THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
NGOÀI QUỐC DOANH TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT
TRIỂN NÔNG THÔN LÁNG HẠ
2.1 Tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh ngân hàng nông nghiệp
Láng Hạ
2.1.1 Giới thiệu về chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Láng Hạ.
2.1.1.1 Sự hình thành và phát triển.
Sau hơn 10 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã thực sự bắt nhịp được với
cơ chế thị trường, đất nước nhanh chóng thoát khỏi nguy cơ khủng hoảng kinh tế
triền miên, tỷ lệ lạm phát giảm xuống còn ở mức độ thấp, trình độ dân trí được cải
thiện, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong suốt năm 1991 đến năm 1997
đạt 8% đến 9%. Chính sự ổn định, hệ thống pháp luật ngày càng được cải thiện, tạo
một môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp sự thành công này có
sự đóng góp to lớn của hệ thống ngân hàng nông nghiệp Việt Nam .
Ngân hàng Nông Nghiệp Việt Nam được thành lập tháng 8 năm 1988 nhằm
đáp ứng nhu cầu cấp bách của nền kinh tế, góp phần tích cực thúc đẩy nền kinh tế,
ổn định tiền tệ. Với thị trường hoạt động chủ yếu là khu vực nông thôn, lĩnh vực
nông nghiệp và đối tượng nông dân là chủ yếu. Nhằm chuyển đổi mô hình hoạt
động của các ngân hàng thương mại theo dạng tổng công ty, ngày 15/10/1996
thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam đã ra quyết định số 280/NĐ - NH thành
lập ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam trên cơ sở thừa kế
thừa mô hình tổ chức ngân hàng nông nghiệp Việt Nam trước đây.
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn là một ngân hàng thương
mại quốc doanh chủ đạo trong việc cung ứng vốn cho thị trường nông thôn, góp
phần đưa nền kinh tế nông thôn phát triển kịp với kinh tế thành thị. Nhưng sau
nhiều năm hoạt động, từ một ngân hàng không bù đắp nổi chi phí nay đã vươn lên
hoạt động kinh doanh có lãi, năm sau tăng hơn năm trước và liên tục vượt các chỉ
tiêu kế hoạch đã đề ra. Trước những yêu cầu ngày càng gia tăng của nền kinh tế,
đòi hỏi về nhu cầu vốn và các dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển của các
nơi có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao là môi trường thuận lợi để ngân hàng hoạt
động kinh doanh.
Khó khăn:
- Do mới thành lập cho nên số lượng biên chế cán bộ thiếu và số cán bộ
được điều động về thì trình độ không đồng đều, còn bất cập.
- Thành phố Hà Nội có trên 60 tổ chức tín dụng có bề dày lịch sử trong kinh
doanh là một bất lợi cho cho chi nhánh ngân hàng nông nghiệp Láng Hạ trong việc
khởi đầu sự nghiệp kinh doanh.
- Hầu hết những đơn vị đã sản xuất kinh doanh tốt được các ngân hàng tín
nhiệm đều không muốn chuyển sang quan hệ với ngân hàng mới thành lập như chi
nhánh ngân hàng nông nghiệp Láng Hạ vì ngại phải tạo lập mối quan hệ mới và
không có lý do trở ngại khó khăn khi giao dịch với các ngân hàng cũ.
Mặc dù ra đời trong những điều kiện thuận lợi và khó khăn trên nhưng chi
nhánh ngân hàng nông nghiệp Láng Hạ vẫn hoàn thành nhiệm vụ, thu hút được
khách hàng, góp phần thực hiện nhiệm vụ ổn định, phát triển kinh tế xã hội, tạo
vốn cho các doanh nghiệp trên đại bàn Hà Nội. Mặt tốt, chi nhánh vẫn làm tốt các
nghiệp vụ truyền thống, như các ngân hàng thương mại khác, đó là tổ chức huy
động tiền gửi của các tổ chức kinh tế, các tầng lớp dân cư, kinh doanh tín dụng và
làm các dịch vụ thanh toán.
Thế mạnh của chi nhánh ngân hàng nông nghiệp Láng Hạ là nguồn vốn huy
động vốn đa dạng và phong phú từ nhiều thành phần kinh tế, chi nhánh ngân hàng
nông nghiệp nông thôn Láng Hạ luôn luôn có được một lượng vốn dồi dào đủ để
ddáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và còn hỗ trợ cho trung tâm điều
hành, để điều hoà vốn giữa các chi nhánh. Đi đôi không tách rời với công tác huy
động vốn thì công tác sử dụng vốn cũng được đặc biệt chú trọng quan tâm thường
xuyên, mục tiêu của công tác này là " chất lượng hiệu quả và an toàn vốn tín
dụng", điều kiện tiên quyết cho công tác tín dụng là chấp hành nghiêm túc các chế
độ được ban hành, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát và quan tâm đến đội
ngũ cán bộ tín dụng, bố trí các cán bộ nhiệt tình, có trình độ, đạo đức tốt làm công
tác tín dụng.
năm 98
Kế hoạch Thực hiện
1
2
3
4
5
Tổng nguồn vốn
Tổng dư nợ
Nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn
Lợi nhuận
857.844
80.410
559
0,74
18.004
1.012.000
222.000
440
2,2%
18.000
1.142.652
520.897
332
0,06%
23.018
+130.652
+298.987
- 108
bộ được bố trí sắp xếp như sau:
Ban giám đốc gồm:
01 Giám đốc phụ trách chung.
02 Phó giám đốc, trong đó 01 phó giám đốc phụ trách kinh doanh, 01 phó
giám đốc phụ trách thanh toán quốc tế. Có 4 phòng ban chức năng, thể hiện qua sơ
đồ sau:
2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh ngân hàng nông nghiệp
Láng Hạ trong những năm gần đây
2.1.2.1 Tình hình huy động vốn
Một số kết quả đạt được trong công tác huy động vốn qua mấy năm cuả
chi nhánh ngân hàng nông nghiệp Láng Hạ được thể hiện qua bảng tổng hợp
sau :
Phòng kế toán
ngân quỹ
Phòng thanh toán
quốc tế
Phòng hành
chính
Phòng kinh
doanh
Phó giám đốc phụ trách thanh
toán quốc tế
Phó giám đốc phụ trách kinh
doanh
Giám đốc
Bảng 2 : Hoạt động huy động vốn
Đơn vị: triệu đồng
Chỉ tiêu 31/12/1997 31/12/1998 31/12/1999
Tổng nguồn vốn huy động 233.000 857.8444 1.142.652
Trong đó bằng VNĐ 222.500 797.158 986.920
31/12/1998 31/12/1199
Số tiền % Số tiền %
1. Tiền gửu có kỳ hạn
2. Tiền gửi không kỳ hạn
3. Kỳ phiếu trái phiếu
4. Huy động vốn khác
5. Huy động ngoại tệ (quy ra VNĐ)
334.005
77.561
173.655
211.937
60.686
38.9
9.0
20.2
24.8
7.1
181.145
209.471
5.425
590.879
155.732
15.9
18.3
0.5
51.7
13.6
Tổng nguồn vốn 857.844 100 1.142.652 100
(Nguồn: báo cáo kết quả kinh doanh năm 98-99)
tiến hành các nghiệp vụ phát hành kỳ phiếu, trái phiếu với mức lãi xuất hấp dẫn
hơn. Việc phát hành kỳ phiếu, trái phiếu chủ yếu theo đợt và nhằm để đáp ứng nhu
cầu vốn cho sản xuất kinh doanh đột xuất của khách hàng, như đợt phát hành kỳ
phiếu có mục đích. Ngoài ra, đôi khi chi nhánh ngân hàng nông nghiệp Láng Hạ
phát hành kỳ phiếu nhằm thực hiện các chính sách tiền tệ của ngân hàng nông
nghiệp hoặc thực hiện huy động vốn theo uỷ nhiệm của ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn Việt Nam .
d. Huy động vốn khác :
Do làm tốt công tác Marketing, cho nên trong thời gian qua chi nhánh ngân
hàng nông nghiệp Láng Hạ đã phát triển mối quan hệ chặt chẽ với các đơn vị quản
lý đầu một ngành, nhằm huy động vốn nhàn rỗi từ các tổ chức và tạo nên nguồn
vốn huy động phong phú cho ngân hàng. Nguồn vốn này luôn chiếm tỷ trọng lớn
trong cơ cấu huy động vốn, năm 1998 đã dạt được 450 tỷ đồng tăng hơn 2 lần so
với năm 1998.
Trên cơ sở định hướng đúng đắn chiến lược huy động vốn bằng nhiều hình
thức phong phú, đa dạng trong tiếp thị với khách hàng thuộc mọi ngành, mọi thành
phần kinh tế, với nhiều mức lãi xuất thích hợp nên đã thu hút được tiền gửi vốn
chuyên dùng của nhiều tổ chức khác như nhau: Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế,
Công ty dịch vụ tiền gửi tiết kiệm bưu điện, quỹ phát triển đầu tư. Năm 1999 tiền
gửi vốn chuyên dùng chỉ đạt 139 tỷ đồng chiếm 23.5% trong tổng số và gấp 12,3
lần so với năm 1998. Ngoài ra các khoản chờ thanh toán khác tăng khá nhanh.
Năm 1998 là 211.937 triệu đồng thì đến năm 1999 tăng lên đến 590.879 triệu
đồng, gấp 2,7 lần năm 1998.
e. Nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ.
Cũng như nghiệp vụ huy động vốn bằng nội tệ, chi nhánh ngân hàng nông
nghiệp Láng Hạ đang huy động vốn ngoại tệ chủ yếu bằng các hình thức sau :
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn của dân.
- Tiền gửi trên tài khoản của các tổ chức kinh tế.
Nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ cũng tăng khá nhanh, năm 1997 chỉ đạt
10,8 tỷ thì năm 1998 đã tăng lên 8,6 tỷ đồng gấp so với năm 1997 và tiếp tục tăng
46,25%
520.894
332
440.118
545,0%
(Nguồn:báo cáo kết quả hoạt động tín dụng của chi nhánh NHN
o
Láng Hạ)
Qua bảng số liệu trên ta thấy tổng dư nợ cho vay của chi nhánh ngân hàng
nông nghiệp Láng Hạ đã luôn tăng trưởng. Tổng dư nợ 31/12/1997 đạt 55.230 triệu
đồng thì đến 31/12/1998 đạt là 80.776 triệu đồng, tăng 46,25% so với năm 1997,
và bước sang năm 1999, tổng dư nợ là 520894 triệu đồng tăng 545% so với năm
1998, gấp 6,45 lần tổng dư nợ năm 1998. Nhưng đến năm 1998 bắt đầu xuất hiện
nợ quá hạn là 599 triệu đồng chiếm 0,74%. Đến năm 1999 dư nợ quá hạn giảm
xuống 332 triệu đồng, chiếm 0,0637% tổng dư nợ. Dư nợ quá hạn đã giảm và
chiếm tỷ lệ rất thấp. Có thể nói ngân hàng đã thực hiện mục tiêu: tăng trưởng
nhanh và đảm bảo chất lượng tín dụng.
2.1.2.3 Hoạt động thanh toán qua ngân hàng.
Ngay từ khi hoạt động, chi nhánh ngân hàng đã đạt được kết quả khá cao
trong công tác trong công tác thanh toán qua ngân hàng. Điều đó đã được bảo hiểm
xã hội các cấp ghi nhận :
+ Phong cách phục vụ của hệ thống ngân hàng nông nghiệp tốt hơn so với
kho bạc các cấp .
+ Các dịch vụ thanh toán, an toàn, nhanh chóng, kịp thời và thuận lợi. Về
phía chi nhánh cũng tạo được nguồn vốn dồi dào và nguồn thu nhập về dịch vụ
chuyển tiền .
+ Xây dựng được phong cách giao tiếp tốt với khách hàng. hoạt động thanh
toán ngân hàng được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 5: Tình hình thanh toán qua chi nhánh.
Đơn vị: triệu đồng
2.1.2.4. Một số hoạt động khác
Hoạt động đối ngoại và thanh toán quốc tế mặc dù còn mới mẻ nhưng bước
đầu đã đạt được những kết quả đáng mừng. Chi nhánh cũng đã thực hiện thanh
toán qua mạng SWIFT. Hoạt động thanh toán quốc tế được kiểm tra, kiểm soát
chặt chẽ, ít xảy ra sai sót. Nhìn chung chất lượng thanh toán quốc tế ngày càng
được nâng cao, đảm bảo an toàn. Điều đó giúp chi nhánh có khả năng cạnh tranh
hơn nữa, thu hút được nhiều khách hàng xuất nhập khẩu lớn, có khả năng tài chính
an toàn như: Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam, công ty đầu tư công nghệ FPT. Cụ
thể tình hình thanh toán quốc tế tại chi nhánh qua bảng 6.
Bảng 6: Tình hình thanh toán quốc tế
Đơn vị: triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm 1997 Năm 1998 Năm 1999
Số
món
Số tiền
Số
món
Số tiền
Số
món
Số tiền
1. LC nhập khẩu
2. LC xuất khẩu
3. Thanh toán TTR
4. Thanh toán bằng
nhờ thu
17
nguồn ngoại tệ 1 cách đáng kể, thể hiện ở bảng sau:
Bảng 7: Tình hình mua bán ngoại tệ tại chi nhánh
Đơn vị: triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 1997 Năm 1998 Năm 1999
1. Doanh số 1.941.940,08USD 119.452.493,60USD 63.318.798 USD
mua vào
2. Doanh số
bán ra
1.931.335,37USD
89.411.800,00 JPY
28.759,00 DM
435.000,00 SGD
116.333.406,59USD
89.411.800,00 JPY
28.759,000 DM
435.000,00 SGD
2.878.270 JPY
7.335 DM
66.647.142USD
2.888.270 JPY
7.335 DM
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh đối ngoại năm 97, 98, 99)
Nếu như năm 1997, hoạt động mua bán ngoại tệ còn thụ động, chủ yếu phục
vụ khách hàng có nhu cầu xuất nhập khẩu, chưa thực sự mang tính kinh doanh giữa
các nguồn hàng. Việc mua bán còn hạn chế ở một số hình thức và chỉ ở một loại
ngoại tệ duy nhất là USD nên hiệu quả chưa cao. Sang năm 1998, lượng mua bán
ngoại tệ tăng gấp 62,4 lần năm 1997 và phong phú hơn về ngoại tệ gaio dịch. Sang
năm 1999, do khó khăn về ngoại tệ, do sự thay đổi về chính sách ngoại hối trở nên
chặt chẽ hơn nên mua bán ngoại tệ đã giảm xuống. Mặt khác năm 1999, nhu cầu
ngoại tệ không gay gắt như trước do đó số lượng mua bán ngoại tệ giảm xuống so
ăn với nước ngoài.
Bên cạnh những kết quả đáng mừng đó, chi nhánh ngân hàng nông nghiệp
Láng Hạ cũng bộc lộ những hạn chế:
Thứ nhất
Hoạt động ngân hàng cũng chỉ ở một số nghiệp vụ truyền thống, các nghiệp
vụ ngân hàng hiện đại chưa triển khai được như: thanh toán thẻ tín dụng, chi trả
tiền tự động .
Thứ hai
Cơ sở vật chất còn thiếu, khách hàng quan hệ tín dụng với ngân hàng chủ yếu
là các doanh nghiệp nhà nước, các tổng công ty 90-91, còn các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh chỉ có một số công ty trách nhiệm hữu hạn. Các thành phần kinh tế
khác như cá nhân sản suất, kinh doanh, các doanh nghiệp liên doanh ...quan hệ với
ngân hàng rất ít.
Thứ ba
Do thiếu cán bộ nên một người vẫn phải kiêm nhiệm đồng thời nhiều công
việc. Đội ngũ cán bộ trẻ, ít kinh nghiêm, trình độ còn bất cập so với yêu cầu kinh
doanh của ngân hàng trong cơ chế thị trường.
Bước sang năm 2000, năm bản lề giữa hai thế kỷ, năm có nhiều thuận lợi và
thách thức mới với ngành ngân hàng nói chung, hệ thống ngân hàng nông nghiệp
và phát triển nông thôn nói riêng. Kết quả đạt được trong những năm qua đã tạo đà
cho chi nhánh bước vào thiên niên kỷ mới, có nhiều thuận lợi nhưng cũng gặp
không ít khó khăn. Từ đó đòi hỏi chi nhánh ngân hàng nông nghiệp Láng Hạ phải
tiếp tục đổi mới phát triển toàn diện, vững chắc, hiệu quả và an toàn cả về huy
động vốn, dư nợ tín dụng, dịch vụ ngân hàng, thanh toán và tài chính. Muốn vậy,