Công nghiệp hoá hiện đại hoá và Vai trò củachính quyền
cấp tỉnh đối với sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá
1.1. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong sự nghiệp xây
dựng CNXH ở nớc ta.
1.1.1. Khái quát về công nghiệp hoá, hiện đại hoá
- Các quan niệm về công nghiệp hóa
CNH đã có chiều dài lịch sử trên 200 năm, đến nay vẫn còn là vấn đề thời sự và
là vấn đề bức xúc đối với các nớc đang phát triển.
Tất cả các nớc từ sản xuất nhỏ tiến lên sản xuất lớn, từ một nớc nông nghiệp lạc
hậu trở thành một nớc công nghiệp hiện đại, đều phải trải qua công nghiệp hoá. Đó là
con đờng xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho nền sản xuất lớn, hiện đại. Đây là
quy luật chung, phổ biến đối với tất cả các nớc.
Hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về CNH. Trong bối cảnh ấy, điều
quan trọng là phải hiểu thực chất của sự nghiệp CNH, trên cơ sở đó vận dụng phù
hợp với điều kiện thực tế của mỗi nớc trong việc thực hiện nhim v này.
CNH là quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại cho tất cả các
ngành kinh tế quốc dân, trớc hết là các ngành chiếm vị trí trọng yếu. Điều đó tất yếu
sẽ dẫn tới thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân.
Sự nghiệp CNH không chỉ liên quan đến phát triển công nghiệp mà là quá trình
bao trùm lên tất cả các ngành, các lĩnh vực hoạt động của một nớc, nhất là nớc ta từ
một nớc nông nghiệp dựa trên sức lao động thủ công là chính quá độ lên CNXH.
Sự nghiệp CNH cũng đồng thời là quá trình mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế.
Nh vậy, sự nghiệp CNH vừa là quá trình kinh tế - kỹ thuật, vừa là quá trình kinh
tế - xã hội. Việc thực hiện thành công CNH sẽ xây dựng đợc một nền kinh tế công
nghiệp có trình độ phát triển cao, khoa học công nghệ tiên tiến, cơ cấu kinh tế hợp lý.
Điều đó dẫn đến sự biến đổi về cơ cấu xã hội - dân c rất khác so với nền kinh tế nông
nghiệp. Đó là xuất hiện nhiều khu công nghiệp lớn, nhiều thành phố lớn, ngời dân
sống rất tập trung, trong đó dân c công nghiệp và lc lng lao động trong công
nghiệp chiếm đa số; có cơ cấu giai cấp rất khác so với trớc; trình độ của ngời lao
động cũng nh dân trí và chất lợng cuộc sống của nhân dân nâng cao; làm thay đổi
Kinh nghiệm về CNH của các nớc đi trớc và qua thực tiễn kiểm nghiệm, kết hợp
với sự phát triển mạnh của khoa học công nghệ và quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng
đợc mở rộng, quan niệm về CNH, HĐH đợc hiểu nh sau: CNH chính là một cuộc
cách mạng về lực lợng sản xuất, làm thay đổi căn bản kỹ thuật, công nghệ, sản xuất,
tăng năng xuất lao động. HĐH là quá trình thờng xuyên cập nhật và nâng cấp những
công nghệ hiện đại nhất, mới nhất trong quá trình CNH. Trong thời đại ngày nay,
CNH luôn gắn liền với HĐH.
CNH, HĐH là quá trình trang bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại cho nền kinh tế
quốc dân, trớc hết là các ngành giữ vị trí quan trọng, biến một nớc có nền kinh tế
kém phát triển thành một nớc có nền kinh tế phát triển, thành một nớc công nghiệp
hiện đại.
ở Việt Nam, ng cộng sản Việt Nam cho rằng: "CNH, HĐH là quá trình
chuyển đổi cơ bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và qun lý
kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến
sức lao động cùng với công nghệ, phơng tiện, phơng pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên
sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao
động xã hội cao". Quan niệm này nói lên phạm vi và vai trò đặc biệt quan trọng của
CNH, HĐH trong phát triển kinh tế xã hội, gắn liền đợc hai phạm trù, không thể tách
rời là CNH và HĐH. Có thể thấy rằng, quan niệm về CNH này phù hợp với điều kiện
cụ thể của Việt Nam và bối cảnh thế giới ngày nay. Đó là nhấn mạnh hơn yếu tố
khoa học - công nghệ bằng việc gắn CNH với HĐH "để đến năm 2020 nớc ta cơ bản
trở thành một nớc công nghiệp".
1.1.2. Tính tất yếu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong sự nghiệp
xây dựng CNXH ở nớc ta.
Xuất phát từ lý luận hình thái kinh tế xã hội cho thấy xã hội loài ngời đã
phát triển trải qua nhiều hình thái kinh tế xã hội nối tiếp nhau. C.Mác đã đi đến
khẳng định: Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử
tự nhiên.
Hình thái kinh tế xã hội là một hệ thống, trong đó các mặt không ngừng tác
động qua lại lẫn nhau tạo thành các quy luật vận động, phát triển khách quan của xã
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ta nhấn mạnh: Mục tiêu của công
nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nớc ta thành một nớc công nghiệp có cơ sở
vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ câú kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp
với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao,
quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng dân chủ
văn minh. Tại Đại hội này, Đảng ta cũng xác định rõ mục tiêu phấn đấu đến năm
2020 đa nớc ta cơ bản trở thành một nớc công nghiệp. Điều này hứa hẹn mở ra những
bớc đột phá trong nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, góp phần thực hiện dân giàu, nớc
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
CNH phải gắn liền với HĐH. Sở dĩ nh vậy là vì trên thế giới đang diễn ra
cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, một số nớc phát triển đã bắt đầu
chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, nên phải tranh thủ ứng dụng
những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, tiếp cận kinh tế tri thức
để hiện đại hóa những ngành, những khâu, những lĩnh vực có điều kiện nhảy vọt.
CNH nhằm mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. CNH là tất yếu với tất
cả các nớc chậm phát triển nhng với mỗi nớc, mục tiêu và tính chất của công nghiệp
hóa có thể khác nhau. ở nớc ta, CNH nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ
nghĩa xã hội, tăng cờng sức mạnh để bảo vệ nền độc lập dân tộc.
CNH trong điều kiện cơ chế thị trờng có sự điều tiết của nhà nớc. Điều này làm
cho công nghiệp hóa trong giai đoạn hiện nay khác với công nghiệp hóa trong thời
kỳ trớc đổi mới. Trong cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung - hành chính,
bao cấp, CNH đợc thực hiện theo kế hoạch, theo mệnh lệnh của Nhà nớc. Trong cơ
chế kinh tế hiện nay, Nhà nớc vẫn giữ vai trò hết sức quan trọng trong quá trình CNH
. nhng CNH không xuất phát từ chủ quan của Nhà nớc, nó đòi hỏi phải vận dụng các
quy luật khách quan mà trớc hết là các quy luật thị trờng.
CNH,HĐH nền kinh tế quốc dân trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, vì thế mở
cửa nền kinh tế, phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế là tất yếu đối với nớc ta.
Mục tiêu tổng quát của sự nghiệp CNH của nớc ta đợc Đảng Cộng sản Việt
Nam xác định tại Đại hội lần thứ VIII và tiếp tục đợc khẳng định tại Đại hội lần thứ
IX, Đại hội X là: Đa nớc ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời
Trong xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa về kinh tế đang phát triển mạnh mẽ,
trong điều kiện cách mạng khoa học - kỹ thuật và công nghệ hiện đại phát triển rất
nhanh chóng; những thuận lợi và khó khăn về khách quan và chủ quan, có nhiều thời
cơ và cũng có nhiếu nguy cơ, vừa tạo ra vận hội mới, vừa cản trở, thách thức nền kinh
tế của chúng ta, đan xen với nhau, tác động lẫn nhau. Vì vậy, nớc ta phải chủ động
sáng tạo nắm lấy thời cơ, phát huy những thuận lợi để đẩy nhanh quá trình CNH tạo
ra thế và lực mới để đa nền kinh tế tăng trởng, phát triển bền vững.
1.1.3. Nội dung công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong sự nghiệp xây dựng
CNXH ở nớc ta.
Thứ nhất, phát triển lực lợng sản xuất cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH
trên cơ sở thực hiện cơ khí hoá nền sản xuất xã hội và áp dụng những thành tựu
khoa học công nghệ hiện đại.
Qúa trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trớc hết là quá trình cải biến lao động
thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng máy móc, tức là phải cơ khí hóa nền kinh
tế quốc dân. Đó là bớc chuyển đổi rất căn bản từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền
kinh tế công nghiệp.
Đi liền với cơ khí là hiện đại hóa và tự động hóa sản xuất từng bớc và trong
toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đòi hỏi phải xây dựng và phát triển mạnh mẽ các
ngành công nghiệp, trong đó chủ yếu là ngành chế tạo t liệu sản xuất. Sự phát triển
của các ngành chế tạo ra t liệu sản xuất là cơ sở để cải tạo, phát triển nền kinh tế
quốc dân , phát triển khu vực nông - lâm - ng nghiệp. Sự phân tích trên cho ta thấy
đối tợng công nghiệp hóa, hiện đại hóa là tất cả ngành kinh tế quốc dân nhng trớc hết
và quan trọng nhất là ngành công nghiệp sản xuất t liệu sản xuất.
Mục tiêu của CNH, HĐH còn là sử dụng kỹ thuật, công nghệ ngày càng tiên
tiến hiện đại nhằm đạt năng suất lao động xã hôi cao.Tất cả những điều đó chỉ có thể
đợc thực hiện trên cơ sở một nền khoa học - công nghệ phát triển đến một trình độ
nhất định.
Hiện nay nền khoa học của thế giới đang có sự phát triển mạnh mẽ, khoa học
đang trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp; khi mà công nghệ đang trở thành nhân tố
quyết định chát lợng sản phẩm, chi phí sản xuất... tức là đến khả năng cạnh tranh của
Qúa trình CNH, HĐH cũng là quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Cơ cấu của
nền kinh tế quốc dân là cấu tạo hay cấu trúc của nền kinh tế bao gồm các ngành kinh
tế, các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế... và mối quan hệ hữu cơ giữa chúng.
Trong cơ cấu của nền kinh tế, cơ cấu các ngành kinh tế là quan trọng nhất, quyết
định các hình thức cơ cấu kinh tế khác. Cơ cấu kinh tế hợp lý là điều kiện để nền
kinh tế tăng trởng, phát triển. Vì vậy CNH, HĐH đòi hỏi phải xây dựng cơ cấu kinh
tế hợp lý, hiện đại.
Cơ cấu kinh tế không ngừng vận động, biến đổi do sự vận động, biến đổi của
lực lợng sản xuất. Xu hớng chuyển dịch cơ cơ cấu kinh tế đợc coi là hợp lý, tiến bộ là
tỷ trọng khu vực công nghiệp và xây dựng, đặc biệt là tỷ trọng khu vực dịch vụ ngày
càng tăng; tỷ trọng khu vực nông, lâm, ng nghiệp và khai khoáng ngày càng giảm
trong tổng giá trị sản phẩm xã hội.
Qúa trình hình thành và phát triển các ngành kinh tế, nhất là những ngành có
hàm lợng khoa học cao; sự xuất hiện các vùng sản xuất chuyên canh tập trung...
không chỉ là biểu hiện của sự phát triển của lực lợng sản xuất, phát triển cơ sở vật
chất - kỹ thuật trong tiến trình CNH, HĐH mà còn làm cho cơ cấu kinh tế thay đổi
tiến độ.
Cơ cấu kinh tế hợp lý trong một nền kinh tế thị trờng hiện đại đòi hỏi công
nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ phát triển mạnh mẽ, hợp lý và đồng bộ.. Mạng lới
dịch vụ với t cách là một ngành kinh tế phát triển mới có thể phục vụ tốt cho sự phát
triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp và nông nghiệp.
Đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn. Phát triển toàn
diện, nông, lâm, ng nghiệp gần với công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản nhằm
khai thác có hiệu quả tiềm năng đa dạng của nông, lâm, ng nghiệp, bảo đảm vững
chắc yêu cầu an toàn lơng thực cho xã hội; tạo nguồn nguyên liệu có khối lợng lớn,
chất lợng cao, giá thành hạ, đủ tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu của công nghiệp chế biến;
tăng giá trị và khối lợng hàng xuất khẩu; tăng thêm việc làm và thu nhập cho ngời lao
động; phân công lại lao động xã hội, hình thành các điểm công nghiệp gắn liền với
đô thị hóa tại chỗ, mở mang thị trờng sản phẩm và dịch vụ cho công nghiệp.
Để thực hiện nhiệm vụ CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn cần phải chú
ta trong những năm trớc mắt cần thực hiện theo định hớng chung sau đây: chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu t dựa trên cơ sở phát huy các thế mạnh và các lợi thế
so sánh của đất nớc, tăng sức cạnh tranh, gắn với nhu cầu thị trờng trong nớc và
ngoài nớc, nhu cầu đời sống nhân dân và quốc phòng, an ninh. Tạo thêm sức mua của
thị trờng trong nớc và mở rộng thị trờng ngoài nớc, đẩy mạnh xuất khẩu.
Thứ ba, Thiết lập quan hệ sản xuất phù hợp theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
CNH ở nớc ta nhằm mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Do đó, CNH không
chỉ là phát triển lực lợng sản xuất, mà còn là quá trình thiết lập, củng cố và hoàn
thiện quan hệ sản xuất phù hợp theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Theo quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực
lợng sản xuất, bất cứ sự thay đổi nào của quan hệ sản xuất, nhất là quan hệ sở hữu về
t liệu sản xuất, cũng đều là kết quả tất yếu của lực lợng sản xuất. CNH, HĐH không
chỉ là phát triển mạnh lực lợng sản xuất, khơi dậy và khai thác mọi tiềm năng kinh tế,
mọi nguồn lực để thúc đẩy tăng trởng kinh tế và tùy theo trình độ phát triển của lực l-
ợng sản xuất mà quan hệ sản xuất sẽ từng bớc đợc cải biến cho phù hợp.
Trình độ xã hội hóa cao của lực lợng sản xuất hiện đại tất yếu đòi hỏi phải xác
lập chế độ công hữu về những t liệu sản xuất chủ yếu. Vì vậy, khi cơ sở vật chất - kỹ
thuật của chủ nghĩa xã hội đợc xây dựng xong về căn bản thì chế độ công hữu sẽ
chiếm u thế tuyệt đối. Nhng để đạt tới trình độ đó phải trải qua quá trình phát triển
kinh tế - xã hội lâu dài trong đó quan hệ sản xuất đợc cải biến dần từ thấp đến cao
theo trình độ phát triển của lực lợng sản xuất. Tiêu chuẩn căn bản để xét một quan hệ
sản xuất nhất định có phù hợp với tính chất và trình độ lực lợng sản xuất hay không ?
có đúng định hớng xã hội chủ nghĩa hay không, là ở chỗ nó có thể thúc đẩy phát triển
lực lợng sản xuất và cải thiện đời sống nhân dân, tạo điều kiện thực hiện công bằng
xã hội tốt hơn hay không?
1.2. Vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
1.2.1. Xây dựng chiến lợc CNH, HĐH trên địa bàn tỉnh
1.2.1.1. Vai trò của việc xây dựng chiến lợc CNH, HĐH.
CNH, HĐH ở các nớc tiên tiến trên thế giới đã chứng minh rằng, nớc nào xây
Để thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH đòi hỏi phải xác định rõ CNH,
HĐH bằng những nguồn lực nào? Nh đã biết, các yếu tố quyết định đến thành bại
của CNH, HĐH mỗi tỉnh về cơ bản bao gồm: nguồn vốn, nguồn nhân lực và tiềm lực
khoa học - công nghệ, trong đó nguồn nhân lực trong tỉnh là yếu tố quyết định nhất.
Nguồn nhân lực đó sẽ quyết định phơng hớng, nội dung, bớc đi và biện pháp CNH,
HĐH; quyết định lựa chọn các yếu tố đầu vào, các nguồn lực khác để thực hiện;
quyết định việc tổ chức và thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH. Bởi vì, trong sự nghiệp
CNH, HĐH nếu không có đội ngũ đông đảo những ngời công nhân lành nghề, những
nhà khoa học tài năng, những nhà doanh nghiệp năng động, những nhà lãnh đạo,
qun lý tận tuỵ, biết nhìn xa trông rộng thì sự nghiệp CNH, HĐH khó có thể thành