ tiếp: “Chúng thủy ...”: thể hiện cá tính độc đáo của của con sơng
Đà.
<b>2. Hình tượng dịng sơng Đà</b>
<b>a. Dịng sơng “hung bạo”</b>
- “Cảnh đá bờ sơng dựng vách thành”: lịng sơng hẹp, “bờ sơng dựng vách
thành”, “đúng ngọ mới có mặt trời”, chỗ “vách đá ... như một cái yết hầu”.
- Ở mặt ghềnh Hát Loóng: “nước xơ đá, đá xơ sóng, sóng xơ gió” một cách hỗn
độn, lúc nào cũng như “đòi nợ suýt” những người lái đó.
- Về lai lịch: tác giả xóa mờ xuất thân, tập trung miêu tả ngoại hình: “tay lêu
nghêu ... chất mun” để ngợi ca những con người vơ danh âm thầm cống hiến.
- Cơng việc: lái đị trên sông Đà, hằng ngày đối diện với con thủy quái hung
bạo..
- Tài năng và tâm hồn:
+ Là người từng trải, hiểu biết và thành thạo trong nghề lái đò: “trên sông Đà
ông xuôi ngược hơn một trăm lần”, “nhớ tỉ mỉ ... những luồng nước”, ...
+ Là người mưu trí dũng cảm, bản lĩnh và tài ba: ung dung đối đầu với thác dữ
“nén đau giữ mái chèo, tỉnh táo chỉ huy bạn chèo ...”, “nắm chắc binh pháp của
thần sông thần núi”, động tác điêu luyện “cưỡi đúng ngay trên bờm sóng,
phóng thẳng thuyền vào giữa thác ...”
+ Là người nghệ sĩ tài hoa: ưa những khúc sông nhiều ghềnh thác, khơng thích
lái đị trên khúc sơng bằng phẳng, coi việc chiến thắng “con thủy quái” là
chuyện thường.
- Khái quát về phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân.
- Tổng kết nghệ thuật đặc sắc: ngôn ngữ điêu luyện, tưởng tượng độc đáo, vận
dụng tri thức nhiều ngành nghệ thuật, xây dựng thành cơng hình tượng sơng Đà
và ơng lái đị.
- Khái qt nội dung: tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp của con người lao động, vẻ đẹp
thiên nhiên đất nước.
hiểm nhưng cũng mang vẻ đẹp hùng vĩ thơ mộng say đắm lòng người. Vẻ đẹp
của con người nơi đây được ơng ví như “chất vàng mười đã qua thử lửa” họ là
người dân lao động có trí tuệ, có lịng dũng cảm và sức mạnh chế ngự thiên
nhiên.
Nguyễn Tuân dẫn dụ người đọc cuốn theo cảm giác vừa sợ hãi tột cùng vừa
như đam mê, thích thú. Bằng sức tưởng tưởng phong phú của mình, lối hành
văn nhạy bén độc đáo của mình con sơng Đà hung bạo hiện lên trong lòng
người đọc với niềm đam mê hãi hùng và thích thú vơ cùng. Cái hung bạo được
nhà văn miêu tả mở đầu bằng cảnh “đá bờ sông dựng vách thành”, nghệ thuật
ẩn dụ những khối đá bờ sơng được Nguyễn Tn ví như những thành trì kiên
cố, vũng chãi và đầy rẫy sự nguy hiểm, bí ẩn, đe doạ trực chờ. Nhà văn miêu tả,
mặt sơng lúc ấy “đúng ngọ” mới có mặt trời, có vách đá “chẹt lịng sơng như
một cái yết hầu”, có quãng tưởng như con hươu, con nai nhảy từ bờ này qua bờ
kia. Các liên tưởng tưởng chừng như bâng quơ, ngẫu nhiên nhưng lại chứa
đựng đầy dụng ý nghệ thuật của tác giả. Chỗ sông phải đến tận giữa trưa, khi
mặt trời lên cao nhất mới có ánh nắng chiếu vào, động từ mạnh “chẹt” rất biểu
cảm xen lẫn với nghệ thuật so sánh “như một cái yết hầu”, hai bên bờ con hươu
con nai có thể nhảy qua được. Những hình ảnh độc đáo được tác giả khéo léo
lồng vào, đã tạo cho người đọc được độ cao của vách đá, độ hẹp của lịng sơng.
Ngồi trong khoang thuyền đi qua khúc sông ấy “mùa hè cũng thấy lạnh”, tác
giả miêu tả thông qua cảm giác, mùa hè nóng nực oi bức nhưng khi qua đây,
chính cái khung cảnh choáng ngợp, kỳ vĩ, chật hẹp đã làm cho ta cảm thấy sợ
hãi và nhỏ bé giữa giữa thiên nhiên.
Cảnh hung bạo của sơng Đà cịn được thể hiện ở mặt ghềnh Hát Loóng. Hàng
ngàn cây số “nước xơ đá, đá xơ sóng, sóng xơ gió”. Một loạt thanh sắc xuất
hiện tạo cho ta cảm giác sóng gió ngày càng mạnh mẽ và cao dần. Nghệ thuật
điệp từ, điệp cấu trúc nối tiếp nhau, động từ mạnh “xô” được lặp lại nhiều lần.
Sức mạnh của thiên nhiên rất khủng khiếp, rất lạnh lùng, nó “gùn ghè”, hầm hè
đá hậu vệ đang canh gác. Qua phong cách miêu tả độc đáo, sinh động, giàu
tưởng tượng của Nguyễn Tuân con sơng Đà hiện lên thật hung bão, dữ tợn, nó
như một “loài thuỷ quái khổng lồ” tâm địa vừa độc ác, vừa nguy hiểm, là kẻ
thù số một của con người trong cuộc chiến khơng cân sức.
Tuy nhiên cũng có lúc con sông Đà trở về với vẻ dịu dàng, trữ tình thơ mộng
của nó. Vẻ đẹp Đà giang được miêu tả qua nhiều điểm nhìn, nhiều góc cạnh,
khơng gian và thời gian khác nhau. Từ trên cao nhìn xuống, con sơng Đà uốn
lượn, mềm mại như áng tóc của người con gái Tây Bắc kiều diễm, xinh đẹp.
Dịng sơng Đà được nhà văn bằng những hình ảnh rất biểu cảm, gây ấn tượng
sâu sắc, “tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây
trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn khói núi Mèo
đốt nương xuân”. Màu nước sông Đà biến đổi theo từng mùa khác nhau, mỗi
mùa mang một vẻ đẹp độc đáo, riêng biệt: Mùa xn dịng sơng “xanh ngọc
bích”, mùa thu “lừ lừ chín đỏ”. Con sông như người thiếu nữ xinh đẹp, mơ
mộng đang tuổi xuân thì tràn đầy niềm kiêu hãnh nên tính cách đơi phần khó
hiểu, thay đổi thất thường.
Sơng Đà dịu dàng “như một cố nhân”, cảnh sắc bên bờ thật êm đềm tươi đẹp.
Sau chuyến đi dài ngày, ông nhìn ngắm sơng Đà thật gợi cảm, thơ mộng như
“màu nắng tháng ba Đường thi”, bờ sông đầy những chuồn chuồn bươm bướm.
Người cố nhân ấy giờ đây yên ả lạ thường như đang lặng nghe âm thanh của
thời gian, thưởng thức cảnh sắc hai bên bờ sông. Bờ sông Đà hoang sơ như
nhuộm màu cổ tích vừa trù phú tràn trề nhựa sống của phù sa bồi đắp. Những
nương ngô “nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa”, ngọn cỏ “đang ra những nõn
búp”, xa xa là vài con hươu nhai cỏ. Sông Đà lúc này như bờ tiền sử mang bên
mình những nỗi niềm cổ tích xa xưa, hoài niệm.
Trong tác phẩm của Nguyễn Tuân làm sao có thể thiếu đi bóng dáng con người.
Thiên nhiên càng rộng lớn, hùng vĩ, dữ dội bao nhiêu thì càng làm nổi bật lên
tử hơn, cửa sinh nằm lệch sang một phía hữu ngạn con sơng. Tác giả sử dụng
nghệ thuật so sánh cưỡi lên con sông Đà phải “cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ”.
Nắm được cái bờm sóng đúng luồn rồi, khơng phút nao núng, ơng đị “ghì cặt
cương lái”, bám chặt lấy luồng nước cố sức phóng nhanh vào phía cửa sinh,
“lái miết một đường chéo về phía cửa ấy”, bỏ lại sau lưng những cửa tử và
những hịn đá vẫn “khơng ngừng khiêu khích”.
bằng sự gan dạ, tài trí, kinh nghiệm của mình ơng đị đã vượt hết dịng thác một
cách an toàn, giành chiến thắng trong cuộc chiến không khoan nhượng với kẻ
thù hung bạo.
Nguyễn Tuân xây dựng hình tượng nhân vật người lái đị sơng Đà bằng nhiều
nghệ thuật đặc sắc. Tác giả sử dụng từ ngữ của nhiều lĩnh vực: Binh pháp, võ
thuật, thể thao, âm nhạc…, các biện pháp tu từ so sánh, nhân hoá cùng với nhịp
điệu câu văn hài hồ sinh động. Ơng đã khắc hoạ thành cơng hình ảnh người lái
đị sơng Đà trí tuệ, tài hoa và bản lĩnh, qua đó ca ngợi con người lao động Tây
Bắc mang vẻ đẹp và những phẩm chất cao q.
Đoạn trích người lái đị Sông Đà của Nguyên Tuân là một bài tuỳ bút có giá trị
vơ cùng to lớn, tác giả đã thành cơng trong nghệ thuật xây dựng hình tượng,
khẳng định và ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên cùng với con người miền Tây bắc
xa xơi. Đồng thời thể hiện tình cảm yêu mến, trân trọng, sự gắn bó tha thiết,
sâu nặng của Nguyễn Tuân đối với quê hương, đất nước, con người Việt Nam.
<b>Phân tích tác phẩm Người lái đị sơng đà mẫu 2</b>
Tây Bắc là một mảnh đất có nhiều duyên nợ với nhiều nhà văn, nhà thơ. Mỗi
nhà văn, nhà thơ lại tái hiện và khắc họa hình ảnh Tây Bắc ở những góc độ
khác nhau. Trong đó, Nguyễn Tuân đã khám phá được vẻ đẹp thiên nhiên nơi
đây, nhận thấy được “chất vàng 10” trong tâm hồn con người nơi đây. Tùy bút
Khung cảnh thiên nhiên ven sông Đà thật giàu chất thơ. “Cảnh ven sông ở đây
lặng tờ”, “một lương ngô…”, Thật là một bức tranh dạt dào nguồn nhựa sống,
lam mê đắm hồn người.” Bờ sơng hoang dại…cỏ tích tuổi xưa”. Với hình ảnh
so sánh tài hoa, độc đáo của Nguyễn Tuân đã kéo người đọc trở về thuở bình
n của sơng Đà từ ngàn năm trước.
Nói tóm lại, Nguyễn Tuân đã khắc họa rất thành cơng hình tượng con sơng Đà
với hai tính cách: hung bạo đến đáng sợ và trữ tình đến tuyệt mĩ. Nhà văn đã
cho chúng ta thấy được sự tài hoa trong trí tưởng tượng phong phú, trong
những liên tưởng táo bạo, bất ngờ, những so sánh mang dấu ấn cá nhân của
Nguyễn Tuân trên những trang văn.
<b>Phân tích tác phẩm Người lái đị sơng đà mẫu 3</b>
Đến với tác phẩm của Nguyễn Tuân mỗi người sẽ tìm cho bản thân mình
những xúc cảm riêng, là sự ngưỡng mộ, khám phá chờ mong. Dường như dưới
đôi bàn tay tài hoa nghệ sĩ, ơng đã khiến người đọc như chìm đắm, như được
sống những phút giây thực sự với thiên nhiên khung cảnh nơi đó. Đây chính là
cái tài sử dụng ngơn ngữ của ơng. Đặc biệt qua đoạn trích “Người lái đị sơng
Đà” tài năng đó càng được bộc lộ rõ nét hơn.
phải là có một khơng hai. Dưới bút lực dồi dào của mình Nguyễn Tn đã phơ
diễn cho bạn đọc thấy hình ảnh của một dịng sơng Đà vừa hung bạo, nhưng
cũng rất đỗi trữ tình. Bên cạnh đó là vẻ đẹp nổi bật của người lao động, chinh
phục và làm chủ thiên nhiên.
Trước hết cái độc đáo của sông Đà được Nguyễn Tuân khai thác trên hai
phương diện: hung bạo và trữ tình. Chất hung bạo chính là điểm nổi bật đầu
tiên của Nguyễn Tuân đề cập đến. Vẻ đẹp hung dữ, bạo tàn của con sông ở
những đoạn thác dốc như một sức mạnh vơ hình thu hút ơng. Đây cũng là lãnh
tử đã bỏ hết lại sâu thuyền”. Những câu văn kia miêu tả ơng lái đị mới sảng
khối và sung sướng biết bao khi con người đã vươn lên làm chủ thiên nhiên.
Đồng thời những lời miêu tả chân thực, sinh động đó cũng cho thấy tài nghệ lái
thuyền tài ba, sự dày dặn kinh nghiệm, và dũng cảm là những yếu tố giúp ơng
lái đị của thể vượt qua mọi cửa tử để đi đến được một cửa sinh duy nhất.
Khơng chỉ có niềm say mê, hứng thú đặc biệt với những nơi đầy nguy hiểm mà
đôi mắt tinh tế của Nguyễn Tuần cịn đầy tình tứ, phát hiện vẻ đẹp mơ mộng,
trữ tình của con sơng Đà. Vẻ đẹp trữ tình của sơng Đà quả như là đối cực với
sự hung bạo của chúng. Nếu như bên trên con sơng Đà bạo liệt, hung hãn bao
nhiêu, thì đến đây lại mơ mộng, hiền hòa bấy nhiều. Đoạn văn thấm đẫm màu
sắc văn chương và hội họa.
Dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân hay qua thực cảnh sắc sông Đà, chẳng ai có
thể biết được, nhưng nó tốt lên vẻ đẹp của sự trữ tình, mơ mộng q đỗi. Sơng
Đà giờ đây khơng cịn hoang dại, mà tựa như một cô gái sơn cước miền Tây
Bắc vô cùng yểu điệu, thục nữ, lại có đơi nét mờ màng: “Con sơng Đà tn dài
tn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc và chân tóc ẩn hiện trong mây trời
Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói mèo đất
nương xuân”. Đọc câu văn mà ngỡ như ta đang đọc một câu thơ của Nguyễn
Tuân vậy. Chất trữ tình thẫm trong cảnh vật, ngập đầy trong từng câu chữ. Chỉ
trong một đoạn văn không quá dài, nhưng trước vẻ đẹp trữ tình của con sông
mà Nguyễn Tuân đã hai lần phải thốt lên “chao ôi”. Vì được chiêm ngưỡng
cảnh đẹp, vì được gặp lại người bạn có nhân bao ngày xa cách. Đó là sự vui
mừng, cuống quýt thấp thỏm, đầy hạnh phúc. Sông Đà chính là cố nhân của
Nguyễn Tuần. Chính tâm trạng vui sướng đó đã khiến cơng có một đoạn văn
đầy xúc cảm: “Bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên sống
Đà. Chao ôi trông con sông, vui như thấy nắng giịn tan sau kì mưa dầm, vui
như nối lại chiêm bao đứt quãng. Đi rừng dài ngày rồi lại bắt ra sơng Đà, đúng
thế, nó đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân”. Không chỉ cảm nhận sông Đà là
nét và sâu sắc phong cách nghệ thuật độc đáo của ông.
Đến với nghệ thuật, đối với Nguyễn Tn là đến với sự tìm tịi và sáng tạo, bởi
vì “nhà văn là người sáng tạo lại thế giới”. Nguyễn Tn sợ mình của ngày
hơm nay giống với mình của ngày hơm qua, sợ sự trùng lặp tầm thường. Chính
vì thế, ơng đã lấy “chủ nghĩa” xê dịch “làm đề tài cho tác phẩm, làm mục đích
cho cuộc đời mình. Sống là để đi, để tìm hiểu những điều mới lạ.
Trước cách mạng, một mình với chiếc vali, Nguyễn Tuân đã bôn ba trên nhiều
miền quê đất nước nhưng với tâm trạng của kẻ “thiếu quê hương”, bất mãn với
cuộc đời. Đó cũng là tâm trạng chung của thời đại. Sau cách mạng, ông cũng
xuôi ngược nhiều nơi nhưng với tinh thần của người yêu quê hương xứ sở,
muốn góp phần vào cơng cuộc xây dựng Tổ quốc. Chính nhà văn đã từng nói
đến Tây Bắc là để “đi tìm cái thứ vàng mười của màu sắc sơng núi Tây Bắc, và
nhất là cái thứ vàng mười mang sẵn trong tâm trí tất cả những con người ngày
nay đang nhiệt tình gắn bó với cơng cuộc xây dựng cho Tây Bắc thêm sáng sủa
tươi vui và bền vững”. Với tình yêu quê hương sâu nặng và bầu nhiệt huyết sôi
nổi ấy, Nguyễn Tuân đã sử dụng uyển chuyển, tinh vi vốn ngơn ngữ phong phú
của mình để viết nên những tờ hoa thơm thảo về con người và thiên nhiên của
miền sông núi này…
hung hãn dữ tợn ấy vẫn không làm mất đi được nét trữ tình ở sơng Đà. Miêu tả
con sơng ở những đoạn xi dịng, ngịi bút Nguyễn Tn bỗng trở nên mềm
mại, uyển chuyển, mang đậm chất thơ. “Con sông Đà tn dài như một áng tóc
trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa
gạo tháng hai và cuồn cuộn khói núi Mèo đốt nương xn”…
Trên con sơng ấy, ơng lái đị xuất hiện, dữ dội và phi thường. Trong cuộc chiến
đấu “một mất, một còn” với thác nước, tác giả cho ta thấy được cái tài hoa, trí
dũng tuyệt vời của ông lái. Người lái đò sông Đà là hiện thân của tác giả, chỉ
đi tới Tây Bắc tìm kiếm chất vàng thử lửa của thiên nhiên Tây Bắc. Tác phẩm
tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của nhà văn sau cách mạng tháng 8.
Trước hết, Nguyễn Tuân khắc họa vẻ đẹp của con sông Đà được nhân hóa như
con người, nó mang linh hồn độc đáo vừa có nguồn gốc, lai lịch rõ ràng, lại vừa
mang tính cách hung bạo, trữ tình. Con sơng được giới thiệu:
<i>“Chúng thủy giai đơng tẩu</i>
<i>Đà giang độc Bắc lưu”</i>
Ý nói mọi con sơng đều chảy theo hướng Đơng, chỉ có sông Đà chảy theo
hướng Bắc. Đây là một cách giới thiệu ấn tượng, đập thẳng vào nhãn quan
người đọc sông Đà hiện lên như một cá thể rất có hồn. Sông Đà khai sinh ở
huyện Cảnh Đông, tỉnh Vân Nam. Nó mang hai tính cách. Đầu tiên là tính cách
hung bạo và trữ tình, được thể hiện ở khía cạnh: Nguyễn Tuân miêu tả cảnh đá
ở bờ sông “đá dựng vách thành lịng sơng hẹp, có qng con hươu con nai còn
nhảy vọt từ bờ bên này sang bờ bên kia, nhìn từ dưới lên như nhìn lên cái tịa
nhà cao vừa tắt phụt đèn điện”. Đặc biệt ở đọan mặt ghềnh dài hàng ngàn cây
số thì “nước xơ đá, đá xơ sóng, sóng xơ gió cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt
năm như đòi nợ suýt bất cứ ai đi qua quãng ấy”. Thật nguy hiểm, rung rợn. Đâu
chỉ có vậy, Cái hút nước giống như cái giếng bê tông, nước thở và kêu như cái
cống cái bị sặc, tưởng tượng một anh quay phim táo bạo ngồi thuyền thúng mà
cầm máy quay cùng chìm xuống cái xốy ấy”. Hay đến thác nước với những
âm thanh dữ dội như càng xóay vào lịng người nhiều hiểm ngay đang rình rập
chỉ chờ chực sẵn con mồi “tiếng nước “ réo”, “tiếng nước thác nghe như là oán
trách… van xin … khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo… nó rống lên như
tiếng một ngàn con trâu mộng…”. Nước như một đội quân hùng mạnh, dữ tợn.
Đáng sợ hơn tất cả hình ảnh đá ở lòng như như đang bày binh bố trận địa thác
đá với 3 trùng vi. Trùng vi thạch trận thứ 1: “mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử
ơng rất độc đáo: “tay lêu nghêu như cái sào, chân khùynh khùynh”. Ông quê ở
ngã tư sơng, là người từng trải, ơng làm nghề lái đị đã được mười năm liền.
Ơng với con sơng Đà gắn bó mật thiết với nhau, như người bạn tri kỉ của mình.
Với kinh nghiệm chinh chiến trên con sơng ấy đã nhiều năm, ông nắm chắc
từng luông lạch, từng ngọn thác và đặc biệt, ông nắm rất vững quy luật của
“thần sơng thần đá” trên con sơng Đà. Vì ơng am hiểu con sông ấy một cách
tường tận, thấu đáo nên ơng rất thích vượt thác, đối mặt với con sông ấy. Chỉ
với vài nét khắc họa đơn giản, Nguyễn Tuân đã phác họa được một người lái
đò yêu nghề, u thiên nhiên, thích hịa mình rượt đuổi cùng thiên nhiên.
Vẻ đẹp của ơng lái đị được nhà văn miêu tả rất chi tiết qua những lần ông vượt
thác. Tay lái ra hoa ấy càng khiến người đọc thêm khâm phục phần nào về tài
năng, bản lĩnh dám đương đầu với thử thách. Trên con sông hùng vĩ nguy hiểm
ấy, ông lái đò hiện lên với tư thế hiên ngang của một dũng tướng chỉ huy chiến
trận. Ông chỉ huy con thuyền mình luồn lách tới đích vượt qua các chướng ngại
vật với phong thái của một nghệ sĩ tài hoa. Ở vịng vây thứ nhất, ơng hai tay
giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình. Hai
chân ơng vẫn kẹp chặt lấy cuống lái. Đến vịng vây thứ hai, khơng một phút
nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá ln vịng vây thứ hai và đổi ln chiến thuật. Ơng
cưỡi lên thác sơng Đà, nắm bờm sóng, ghì cương lái, bám lấy luồng nước đúng
mà phịng nhanh vào cửa sinh. Và ở vịng cuối, ơng phóng thẳng thuyền, chọc
thủng cửa giữa. Thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa
xuyên vừa tự động lái được lượn được. Cuộc vượt thác thành công. Mặc dù có
lúc ơng gặp khó khăn bị thương nhưng ông vẫn bình tình, dũng cảm đối mặt
sau cùng nếm vị ngọt thành quả: “đốt lửa trong hang đá, bàn tán về cá anh vũ”.
Cuộc chiến khốc liệt kết thúc thắng lợi vẻ vang.
tới - một bức chân dung người lao động vừa hiên ngang, khí phách, ngang tàng
lại rất giản dị.
đã diễn tả sự nhỏ hẹp của dòng chảy gợi ra lưu tốc rất lớn nhất là vào mùa nước
lũ với bao nhiêu nguy hiểm rình rập. Với trường liên tưởng độc đáo, Nguyễn
Tuân tiếp tục khắc họa đậm nét hơn nữa về những vách đá lạnh lẽo, tăm tối, ở
khúc sông nhỏ và hẹp: “ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà
cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên
một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện”.
Không chỉ vậy sự hung bạo cịn thể hiện ở “qng mặt ghềnh Hát Lng”, ở
đoạn này, Nguyễn Tn đã nhân hóa dịng sơng như một sinh thể người, đó là
kẻ đi địi nợ th, với gương mặt dữ dằn, tàn bạo. Câu văn với nhịp điệu dồn
dập, điệp từ, điệp cấu trúc được vận dụng liên tiếp (nước xơ đá, đá xơ sóng,
sóng xơ gió) kết hợp với các thanh trắc liên tiếp đã tạo nên âm hưởng dữ dội,
nhịp điệu khẩn trương, dồn dập như vừa xơ đẩy, vừa hợp sức của sóng, gió và
đá khiến cho cả ghềnh sông như sôi lên, cuộn chảy dữ dằn, tạo nên một mối đe
dọa thực sự đối với bất kì người lái đị nào “qng này mà khinh suất tay lái thì
cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra”.
Sự hung bạo còn được thể hiện ở những cái hút nước tàn độc, được giăng mắc
trên khắp khúc sông, như trực lấy mạng của con người bất cứ lúc nào. Để tái
hiện sự khủng khiếp của những cái hút nước, Nguyễn Tuân đã lia máy quay ở
nhiều chiều kích khác nhau, cho người đọc một cái nhìn tồn diện, đầy đủ nhất.
Khi nhìn từ trên xuống mặt nước sông “giống như cái giếng bê tông thả xuống
sông để chuẩn bị làm móng cầu”; từ dưới lịng sơng nhìn ngược lên “thành
Người lái đò sơng Đà khơng chỉ nổi bật ở hình tượng con sơng Đà, mà để điểm
tơ, hồn thiện vẻ đẹp sơng Đà cần có sự xuất hiện của con người, và thật đẹp đẽ,
chân dung người lái đò đã được Nguyễn Tn thể hiện tài tình, rõ nét. Người
lái đị khơng có một tên gọi cụ thể, mà chỉ được gọi tên là người lái đò Lai
Châu. Để làm bật vẻ đẹp người lái đị, chân dung ơng ln được tái hiện tương
quan với dịng sơng Đà. Nghệ thuật tương phản đã làm nổi bật một cuộc chiến
không cân sức: một bên là thiên nhiên bạo liệt, hung tàn, sức mạnh vơ song với
sóng nước, với thạch tinh nham hiểm, một bên là con người bé nhỏ trên chiếc
thuyền con én đơn độc và vũ khí trong tay chỉ là những chiếc cán chèo. Nhưng
dù sông Đà gian ngoan, xảo quyệt bao nhiêu thì người lái đị lại kiên cường
bám trụ bấy nhiêu “hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa
phóng thẳng vào mình”. Đặc biệt trong lần vượt trùng vi thạch trận thứ ba, ông
lái đị đã thể hiện rõ tài nghệ của mình. Ơng cứ “phóng thẳng thuyền, chọc
thủng cửa giữa… vút qua cổng đá”, “vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa
trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên
vừa tự động lái được lượn được”… để rồi chiến thắng vinh quang. Câu văn
“thế là hết thác” như một tiếng thở phào nhẹ nhõm khi ông lái đã bỏ lại hết
những thác ghềnh ở phía sau lưng. Chiến thắng của ông trước hết xuất phát từ
sự ngoan cường, lịng dũng cảm, ý chí quyết tâm vượt qua những thử thách
khốc liệt của cuộc sống. Đây đông thời cũng là chiến thắng của tài trí con
người, của sự am hiểu đến tường tận tính nết của sơng Đà.
ung dung, bình tĩnh, tự tại trong cuộc chiến đầy cam go nhưng cũng thật hào
hùng. Và phong thái nghệ sĩ của ơng lái đị thể hiện trong cách ơng nhìn nhận
về cơng việc của mình, bình thản đến độ lạ lùng. Khi dịng sơng vặn mình hết
thác cũng là khoảnh khắc “sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ”. Những nhà đị
dừng chèo, đốt lửa nướng ống cơm lam, bàn về cá anh vũ, cá dầm xanh, “về
những cái hầm cá hang cá mùa khô nổ những tiếng to như mìn bộc phá rồi cá
túa ra tràn đầy ruộng”.
của mình sẵn sàng nhấn chìm bất kể ai không vững vàng tay lái trước từng con
con sông, khơng làm chủ trên chiến trận chinh phục dịng sơng.
Bởi vậy mà nó khiến bao con thuyền đi qua phải dè chừng, hoảng sợ, cố tránh
né những cạm bẫy mà sơng Đà bố trí sẵn: “Khơng thuyền nào dám men gần
những cái hút nước ấy, thuyền nào cũng chèo nhanh để lướt quãng sông”, biết
bao nhiêu bè gỗ đã phải chịu trận trước những hút sâu khổng lồ, biết bao nhiêu
con thuyền nghênh ngác phải tan xác dưới lịng sơng.
Vốn am hiểu sâu sắc cùng sự trải nghiệm của mình Nguyễn Tuân dùng những
ngôn từ mới lạ, lĩnh hoạt, độc đáo để miêu tả một dịng sơng Đà. Sơng Đà cũng
mang dáng dấp đẹp đẽ, dịu dàng và thơ mộng, uyển chuyển như vẻ đẹp của
người thiếu nữ chốn núi rừng Tây Bắc vậy. Sông Đà lúc này thật thơ và mơ
mộng, tình yêu như đang tràn với bao cảm xúc nồng nàn khó tả: “Con sơng Đà
tn dài, tn dài như một áng tóc trữ tình...cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt
nương xn".
Vẻ đẹp của dịng sơng thật n bình, khơi gợi sự u thương, đưa lịng người
đến với những rung cảm trong tâm hồn mình, một sức hấp dẫn tuyệt vời q
đỗi. Đơi lúc, sơng Đà cũng có những cảm xúc, cũng nhớ, cũng thương như bao
người vậy. Vẻ đẹp trữ tình của dịng sơng cịn được thể hiện giữa thiên nhiên,
mây trời tạo nên nét riêng biệt không trộn lẫn, bởi vậy dù bất cứ lúc nào nó
cũng khiến người thưởng thức bị thu hút: "Tơi đã nhìn say sưa làn mây mùa
xn bay trên sơng Đà, tơi đã xun qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống
dịng nước sơng Đà”.
Khơng chỉ vậy, sơng Đà cịn khiến người ta thích thú bởi sắc nước đổi thay
Đứng trước những đợt sóng kinh hồng, những thạch trận hiểm nguy, ơng
khơng hề sợ sệt mà trái lại càng bản lĩnh thích thú hơn: "Ngoặt khúc sơng lượn,
thấy sóng bọt đã trắng xố cả một chân trời đá...Và một mình một thuyền ơng
đã giao chiến như một vị dũng sĩ đầy tài ba. Trải qua ba thạch trận bằng dũng
cảm, mưu trí cả mình, người lái đị đã chiến thắng , trở về với cảnh lao động và
cuộc sống bình yên: "Thế là hết thác...Sơng nước lại thành bình. Đêm ấy nhà
đị đốt lửa trong hàng đá, nướng ống cơm lam..." .
Nguyễn Tuân đã mang đến cho nền văn học nước nhà một kiệt tác vô cùng độc
đáo, một phong cách nghệ thuật riêng biệt, uyên bác, tài hoa. Khép lại những
trang văn của tùy bút “Người lái đị sơng Đà”, em vẫn khơng ngi cảm xúc
lâng lâng trong tâm hồn mình, có chăng, đó là những điều đẹp đẽ nhất mà văn
học đã mang lại, khơi gợi trong lịng mình những cảm xúc thẩm mỹ vô cùng
lớn. Thật cảm ơn Nguyễn Tuân, một người nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp để
nâng niu những giá trị vững bền của đời sống lao động và của dân tộc.
<b>Bài văn mẫu 8</b>
Nói đến Nguyễn Tuân là người ta nghĩ ngay đến một nhà văn suốt đời đi tìm
cái đẹp. Cái đẹp trong các tác phẩm của ông phải là cái đẹp đạt đến độ hoàn
thiện, hoàn mỹ. Sự nghiệp cầm bút của Nguyễn Tuân đạt được rất nhiều thành
tựu kể cả trước và sau cách mạng. “Người lái đị sơng Đà” trích từ tập tuỳ bút
“Sông Đà” là một trong những sáng tác tiêu biểu của Nguyễn Tuân sau cách
mạng tháng Tám.
Ngay ở những câu văn đầu tiên, Nguyễn Tuân đã thể hiện rất rõ sự hung bạo
của sông Đà. Dịng sơng khơng trơi giữa đơi bờ “cát trắng phẳng lì” thơ mộng
mà bờ sơng “dựng vách thành”, cao vút, dựng đứng. Qng sơng thì hẹp đến
nỗi “con nai, con hổ có lần vọt từ bờ sơng này sang bờ kia”. “Mặt sơng chỗ ấy
bóp chặt yết hầu đang quằn quại giãy giụa. Sự hung bạo này khiến nhà văn liên
tưởng đến hình ảnh một anh quay phim táo tợn nào đó mang máy quay ngồi
trên thuyền thúng xuống tận cái hút sơng Đà rồi từ đó lia ngược ống kính để
ghi lại cảnh tượng ghê sợ: một cái giếng như xanh toàn bằng thuỷ tinh như sắp
vỡ tan đổ ụp xuống cả người, cả máy quay phim. Con thuyền xốy tít, những
thước phim màu cũng quay tít. Ngịi bút sắc sảo của Nguyễn Tuân khiến người
đọc cảm giác như đang được xem một bộ phim hành động hấp dẫn nhưng cũng
vô cùng đáng sợ.
thứ “kẻ thù số một của con người” đã dần hiện ra. Chúng vẳng tới bằng âm
thanh “réo gần mãi lại réo to mãi lên”. Tiếng thác nghe như là “oán trách”,
nghe như là “van xin”, “khiêu khích”, giọng gằn mà “chế nhạo”. Cách kết hợp
khéo léo giữa so sánh và nhân hoá này đã khiến sông Đà hiện lên với một tâm
địa phức tạp. “Thế rồi nó rống lên”, âm thanh được phóng to hết cỡ giống như
đang ở đỉnh điểm của một cơn phấn khích man dại. Nguyễn Tn cịn so sánh
tiếng thác sông Đà giống như tiếng của một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn
để phá tuông sự bủa vây của rừng lửa.
Và để tăng thêm sự hung dữ của sơng Đà, Nguyễn Tn cịn hướng ngịi bút
của mình vào miêu tả đá sơng. Hình ảnh ẩn dụ “cả một chân trời đá” gợi cảm
giác đá sông Đà nhiều vô kể. Những tảng Đá sông Đà đã được Nguyễn Tn
thổi hồn vào đó với từng tảng đá mặt hịn nào trơng cũng “ngỗ ngược”, “nhăn
nhúm”, “méo mó”. Rồi chúng còn vây thành một thạch trận giống như một trận
đồ bát qi trên sơng Đà.
Qua ngịi bút của Nguyễn Tn, con sơng hung bạo này chẳng khác gì kẻ thù
số một của con người. Thế nhưng ngay sau đó, khi sự hung bạo trơi qua, nó lại
hiện lên với cả vẽ trữ tình, thơ mộng đến khó tin.
Từ trên máy bay nhìn xuống “con sơng Đà tn dài tn dài như một áng tóc
phẩm một lần nữa khẳng định tài năng bậc thầy của Nguyễn Tuân trong việc sử
dụng ngôn từ vừa giúp người đọc thấy được tình yêu quê hương, đất nước mà
ông gửi gắm trong các tác phẩm của mình.
<b>Bài văn mẫu 9</b>
“Người lái đị sơng Đà” là thiên tùy bút rút trong tập “Sông Đà” (1960) của
Nguyễn Tuân. Đây là thành quả nghệ thuật đẹp đẽ mà Nguyễn Tuân đã thu
hoạch được trong chuyến đi thực tế đến Tây Bắc năm 1958. Trong chuyến đi
này, tác giả đã có cơ hội sống với những khoảnh khắc thân thuộc nhất, hào
hứng nhất của người nghệ sỹ trong ông. Ông cảm nhận được “thứ vàng mười
đã qua thử lửa” của những người lao động bình dị trên miền sơng nước hùng vĩ
và thơ mộng. Thật đúng khi cho rằng “thiên tùy bút là bài ca về vẻ đẹp của
người lao động trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”, mà điển hình,
dưới ngịi bút tài hoa của Nguyễn Tn, là hình tượng người lái đó vừa là
người anh hùng, vừa là người nghệ sỹ tài ba trong nghề của mình.
đó. Chỉ có u q nghề, gắn bó sâu đậm với nghề, nhiều năm một nắng hai
sương dong duổi chở khách trên con sông Đà hùng vĩ thì ngoại hình mới mang
đậm dấu ấn nghề nghiệp như vậy. Đây chính là phong cách viết độc đáo của
Nguyễn Tn, ơng ln nén câu văn của mình nhiều điều muốn nói, “Hàm
lượng thơng tin” ở đó khơng bao giờ chỉ ở một tầng hiển ngôn, chỉ khi chuyên
chú đọc ta mới khám phá ra được nhiều tầng ẩn ngôn hàm chứa trong từng câu
văn của tác giả.
Nhưng chỉ những nét miêu tả ngoại hình thơi thì chưa đủ. Trong ơng lái
đị cịn ẩn chứa rất nhiều điều tuyệt vời đặc biệt của một người từng trải thạo
nghề. Ông là một linh hồn muôn thuở của sông nước này. “Trên sông Đà, ông
xuôi, ông ngược hơn một trăm lần rồi, chính tay giữ lái đị sáu mươi lần cho
những chuyến thuyền then đuôi én sau chèo”. Sự từng trải ấy cịn được thể hiện
cái bờm sóng đúng luồng, ghì cương lái bám chắc lấy luồng nước đúng mà
phóng nhanh vào cửa sinh lái miết một đường chéo về phía cửa đá. Thật điêu
luyện. Đến vịng thứ ba, ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả,
luồng sông nằm ở ngay giữa bọn đá hậu vệ. Một ơng lái đị và sáu tay trèo,
tưởng chừng như con người hết sức nhỏ bé, ít ỏi, cạn kiệt sức lực giữa một
thiên nhiên hung dữ. Nhưng không, như một vị tướng lão luyện dày dặn kinh
nghiệm, trận mạc, ơng lão phóng thẳng thuyền trọc thủng cửa giữa. Thuyền vụt
qua cổng đá, cánh mở cánh khép. Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong lại cửa trong
cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh cho qua hơi nước, vừa xuyên,
vừa tự động lái được. Thế là kết thúc.
Tác giả đã rất dày công khi miêu tả trận thủy chiến với con sông Đà của
ông lão lái đị. Một loại những hành động nhanh mạnh: Phóng nhanh, phóng
thẳng, lái miết một đường, chọc thủng, xuyên nhanh,… Kết hợp với nhịp văn
gấp gáp, hơi văn căng thẳng, câu văn dồn dập gợi nên một cuộc giao tranh giáp
lá cà một sống, một chết. Hơn nữa thư pháp nghệ thuật tương phản được sử
dụng triệt để và rất độc đáo trong tác phẩm đã xây dựng lên hai phe đối lập:
một bên là thiên nhiên hung tàn, bạo liệt với một bên là con người nhỏ bé
nhưng đầy bản lĩnh, sự quả cảm và khả năng chinh phục thiên nhiên kỳ diệu.
Ơng lái đị trong tay chỉ có một mái chèo “Như cái que giữa bạt ngàn sóng
thác” như một vị tướng bách chiến bách thắng, phá thành vượt ải.
dựng nông thôn mới, không chỉ là tầng lớp thanh niên “Tuổi hai mươi khi
hướng đời đã thấy/ Là xa xôi biết mấy cũng lên đường”, mà cùng với họ, ơng
lái đị sơng Đà đã góp phần làm nổi bật, tôn lên vẻ đẹp, phẩm chất của người
lao động trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội những năm 55 – 60.
Quả thật, vẻ đẹp "chất vàng mười đã qua thử lửa" trong tâm hồn của con
người Tây Bắc đã được Nguyễn Tuân dày công khám phá trên dòng Đà giang
khuất nẻo. Nếu như thiên sông Đà trong tác phẩm của Nguyễn Tuân là “Kẻ thù