THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG THẺ TÍN DỤNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM .
I. VÀI NÉT VỀ VCB VÀ THỊ TRƯỜNG THẺ TÍN DỤNG
1.Lịch sử hình thành của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và kết quả kinh
doanh
1.1/Lịch sử hình thành
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (NHNT) thành lập ngày 01/04/1963 mà
tiền thân là Cục ngoại hối Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, là một ngân hàng
thương mại quốc doanh đầu tiên của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Kể từ khi
thành lập đến nay ngân hàng Ngoại thương tên gọi tắt là Vietcombank(VCB) liên
tục giữ vai trò chủ lực trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, chuyên kinh doanh các
nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ đối nội , đối ngoại, thực hiện theo luật của các tổ
chức tín dụng và các luật khác của Việt Nam . Sau 40 năm xây dựng và trưởng
thành VCB đã góp phần tích cực phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước.
Khi mới thành lập, VCB mới chỉ có một cơ sở tại Hà Nội. Hiện nay, ngân
hàng đã phát triển thành một hệ thống gồm hội sở chính và 26 chi nhánh tại các
thành phố trong cả nước, 3 văn phòng đại diện nước ngoài và một công ty tài chính
với khoảng hơn 3000 nhân viên. Ngoài ra ngân hàngcòn đầu tư vào 14 các doanh
nghiệp: 3 liên doanh với nước ngoài, 6 ngân hàng cổ phần, 2 công ty bảo hiểm, 3
công ty kinh doanh bất động sản. NHNT đã thiét lập đại lý với hơn 1300 ngân hàng
thuộc 85 nước trên thế giới.
Trong suốt thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, NHNT là ngân hàng duy nhất
được Nhà nước giao nhiệm phục vụ thanh toán xuất nhập khẩu, tiếp nhận viện trợ,
vay nợ nước ngoài. Vào cuối những năm 80 và đầu năm 90, khi Việt Nam chuyển
sang cơ chế thị trường cùng với việc Nhà nước ban hành Luật Ngân hàng, VCB
không còn giữ vị trí độc tôn trong quan hệ quốc tế, tín dụng và thanh toán xuất
nhập khẩu nữa. Hàng loạt các ngân hàng thương mại cổ phần, các ngân hàng liên
doanh, các công ty tài chính ra đời đã đặt VCB dưới sự cạnh tranh quyết liệt. Dù
vậy với uy tín lâu năm, bề dày kinh nghiệm, quan hệ rộng rãi ngân hàng luôn có
tốc độ phát triển nhất định và luôn cung cấp các sản phẩm dịch vụ mới tiên tiến đặc
biệt là ngân hàng tiên phong đi đầu trong lĩnh vực thẻ thanh toán ở Việt Nam .
kết quả kinh doanh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
* Công tác huy động vốn :
Vốn huy động là nguồn vốn quan trọng và chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng
nguồn vốn của ngân hàng. Mặc dù tình hình phát triển kinh tế có nhiều khó khăn,
trở ngại song bằng các hình thức hữu hiệu như: đa dạng hoá các hình thức huy
động vốn, mở rộng mạng lưới các phòng giao dịch, đẩy mạnh hình thức thanh toán
thẻ, ... nên VIETCOMBANK luôn đạt được chỉ tiêu huy động vốn đề ra.
Vào thời điểm 31/12/2002, tổng nguồn vốn của VIETCOMBANK đạt được
là 81.942 tỷ VNĐ tăng 5,8%so với cuối năm 2001. Vốn huy động từ nền kinh tế
đạt 62.223 tỷ đồng, chỉ tăng 4,4% so với năm 2001. Trong đó vốn huy đông bằng
ngoại tệ ở mức 2,8 tỷ USD, giảm 5,7%, còn vốn huy động VND tăng 28,5%. Vốn
huy động VNĐ từ tiền gửi của tổ chức kinh tế (TCKT) tăng 1.681 tỷ(tăng
+13,4%), huy động từ dân cư (TK) tăng 2.670 tỷ(+96,6%), từ thị trường liên
ngân hàng (LNH) tăng 455 tỷ(+23,9%). Cơ cấu nguồn vốn thay đổi theo xu hướng
tăng tỷ trọng vốn từ dân cư từ cuối năm 2001- 34% lên 38%-năm 2001, giảm tỷ
trọng vốn từ liên ngân hàng xuống còn 16% so với 19% của năm 2001. Như vây
tính ổn định nguồn vốn đã thay đổi theo chiều thuận, song giá vốn đầu vào tăng
lên. Sở dĩ vốn huy động VNĐ đạt được mức tăng trưởng khả quan như vậy là nhờ
năm 2002 ngân hàng đã áp dụng các các giải pháp huy động vốn đa dạng, hấp dẫn.
* Công tác tín dụng :
VIETCOMBANK luôn đặt vấn đề “tăng trưởng - an toàn - hiệu quả”
trong sử dụng vốn gắn liền với nhau thành thể thống nhất. Vì vậy, trong những
năm qua công tác tín dụng của VIETCOMBANK tiếp tục được củng cố và tăng
trưởng. Riêng năm 2002 NHNT lấy quyết định là năm:” bứt phá tín dụng “, năm
cất cánh trong lộ trình tái cơ cấu, chủ động hội nhập. Tổng doanh số cho vay
năm 2002 đạt 71.116 tỷ VNĐ tăng hơn 60% và tổng doanh số thu nợ đạt 60.388
tỷ VNĐ. Tính đến 31/12/2002 tổng dư nợ tín dụng của VIETCOMBANK là
27610 tỷ tăng tới 64,8% trong đó dư nợ tín dụng trung và dài hạn đạt 10.556 tỷ
Biểu đồ3 : Cơ cấu
nguồn vốn huy động
nước ngoài là 9,8 tỷ tăng 159% so với cùng kỳ năm 2001. Ngân hàng đã thực
hiện SWAP với NHNN 58 triệu USD để cân đối nhu cầu vốn tiền VNĐ, đây
cũng là điểm mới trong năm 2002 thể hiện khả năng sử dụng ngày càng cao hiệu
quả các công cụ phái sinh trên thị trường ngoại hối của NHNT.
*Các hoạt động khác
Một số các hoạt động như bảo lãnh, thanh toán phi mậu dịch, phát hành và
thanh toán thẻ cũng đạt được một số kết quả khả quan. Năm 2002 , doanh số
phát hành thẻ tín dụng quốc tế đạt 7.710 thẻ tăng 152 % so với năm 2001, còn
doanh số thanh toán tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao với 5 loại thẻ chính như
Mastercard Card , Visa Card ,JBC, Amex, Dinner Club đạt 108.717 triệu USD
tăng 26% so với năm 2001. Bên cạnh đó hệ thống giao dịch tự động Connect 24
đã đi vào đời sống với gần 30.000 thẻ được phát hành, gần 40.00 tài khoản các
nhân với bình quân 3.000 giao dịch một ngày.
Năm 2002 là năm thứ hai liên tiếp NHNT đạt được thành tích nổi bật
trong việc xử lý nợ tồn đọng. Trích lập dự phòng được 978 tỷ VNĐ , sử dụng dự
phòng để xử lý được 1.137 tỷ VNĐ nợ xấu, bán và khai thác tài sản được 390 tỷ
VNĐ. Công tác Quản lý nợ và khai thác tài sản (ACM - VCB) bắt đầu đi vào
hoạt động vào đàu năm 2002 và tiếp nhận một số tài sản đảm bảo trị giá 158 tỷ
đồng để xử lý. Đến cuối năm 2002, ACM - VCB đã thu từ khai thác tài sản
khoảng 2,3 tỷ đồng và thu từ bán tài sản 45,7 tỷ đồng.
Song song với việc kinh doanh ngân hàng còn chú trọng đổi mới toàn diện
cơ cấu theo mô hình tổ chức hướng tới khách hàng nâng cao năng lực điều hành
và chất lượng nguồn nhân lực tạo nền tảng ban đầu để phát triển theo chiều sâu
trong những năm tiếp theo
*Kết quả kinh doanh
Bảng 2 : Tổng kết một số chỉ tiêu VCB năm 2000- 2002
(Đơn vị: tỷ VNĐ)
Chỉ tiêu 2000 2001 2002 +/- so với 2001
1. Tổng nguồn vốn 66.618 77.000 81.941 +64,3%
2. Doanh số cho vay 38.731 67.090 71.116 +60%
của nhà nước.
Giai đoạn đầu, Vietcombank với các ưu thế về uy tín quốc tế, bề dày kinh
nghiệm trong thanh toán thương mại xuất nhập khẩu là ngân hàng duy nhất cung
cấp dịch vụ về thẻ. Thế độc quyền không giữ được lâu, hứa hẹn về lợi nhuận kinh
doanh và những lợi ích thiết thực từ hoạt động thẻ tín dụng đã nhanh chóng thu hút
các ngân hàng Việt Nam tham gia loại dịch vụ mới lạ đầy triển vọng này. Các ngân
hàng Việt Nam đều chọn một lối đi giống nhau: thí điểm làm đại lý thanh toán cho
các ngân hàng về thẻ, sau đó mới tiến tới việc trực tiếp phát hành. Phương thức này
đem lại một mức hoa hồng thanh toán chắc chắn và một sự thận trọng kinh doanh
cần thiết. Năm 1995, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, ngân hàng thương mại
cổ phần Á Châu (ACB), First Vinabank, Ngân hàng Thương mại Cổ phần xuất
nhập khẩu Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức thẻ quốc tế
MasterCard International. Tháng 8 Năm 1998, Vietcombank, Ngân hàng thương
mại Á Châu, Ngân hàng Công thương Việt Nam và Ngân hàng Sài Gòn nối tiếp lần
lượt trở thành thành viên chính thức của tổ chức thẻ quốc tế Visa International.
Song song với sự phát triển đó, các loại thẻ MasterCard và Visa cũng lần lượt
chính thức được phát hành. Đầu năm 1997, hiệp hội các ngân hàng thanh toán thẻ
ở Việt Nam được thành lập và đi vào hoạt động đánh dấu một bước phát triển mới
trong hoạt động kinh doanh thẻ.
2.2/ Đặc điểm của thị trường thẻ tín dụng Việt Nam
Người ta nhìn nhận đây là một thị trường hoàn toàn mới đối với chính những
nhà kinh doanh ngân hàng chứ chưa nói gì đến đa số dân cư. Chính vì thế thị
trường thẻ tín dụng ở Việt Nam:”là một thị trường đầy tiềm năng nhưng đầu ra
chưa tương xứng”.
Thị trường thẻ Việt Nam là một thị trường lệ thuộc chặt chẽ vào dòng khách
quốc tế và doanh nhân vào Việt Nam. Sự tăng trưởng đến chóng mặt của doanh số
thanh toán suốt từ năm 1991 cho đến năm 1996 ( trung bình 200%/năm) đã bị chặn
lại và liên tục giảm sút từ cuối năm 1997 cho đến nay do sự sụt giảm của lượng
khách nước ngoài ( ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng khu vực). Năm 2000 doanh
số thanh toán thẻ tại thị trường Việt nam 220 triệu USD. Số lượng thẻ tín dụng
ngày. Các cơ quan, công ty, tổ chức cũng chưa quen với việc sử dụng thẻ trong
thanh toán và giao dịch. Không chỉ thẻ mà các phương tiện thanh toán không dùng
tiền mặt như séc, tài khoản các nhân cũng không phổ biến ở Việt nam. Nhận thức
được sự phát triển của công nghệ và sự cần thiết của các phương tiện thanh toán
không dùng tiền mặt, từ năm 1993, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có những
quy định đầu tiên đó là quyết định 74/QĐ- NH1, ngày 10/04 của Thống đốc
NHNN ban hành thể lệ tạm thời phát hành và sử dụng thẻ thanh toán nhằm tạo một
hành lang pháp lý cho việc phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ. Chính phủ và các
ngân hàng thương mại cũng đã có quyết định và biện pháp nhằm khuyến khích mở
tài khoản cá nhân và sử dụng phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt như:
Nghị định 91/CP, ngày 25/11/1993 của Chính phủ về tổ chức thanh toán không
dùng tiền mặt, điều 66- Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ 1/10/1998 qui định
về dịch vụ thanh toán, thể lệ mở và sử dụng tài khoản tiền gửi cá nhân và doanh
nghiệp tư nhân. Gần đây nhất là Quyết định số 371/1999/QĐ- NHNN về việc ban
hành quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ.
Môi trường cạnh tranh
Nghiệp vụ kinh doanh thẻ tín dụng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động
của ngân hàng. Hiện nay ở thị trường Việt Nam hầu hết các ngân hàng tham gia thị
trường thẻ tín dụng với tư cách là ngân hàng đại lý thanh toán. Cho tới nay, các
ngân hàng Việt nam đã chấp nhận thanh toán các loại thẻ thông dụng trên thế giới
như Mastercard, Visa, Amex,JCB và Diners Club. Do đặc điểm của thị trường thẻ
có những biến động trong những năm vừa qua ảnh hưởng rất lớn tới cho động
thanh toán.Từ năm (1990-1996), cùng với sự mở cửa của thị trường Việt nam,
doanh số thanh toán thẻ đã tăng nhanh với tốc độ trung bình đạt khoảng 200%/năm
và bị giảm sút một cách đáng kể từ sau năm 97 mặc dù có sự tham gia của nhiều
ngân hàng vào lĩnh vực chấp nhận thanh toán thẻ. Và hiện nay doanh số dã có
chiều hướng tăng đặc biệt là sau năm 2000, với doanh số cuối năm 2001 là 438,56
tỷ VNĐ. Số thành viên tham gia vào thanh toán thẻ với số lượng hạn chế ban đầu
là 4 thành viên và đến nay có 8 ngân hàng tham gia việc chấp nhận thanh toán thẻ
tín dụng quốc tế: VCB, ACB, UOB, ANZ, HSBC, Saigonbank, Eximbank,
chính mỗi một doanh nghiệp. Hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng có triển
vọng hay không phải nhờ đến khách hàng đó là những người trực tiếp sử dụng thẻ
và đơn vị chấp nhận thẻ- đó là những người kiến tạo thị trường.
Đối tượng khách hàng chủ yếu của dịch vụ thẻ tín dụng ở Việt Nam chủ yếu
là lượng lớn khách du lịch, những người nước ngoài sống và làm việc hay một số
các doanh nhân lớn thường xuyên công nước ngoài. Trong thời gian vừa qua các
ngân hàng đã biết tập trung chủ yếu vào những khách hàng tiềm năng và có những
biện pháp thu hút khách hàng như dịch vụ cấp phép 24/24, gia hạn mức tín dụng...
Ở Việt Nam hiện nay tồn tại loại hình điểm tiếp nhận thẻ truyền thống như
khách sạn, nhà hàng, du lịch, đại lý vé máy bay...các cửa hàng bán lẻ, siêu thị cũng
tham gia vào mạng lưới cơ sở chấp nhận thẻ. Tính đến đầu năm 2002, tổng số
lượng các đơn vị chấp nhận thẻ trên toàn quốc đạt trên 5000 đơn vị tăng trưởng
trên 75% so với năm 1996. Nhưng bên cạnh đó số lượng các dơn vị chấp nhận thẻ
chỉ tập trung chủ yếu ở các khu trung tâm, thành phố lớn và chỉ tập trung vào một
số đơn vị chủ yếu phục vụ cho người nước ngoài.
Tuy nhiên với xuất phát điểm như hiện nay, thị trường thẻ Việt nam phải giải
quyết vấn đề “ con gà, quả trứng”, đó là phát hành thẻ và mở rộng mạng lưới chấp
nhận thanh toán thẻ. Đây là hai công việc phụ thuộc và tác động lẫn nhau. Phát
triển phát hành thẻ sẽ thúc đẩy việc mở rộng mạng lưới chấp nhận thẻ, ngược lại
việc mở rộng mạng lưới chấp nhận thẻ sẽ góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho phát
hành và sử dụng thẻ. Các ngân hàng phải tập trung phát triển mạnh và đều cả hai
lĩnh vực.
Rủi ro trên thị trường thẻ
Trên thị trường thẻ tín dụng hiện nay cho thấy tình hình sử dụng và thanh
toán thẻ gian lận, giả mạo tại Việt Nam đang có chiều hướng gia tăng, và đã gây ra
những tổn thất về tài chính đối với các ngân hàng, đặc biệt đôi với các ngân hàng
nước ngoài. Những rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng chủ yếu là do
tình trạng sử dụng thẻ giả mạo để thanh toán, trong đó đặc biệt đối với hoạt động
chấp nhận thanh toán thẻ.
Bảng 4: Tình hình thanh toán thẻ tín dụng Visa Card, Master Card giả mạo tại Việt Nam