tư tưởng thân dân trong văn học trung đại việt nam từ thế kỉ x đến hết thế kỉ xvii tt - Pdf 72

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

ĐINH THỊ PHƯƠNG THU

TƯ TƯỞNG THÂN DÂN TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ X ĐẾN HẾT THẾ KỶ XVII


Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 9.22.01.21

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
(Chuyên ngành Văn học Việt Nam)

HÀ NỘI - 2020
Cơng trình được hồn thành tại:


Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS. Lã Nhâm Thìn

Phản biện 1: PGS.TS. Biện Minh Điền - Trường Đại học Vinh
Phản biện 2: PGS.TS. Lê Thời Tân - Trường Đại học Thủ đô Hà Nội
Phản biện 3: PGS.TS. Dương Tuấn Anh - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường họp tại
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, số 136 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội
Vào hồi …….giờ ……..phút, ngày …… tháng……. năm 2020.

thể lịch sử, vừa là động lực của sự phát triển xã hội. Vì vậy, bất cứ một giai cấp cầm
quyền nào muốn duy trì được sự ổn định của mình thì phải gắn bó với dân, phải có
chính sách dưỡng dân, giáo dân phù hợp. Việc đánh giá đúng đắn vị trí và vai trị của
dân trong lịch sử có ý nghĩa quan trọng đến sự tồn vong của mỗi hình thái xã hội trong
lịch sử, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình xây dựng, phát triển đất nước. Với những lý
do trên, đề tài có tính cần thiết, thời sự, khoa học và thực tiễn.


2
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài nghiên cứu là làm nổi bật tư tưởng thân dân trong văn học
trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XVII với sự vận động mang tính lịch sử qua
các giai đoạn với những khuynh hướng, tác giả, tác phẩm tiêu biểu. Trong đó, luận án
tập trung phân tích, lý giải căn rễ của tư tưởng thân dân, những nội dung cơ bản của tư
tưởng thân dân, xác định đặc trưng cũng như khả năng tiếp nối, phát triển trong quá
trình vận động của tư tưởng này qua các giai đoạn. Tư tưởng thân dân trong văn học
trung đại Việt Nam gợi những bài học về tư tưởng thân dân trong thời hiện đại.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án tập trung vào những nhiệm vụ
nghiên cứu chủ yếu: - Khái niệm dân và tư tưởng thân dân. Tiêu chí xác định tư tưởng
thân dân trong tác phẩm văn học; - Nghiên cứu những nội dung biểu hiện của tư tưởng
thân dân trong từng giai đoạn văn học với các khuynh hướng, tác giả, tác phẩm tiêu
biểu; - Đánh giá về đặc điểm của tư tưởng thân dân trong văn học trung đại Việt Nam giai
đoạn X - XVII, sự vận động phát triển của tư tưởng thân dân trong tiến trình lịch sử; Nghiên cứu những phương diện nghệ thuật thể hiện tư tưởng thân dân khi cần thiết.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tìm hiểu tư tưởng thân dân trong văn học
trung đại Việt Nam theo giai đoạn văn học với những khuynh hướng, tác giả, tác phẩm
tiêu biểu của văn học trung đại từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XVII. Ở bốn thế kỷ đầu, chủ

sự phát triển của văn học trung đại Việt Nam; - Luận án là tài liệu tham khảo có ý
nghĩa và thiết thực đối với công việc nghiên cứu, giảng dạy văn học trung đại Việt
Nam, đồng thời có thể hữu ích với những người làm công tác xã hội quan tâm tới tư
tưởng thân dân.
6. Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận
án nội dung chính của luận án được triển khai thành năm chương như sau: Chương 1:
Tổng quan tình hình nghiên cứu và một số vấn đề liên quan đến đề tài (15 trang, từ trang 7
đến trang 22); Chương 2: Những tiền đề của tư tưởng thân dân trong văn học từ thế kỉ
X đến hết thế kỉ XVII (14 trang, từ trang 23 đến trang 37); Chương 3: Tư tưởng thân
dân trong văn học từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIV (41 trang, từ trang 38 đến trang 79);
Chương 4: Tư tưởng thân dân trong văn học thế kỉ XV (34 trang, từ trang 80 đến trang
114); Chương 5: Tư tưởng thân dân trong văn học từ thế kỉ XVI đến hết thế kỉ XVII
(34 trang, từ trang 115 đến trang 149).


4
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Giới thuyết khái niệm dân và tư tưởng thân dân
1.1.1. Giới thuyết khái niệm dân
Chúng tôi đã truy xuất khái niệm dân bắt nguồn từ nghĩa gốc Hán, từ trong các
sách Từ điển tiếng Việt, đồng thời tìm hiểu kĩ khái niệm này theo quan niệm của Nho
giáo và sự mở rộng nội hàm của khái niệm dân theo quan niệm hiện đại. Từ những
điều đã trình bày ở trên, tác giả luận án xin rút ra mấy điểm chung về khái niệm dân (ở
đây là trong thời trung đại, bởi tư tưởng “thân dân” mà luận án nghiên cứu gắn với
thời này) với ý nghĩa khoa học sau: Dân là một khái niệm xuất hiện và tồn tại khi xã
hội có giai cấp, có nhà nước, dùng để chỉ những người lao động bình thường, đơng
đảo, khơng có chức quyền và tương phản với những người cầm quyền ở các địa bàn

dung chủ yếu mà đề tài quan tâm nghiên cứu. Tư tưởng thân dân thể hiện một cách
gián tiếp là khi viết về đất nước, xã hội,… nhưng qua đó gửi gắm nguyện vọng về
cuộc sống của người dân. Khi viết về người dân trong cảnh đói khổ nhưng đồng thời
bày tỏ niềm mơ ước về một đất nước hịa bình, thịnh vượng để người dân đỡ khổ. Vì
thế, có những trường hợp, tư tưởng thân dân và tư tưởng yêu nước giao thoa với nhau.
Tuy nhiên, đây lại là hai phạm trù bởi lẽ, tư tưởng thân dân nhìn từ góc độ mục đích
viết về người dân cơ bản đứng trên lập trường nhân bản - nhân đạo về quyền sống con
người. Còn tư tưởng yêu nước về cơ bản đứng trên lập trường dân tộc.
Luận án của chúng tôi đề cập đến tư tưởng thân dân trong văn học tập trung qua
ba phương diện: Thứ nhất, thân dân là thương dân (ái dân). Đây là nền tảng cũng là
gốc rễ của tư tưởng thân dân. Thứ hai, thân dân là trọng dân, tức là đề cao người dân,
coi trọng vai trị, vị trí của người dân; coi dân là gốc của nước. Trọng dân thì mới phát
huy được sức mạnh của dân. Do đó, trọng dân là mức độ thứ hai, tiến lên một bước
khi nhận ra vai trò, ý nghĩa của dân trong kiến tạo xã hội. Thứ ba, thân dân là ơn dân.
Khi giới cầm quyền biết “ơn dân” là vị thế của dân đã được đánh giá cao và được tôn
trọng thật sự. Thái độ “biết ơn” dân là thái độ của kẻ dưới đối với người trên. Chỉ khi
có nhận thức cao mới có suy nghĩ và tình cảm biết ơn này và khi “biết ơn” mới có cách
hành xử, đối xử tương ứng. Về cơ bản nội dung này chỉ xuất hiện ở Nguyễn Trãi. Tư
tưởng của Nguyễn Trãi về dân là tư tưởng vượt lên thời đại ông và rất có ý nghĩa đối
với thời hiện đại khi mà vai trị và vị trí cũng như nhận thức về dân đã có những bước
tiến bộ vượt bậc.
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nhìn chung có những hướng nghiên cứu sau liên quan tới đề tài của luận án:


6
1.2.1. Nghiên cứu tư tưởng thân dân từ góc độ tư tưởng, triết học, lịch sử liên quan tới
đề tài
Có thể kể tới các tài liệu tiêu biểu sau: Lịch sử tư tưởng Việt Nam của nhà
nghiên cứu Nguyễn Đăng Thục; Tư tưởng phương Đơng gợi những điểm nhìn tham

Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tơng, Nguyễn Bỉnh
Khiêm, Phùng Khắc Khoan, …Nhìn chung các ý kiến đều đánh giá cao sự kết tinh tư
tưởng thân dân sâu sắc của các nhà nho trung đại ở các khía cạnh tiêu biểu: thương
dân, trọng dân - đề cao dân và thể hiện trách nhiệm đối với dân.
Tiểu kết chương 1
Từ chỗ giới thuyết các khái niệm và thuật ngữ, chúng tơi đã mơ tả tình hình
nghiên cứu vấn đề tư tưởng thân dân trong văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến
hết thế kỉ XVII theo ba hướng chủ yếu: nghiên cứu về tư tưởng thân dân trong lịch sử
tư tưởng Việt Nam; nghiên cứu về tư tưởng thân dân trong sự phát triển của lịch sử
văn học Việt Nam; nghiên cứu tư tưởng thân dân ở các tác gia văn học, đặc biệt là các
tác gia lớn của văn học trung đại Việt Nam. Những cơng trình khảo sát lớn, vừa hay
nhỏ đều có ý nghĩa to lớn đối với người nghiên cứu trong quá trình thực hiện đề tài.
Chương 2
NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA TƯ TƯỞNG THÂN DÂN TRONG VĂN HỌC
TỪ THẾ KỶ X ĐẾN HẾT THẾ KỶ XVII
2.1. Tiền đề lịch sử, xã hội của tư tưởng thân dân trong văn học từ thế kỉ X đến
hết thế kỉ XVII
2.1.1. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc
Quá trình dựng nước và giữ nước của cha ông ta luôn đề cao tư tưởng thân dân,
coi khoan thứ sức dân là một quốc sách và thượng sách giữ nước. Từ xa xưa thân dân
được thể hiện qua những truyền thuyết về thời các vua Hùng đến thời Thục An Dương
Vương, thời Trưng Nữ Vương,... Suốt từ thế kỉ X đến thế kỉ XV, lịch sử đã đặt nước
Đại Việt độc lập trong tình thế ln ln phải đối phó với chiến tranh xâm lược từ phía
Bắc và phía Nam. Tuyệt đại đa số những vị vua sáng nghiệp được ca ngợi là những
người yêu nước, có tài năng và đức độ, có tinh thần thân dân, lấy việc “ái dân trị quốc”
làm đầu. Trong cơng cuộc xây dựng chính quyền phong kiến, về cơ bản giai cấp phong
kiến biết dựa vào sức mạnh của nhân dân, phát huy truyền thống yêu nước để xây
dựng và bảo vệ quốc gia, dân tộc.
2.1.2. Chế độ giáo dục, khoa cử
Thế kỉ X - XIV là giai đoạn đầu xây dựng Nhà nước phong kiến Việt Nam. Các

động vừa là tập thể sáng tác văn học vừa là “nhân vật” trung tâm của đời sống xã hội.
Truyền thống của người Việt Nam bao đời nay luôn coi trọng con người. Họ đề cao lối
sống thủy chung, tình nghĩa; đề cao tinh thần đồn kết, u thương gắn bó giữa gia
đình, làng xóm với cộng đồng, xã hội, dân tộc,… Những quan niệm đó được diễn tả
súc tích qua nhiều câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao, qua các câu chuyện truyền thuyết
đậm giá trị nhân văn.


9
2.2.2. Nho giáo và tư tưởng thân dân
Trong nội dung của Nho giáo, chứa đựng các học thuyết, tư tưởng, đề cập đến
nhiều lĩnh vực, nhiều mặt của đời sống xã hội và con người, trong đó có tư tưởng về
dân và vai trị, vị trí của người dân như “Dân vi bang bản”, “Dân vi quý, xã tắc thứ
chi, quân vi khinh”,… Ảnh hưởng tư tưởng về dân của Nho giáo thể hiện khá cụ thể
trong tư tưởng nhân chính, nhân nghĩa; đường lối cai trị, quản lý xã hội, pháp luật và
việc thực hiện những chủ trương chính trị lớn của đất nước như việc dời đô, kế vị ngôi
báu, phát động kháng chiến chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng
và phát triển bộ máy Nhà nước, kiến lập và thực thi pháp luật, giáo dục - khoa cử, xây
dựng và phát triển đất nước,… Bên cạnh việc phát huy những yếu tố khả thủ của Nho
giáo thì việc đưa những tư tưởng tích cực của quần chúng như tư tưởng thân dân, chủ
trương nhập thế, nêu cao phẩm chất, khí tiết trong sạch của kẻ sĩ,…đã khiến cho tư
tưởng Nho học ngày càng có vị trí và vai trị to lớn hơn, nhiều mặt hơn trong đời sống,
tư tưởng của người Việt.
2.2.3. Phật giáo và tư tưởng thân dân
Đạo Phật chủ trương bình đẳng, từ bi, bác ái. Từ bi, bác ái của Phật làm cho
lòng thương dân, thương người phong phú, tốt đẹp hơn. Những tư tưởng và hạt nhân
tích cực của giáo lí Phật giáo được người Việt Nam tiếp thu và truyền bá một cách
rộng rãi trong đời sống xã hội. Phật giáo chính là một tiền đề tôn giáo quan trọng của
tư tưởng thân dân trong văn học trung đại Việt Nam trong nhiều thế kỉ. Tinh thần bình
đẳng và bác ái của đạo Phật tìm thấy sự hòa điệu với tinh thần dân chủ, nhân ái truyền

biểu hiện phong phú, chúng tơi nhìn nhận đối tượng theo tiến trình vận động lịch sử. Ở
từng giai đoạn văn học sẽ xuất hiện những tác giả, tác phẩm lớn và những khuynh
hướng khác nhau. Văn học trung đại Việt Nam mở ra từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIV
kéo dài thịnh vượng nhất trong thời đại Lí - Trần. Văn học giai đoạn này đã hướng đến
nội dung phản ánh công cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc, các vương triều
phong kiến Việt Nam không ngừng củng cố, phát triển đất nước, giai cấp phong kiến
có những tư tưởng tiến bộ về cơ bản đi theo nguyện vọng của người dân. Văn học
trung đại Việt Nam có bước chuyển tiếp theo ở thế kỷ XV, bên cạnh những điểm tiếp
nối tư tưởng thân dân của văn học Lí - Trần, văn học thế kỉ này tập trung phản ánh kì
tích của vương triều nhà Lê trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, ca ngợi sức
mạnh thời đại và truyền thống dân tộc, sự phát triển ổn định, thịnh trị của vương triều
phong kiến qua những tác phẩm thơ, phú, văn chính luận cả về chữ Hán và chữ Nôm
đều đạt được thành tựu xuất sắc. Sang thế kỉ XVI - XVII, giai cấp phong kiến Việt
Nam bước vào thời kỳ khủng hoảng. Thời Lê sơ, Lê Mạc giai cấp phong kiến có
những lúc đi ngược lại quyền lợi của người dân. Tư tưởng thân dân giai đoạn này gắn
với sự trỗi dậy của tinh thần dân tộc, đi từ âm điệu ngợi ca vương triều phong kiến


11
sang âm hưởng phê phán hiện thực xã hội, đấu tranh chống lại sự suy thoái của chế độ
phong kiến vì quyền lợi của nhân dân. Khi chế độ phong kiến suy thoái dẫn đến suy
vong, về cơ bản đi ngược lại quyền lợi của người dân thì tư tưởng thân dân trong văn
học thế kỉ XVIII - thế kỉ XIX tập trung ở tư tưởng nhân đạo vì quyền sống của người
dân, xây dựng hình tượng người nơng dân anh hùng trong cuộc kháng chiến chống
xâm lược. Nổi bật trong tư tưởng thân dân của văn học giai đoạn này là niềm thương
cảm đối với người dân, hướng về những con người nhỏ bé, đau khổ, những con người
bị áp bức; ước mơ về cơng lí chính nghĩa của nhân dân, mong ước cuộc sống hạnh
phúc và tương lai tươi sáng cho nhân dân. Nội dung đó được thể hiện trong những tác
phẩm thơ ca, khúc ngâm, tiểu thuyết chương hồi, văn tế… Trong môi trường quân chủ
chuyên chế, tư tưởng thân dân về cơ bản mang tính phê phán thực trạng xã hội phong

cũng như của mọi tầng lớp người trong xã hội. Các tác phẩm trực tiếp đề cập đến vấn
đề này về thơ có Quốc tự (Chữ “quốc”), Yết bảng thị chúng (Treo bảng nói rõ với mọi
người) của Nguyễn Vạn Hạnh (Thiền sư Vạn Hạnh); Nam quốc sơn hà (Khuyết danh).
Về văn chính luận có Khuyến Lí Cơng Uẩn (Khun Lí Cơng Uẩn), Xá thuế chiếu
(Chiếu xá thuế) của Lí Thái Tơng; Ngộ đại hàn, vị tả hữu bách quan (Gặp tiết đại hàn,
bảo các quan tả hữu) của Lí Thánh Tơng; Cố động Thiên cơng chúa, vị ngục lại (Nhìn
cơng chúa Động Thiên, bảo ngục lại); Lâm chung di chiếu (Chiếu để lại lúc sắp mất)
của Lí Nhân Tơng,… Hai tác phẩm chính luận tiêu biểu nhất thể hiện rõ tư tưởng thân
dân thời Lý là: Thiên đơ chiếu của Lí Cơng Uẩn (974 - 1028) và “Phạt Tống lộ bố
văn” (Bài văn lộ bố khi đánh Tống) của Lí Thường Kiệt . Khơng chỉ ca ngợi một chiều
mẫu hình những vị vua tài tướng giỏi, yêu nước thương dân, văn học cuối thời Lí cịn
cất lên tiếng nói thẳng thắn, nghiêm khắc các vị vua đi ngược lại tư tưởng thân dân,
khơng cịn “lấy dân làm gốc”, coi trọng việc hưởng lạc cá nhân hơn việc chăm lo đời
sống nhân dân (Gián Lý Cao Tông hiếu văn bi thiết chi thanh - Khuyên vua Lí Cao
Tơng đừng xây dựng cung điện; “Truy hối tiền q chiếu” (Chiếu hối lỗi); “Gián Lí
Cao Tơng đại hưng lâu các (Khun vua Lí Cao Tơng đừng xây dựng cung điện).
Những tiếng nói can gián đó dù khơng làm thay đổi triều đại nhưng lại nói lên ước
mong của tầng lớp nho sĩ trí thức về một nền chính sự lý tưởng cho nhân dân.
3.2.2. Ý thức về trách nhiệm trước người dân
Khát vọng mong muốn vận nước lâu dài, cuộc sống no đủ, hạnh phúc là khát
vọng muôn đời của con người. Để được như vậy nhà vua cần dùng đức của mình để trị
vì khiến nhân dân ngưỡng mộ, thuần phục, tin tưởng. Nhà thơ Đỗ Pháp Thuận đã nói
về nguyện vọng tha thiết đó của mình trong bài thơ “Quốc tộ” (Vận nước). Một điểm
đặc sắc ở các bài văn chiếu và văn nghị luận thời Lí là đã ghi lại khá trực tiếp đời sống
tư tưởng, tình cảm của vua chúa nhà Lí. Nội dung của các bài văn chiếu thời Lí trước
hết tập trung thể hiện tinh thần trách nhiệm của vua đối với nhân dân. Đó là một số


13
hoạt động được ghi lại trong sử, thể hiện trong những bài chiếu lệnh: Xá thuế chiếu”

quốc gia thịnh trị. Lí tưởng giúp dân, đường lối trị nước, trách nhiệm, đạo đức của


14
người làm vua, phẩm chất, trách nhiệm của kẻ sĩ,… là những vấn đề quan trọng được
đặt ra. Trong thơ trữ tình, cảm hứng về dân được biểu hiện trong những rung cảm đầy
chất thơ của tâm hồn nghệ sỹ (Thiên Trường vãn vọng - Ngắm cảnh chiều ở Thiên
Trường; Tặng Bắc sứ Lí Tư Diễn (Tặng sứ Bắc Lí Tư Diễn); Tống Bắc sứ Ma Hợp,
Kiều Nguyên Lãng (Tiễn sứ Bắc Ma Hợp, Kiều Nguyên Lãng) của Trần Nhân Tơng;
Tặng Bắc sứ Sài Tràng Khanh, Lí Chấn Văn đẳng (Tặng sứ Bắc Sài Tràng Khanh, Lí
Chấn Văn) của Trần Quang Khải. Có thể nói, tư tưởng thân dân đã thành cơ sở của
đường lối trị nước thời thịnh Trần. Trọng dân, lấy dân làm gốc, “khoan sức cho dân”
cùng những chính sách an dân, vì dân đã làm nền tảng cho Đại Việt có cuộc sống ổn
định, thực túc, binh cường, dân giàu, nước mạnh.
3.3.2. Thương xót người dân và xót xa trước thế sự trong thời Vãn Trần
Một trong những biểu hiện rõ nét nhất của tư tưởng thân dân trong thơ thời Trần
chính là lịng thương xót người dân và nỗi xót xa trước thế sự đương thời. Nỗi khổ của
con người xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Xã hội rối ren, loạc lạc, nhà vua bỏ bê
chính sự, quan lại thi nhau vơ vét tiền bạc, thóc gạo của dân, trộm cướp nổi lên như
ong rồi mất mùa, hạn hán liên tiếp xảy ra. Thực trạng ấy đã khiến cho các nhà nho
chân chính hết sức đau lịng, khơng ít nhà Nho đã cất lên tiếng than bất bình về thời
thế. Phạm Nhữ Dực nói về nỗi khổ của người dân khi đất nước có chiến tranh. Ông đã
viết bài “Tị tặc sơn trung trừ dạ” (Đêm ba mươi tết tránh giặc trong núi). Chu Đường
Anh phê phán, ốn trách nhà vua bỏ bê chính sự, mê đắm với những thú vui riêng,
khiến cho dân đen cơ cực trong bài “Đề Đường Minh Hoàng dục mã đồ” (Đề bức
tranh Đường Minh Hoàng tắm ngựa). Phạm Sư Mạnh tha thiết mong muốn vua
“Phụng tuyên đế đức thiếp kiềm lê” (Vâng đem đức chính nhà vua tới cho dân đen)
trong bài“Đề Gia Cát thạch” (Đề đá Gia Cát). Tiêu biểu cho tiếng nói thân dân - thế
sự đó là những tác phẩm của Trần Nguyên Đán (1325 - 1390) và Nguyễn Phi Khanh
(1355 - 1428). Thơ Trần Nguyên Đán nhiều lần nhắc đến chữ dân, có lúc ơng gọi dân

thương xót dân vừa xót xa thế sự đồng thời thể hiện ý thức sâu sắc về trọng trách của
kẻ sĩ đối với dân. Các tác giả tiêu biểu giai đoạn này là Trần Nguyên Đán và Nguyễn
Phi Khanh. Nhìn chung, với tính chất là giai đoạn mở đầu nền văn học dân tộc, thơ văn
Lí - Trần đã đóng góp tích cực trong việc hình thành các truyền thống tư tưởng - nghệ
thuật của nền văn học.


16
Chương 4
TƯ TƯỞNG THÂN DÂN TRONG VĂN HỌC THẾ KỶ XV
4.1. Tư tưởng thân dân trong văn học nửa đầu thế kỷ XV
4.1.1. Thương dân, đề cao vai trò sức mạnh của người dân trong văn học thời khởi
nghĩa Lam Sơn
Việc khẳng định vai trò của “địa linh, nhân kiệt”, ca ngợi vai trò của Lê Lợi,
lãnh tụ của nghĩa quân Lam Sơn là thể hiện sức mạnh đoàn kết của nhân dân trong
công cuộc chống xâm lược. Đây là một đề tài xuất hiện khá nhiều trong thơ, phú thời
đầu Lê, tiêu biểu là các tác giả: Nguyễn Mộng Tn, Nguyễn Trãi, Lí Tử Tấn, Trình
Thuấn Du. Chắc hẳn những bậc Nho sĩ, trí thức như Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân,
Lí Tử Tấn muốn lấy văn chương, và qua văn chương để kín đáo, tế nhị nhắc nhở các
bậc đế vương. Từ vua sáng nghiệp như Lê Thái Tổ, tiếp sau đến vua Lê Thái Tơng lên
ngơi cịn trẻ tuổi, sự nghiệp trị vì lâu dài trước mắt, cho nên bài học về truyền thống
đoàn kết nhân dân càng vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, khi cuộc kháng chiến đi đến
thắng lợi hoàn toàn, biên cương ổn định, vương triều vững mạnh thì vua Lê Thái Tổ lại
có những việc làm trái ngược với thân dân, nghi ngờ những nhân vật lỗi lạc đã cùng
nhà vua lãnh đạo cuộc đấu tranh chống quân Minh xâm lược. Vì vậy, tư tưởng thân
dân không phải là tư tưởng một chiều, bất biến mà có khi lại chịu sự quy định của điều
kiện hiện thực lịch sử.
4.1.2. Ý thức về trách nhiệm của kẻ sĩ đối với người dân
Sau chiến tranh, đứng trước nhiệm vụ xây dựng đất nước và đem lại cuộc sống
ấm no cho nhân dân, Lê Thái Tổ đã ban hành Chiếu cầu hiền tài, kêu gọi những ai có

quốc ưu dân thôi thúc, mãnh liệt như “nước triều đông” cuồn cuộn chảy trong trái tim
đầy nhiệt huyết của nhà thơ, thì trong thơ chữ Hán, Ức Trai đã bày tỏ lòng ưu ái vì
nước vì dân cơ đọng, kết tinh như hạt châu nơi đáy bể. Nguyễn Trãi nhắc nhiều đến lí
tưởng "ái quốc ưu dân" - một nội dung quan trọng của học thuyết Nho giáo. Tuy nhiên
thơ ông không phải là sự lặp lại một cách khô cứng những lí thuyết có sẵn mà thể hiện
chiều sâu những suy tư trăn trở. Nhưng nỗi lòng thương dân của Nguyễn Trãi thường
đặt trong những thử thách, biến cố lớn của chính sự, thời cuộc, có lúc đã rơi vào bi
kịch đớn đau. Hoài bão cháy bỏng về một xã hội vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu
Thuấn của Nguyễn Trãi không thực hiện được, nhưng trong lịng Ức Trai, đó là lí
tưởng chân thành và tha thiết muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp, trong đó có những
bậc đế vương ln quan tâm đến đời sống của nhân dân, coi đời sống nhân dân là mục
đích của đời mình. Trong sáng tác của Nguyễn Trãi ta còn thấy một điểm mới ở tư
tưởng thân dân của ơng. Đó là sự trân trọng dân, biết ơn dân. Ơng khơng chỉ coi dân là
niềm ưu ái thứ nhất của đời mình mà cịn nhận ra vai trò sức mạnh to lớn của dân, chở
thuyền và lật thuyền cũng là dân. Trọng dân, ông xem dân là động lực, là sức mạnh tạo


18
nên mọi biến cố xã hội. Trong cuộc kháng chiến gian khổ chống giặc Minh, người anh
hùng yêu nước ấy thấy rõ vai trò của nhân dân trong việc làm nên chiến thắng của dân
tộc. Khẳng định vai trò của tầng lớp manh (người dân cày lưu tán), lệ (người tơi tớ đi
ở), đó là một tư tưởng lớn của Ức Trai trong “Đại cáo bình Ngơ”. Chính vì trọng dân
mà vị đại quan như Nguyễn Trãi ln giữ mình thanh cao. Ơng ln sợ mất lịng người
dân. Nỗi lo ấy là lo giữ được chữ tín trong dân, để dân tin, dân trọng, dân làm theo.
Nỗi lo ấy là nỗi lo không giữ được phẩm chất, cốt cách của mình thanh cao giữa cuộc
sống mà “miệng thế nhọn hơn chơng mác nhọn”. Nguyễn Trãi thấy được vai trị lớn
lao của dân không chỉ trong kháng chiến mà ngay trong cuộc sống đời thường. Ông
nhận thức sâu sắc rằng những phường dân đen, con đỏ ấy làm ra của cải vật chất cho
xã hội. Thóc gạo, cơm ăn, áo mặc đều là do dân; lâu đài, cung điện đều do mồi hơi,
cơng sức của nhân dân. Những suy nghĩ đó khiến ông day dứt, cảm giác mang nợ dân,

Thánh Tơng đề cập nhiều đến vai trị của dân, từ đó xác định nghĩa vụ của dân đối với
nhà vua, cũng như thái độ, trách nhiệm của nhà vua, người cầm quyền đối với dân. Ở
cương vị ngôi vua, ông luôn luôn thương dân, lo dân, trọng dân và nghĩ về những
chính sách an dân. Ơng thi hành đường lối chính trị “nhân chính”, coi “an dân”,
“ni dân” là gốc rễ của đạo làm vua. Tư tưởng thân dân của Lê Thánh Tơng kế thừa
những hạt nhân tích cực trong tư tưởng thân dân, an dân của những tác giả tiến bộ
trước, như Trần Hưng Đạo, Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi,… và đã tiếp thu được ở
phần tư tưởng tích cực của Nho giáo “dân vi bang bản, bản cố bang ninh” (dân là gốc
nước, gốc vững thì nước mới bền).
Tiểu kết chương 4
Có thể nói, thơ văn thế kỷ XV đạt được những thành tựu rực rỡ của tư tưởng
thân dân. Nửa đầu thế kỷ XV, tư tưởng thân dân thể hiện trong những tác phẩm văn
học thời khởi nghĩa Lam Sơn nhưng tiêu biểu nhất là tác gia Nguyễn Trãi - ông không
chỉ là tác giả tiêu biểu ở nửa đầu thế kỷ XV mà còn là đại diện lớn của văn học trung
đại Việt Nam với những áng thơ văn mang nặng chí hướng ưu ái, tấm lịng hướng đến
nhân dân vẹn tồn, to lớn. Nửa sau thế kỷ XV, tư tưởng thân dân thể hiện nổi bật ở các
nhà thơ thời Hồng Đức và đặc biệt là trong các sáng tác của Hoàng đế Lê Thánh Tông.
Tập thơ “Hồng Đức quốc âm thi tập” đã dành một số lượng bài không nhỏ viết về
người dân với sự đồng cảm, mến yêu, gần gũi. Đáng chú ý nhất thời này là tác giả Lê
Thánh Tông - một Hồng đế u nước, giàu lịng nhân ái, thương dân sâu sắc. Ơng đề
cập nhiều đến vai trị của dân cũng như trách nhiệm của nhà vua, người cầm quyền đối
với dân. Ở cương vị cao nhất, ông ln ln tự răn mình phải kính trời, thương dân,
tạo nên một triều đại trên dưới đồng lòng, xã tắc bền vững. Đây chính là điểm đặc sắc
và đóng góp tích cực của tư tưởng thân dân văn học giai đoạn này.


20
Chương 5
TƯ TƯỞNG THÂN DÂN TRONG VĂN HỌC TỪ THẾ KỶ XVI
ĐẾN HẾT THẾ KỶ XVII


21
của nhân dân và sự chiêm nghiệm của bản thân. Nhìn suốt thơ chữ Hán và thơ Nơm
của Nguyễn Bỉnh Khiêm, ta thấy niềm ưu ái lớn của ông dành cho người dân thật sáng
trong, cao đẹp, bình dị mà sâu sắc. Tư tưởng và hành động, hoài bão và mong ước của
ông dành cho dân, cho nước mặc dù không được đông đảo giai cấp thống trị đương
thời chấp nhận và tích cực thực hiện nhưng đã có ảnh hưởng khá sâu sắc đến một bộ
phận không nhỏ quan lại, nho sĩ và nhân dân.
Tư tưởng và hành động, hồi bão và mong ước của ơng dành cho dân, cho nước
mặc dù không được đông đảo giai cấp thống trị đương thời chấp nhận và tích cực thực
hiện nhưng đã có ảnh hưởng khá sâu sắc đến một bộ phận không nhỏ quan lại, nho sỹ
và nhân dân. Nhiều người tơn thờ ơng, kính phục đạo đức và cuộc sống thanh bạch của
ơng, họ coi đó là tấm gương lớn mà suốt đời họ nguyện noi theo. Có người ngợi ca tri
thức của ông, cho rằng ông đã đạt tới sự tinh tuý, cao sâu nhất của đạo thánh hiền.
5.1.2. Tư tưởng thân dân trong sáng tác văn học của Phùng Khắc Khoan
5.1.2.1. Trọng dân, thương dân và hướng về cuộc sống bình dị của người dân
Đọc thơ Phùng Khắc Khoan, dù là chữ Hán hay chữ Nôm, ta thấy tư tưởng thân
dân luôn được thể hiện một cách nồng nhiệt và có nhiều điểm tương đồng với Nguyễn
Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trong hoàn cảnh loạn lạc, chiến tranh, quan lại hà khắc,
hồi bão chính trị của ơng tuy chưa thể vượt ra khỏi ý thức hệ phong kiến, mà vẫn cứ
không xa nguyện vọng của nhân dân ta thời đó. Nhà thơ thương dân vơ hạn, lo cho
dân, lao tâm khổ tứ, tìm mưu tính kế để cứu dân thốt khỏi vịng nước sơi lửa bỏng.
Ơng đã biến những suy tư ấy thành hành động giúp dân, giúp nước thiết thực và mãnh
liệt. Là bậc đại nho nhưng sinh ra và lớn lên từ thôn quê làng Bùng, Phùng Khắc
Khoan đúng là một ông trạng quê, sống gần gũi nhân dân nên hơn ai hết ông rất am
hiểu tâm tư tình cảm của họ, ơng q trọng cơng sức khó nhọc của dân để làm ra hạt
gạo. Thương dân, nhà thơ mong ước sao năm nào người nông dân cũng được mùa, lúa
chất ăm ắp đầy kho, bởi đó khơng chỉ là phúc lành của dân mà cịn là niềm vui thái
bình của đất nước. Tấm lịng nhân ái, thương dân của Phùng Khắc Khoan còn thể hiện
rất thực tiễn qua những việc ông làm. Điều này được thể hiện qua bài Lâm tuyền vãn.

một nhà nho, tác giả Thiên Nam ngữ lục tất nhiên sẽ chịu sự chi phối ý thức hệ chính
trị của thời đại, song Thiên Nam ngữ lục rất chú ý đề cao vai trị, vị trí của người dân.
Dân là gốc. Phải vun trồng cái gốc ấy thì thánh chủ hiền thần mới xây dựng được cảnh
thái bình thịnh trị. Chữ “dân” được trở đi trở lại nhiều lần khi nhấn mạnh sự thịnh suy,
hưng phế của các triều đại.
5.2.2. Cách nhìn lịch sử theo quan điểm của nhân dân, phù hợp với đạo lí, chính nghĩa
Qua các tác phẩm Thiên Nam minh giám và Thiên Nam ngữ lục, ta thấy một
điểm chung rất tiến bộ trong tư tưởng thân dân của các tác giả là khi viết về các gương
sáng trời Nam, các bậc thánh đế, minh vương, anh hùng, hào kiệt, một mặt, các tác giả
tin và giải thích theo hướng “thiên mệnh” của tư tưởng Nho giáo. Mặt khác, do sống
gần nhân dân và tiếp thu ảnh hưởng của văn hóa, văn nghệ dân gian nên các tác giả lại



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status