SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC ÁP DỤNG ISO9000 TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP
I. QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
1.Khái niệm về chất lượng sản phẩm
Trong những năm gần đây thuật ngữ “Quản lý chất lượng sản phẩm” được
nhắc nhiều trong báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng, tuy nhiên khái
niệm “chất lượng là gì?” vẫn còn nhiều điều chưa thống nhất. Nhưng tựu chung lại
có những định nghĩa chung nhất như sau:
Theo các chuyên gia về chất lượng họ cho rằng:
- Chất lượng là sự phù hợp với sử dụng, với công dụng
(Juran)
- Chất lượng là sự phù hợp với những yêu cầu hay đặc tính nhất định
(Crosby)
- Chất lượng sản phẩm là tập hợp các đặc tính kỹ thuật, công nghệ và vận
hành của sản phẩm, nhờ chúng mà sản phẩm đáp ứng được những yêu cầu của
người tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm
(Feigenbaum)
- Chất lượng là sự phù hợp với mục đích, ý định.
(TCQG Australia)
Để khắc phục hạn chế và phát huy mặt tích cực của các quan niệm trên, tổ
chức tiêu chuẩn chất lượng quốc tế (ISO) đã đưa ra khái niệm
- Chất lượng là một tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho
thực thể (đối tượng) đó khả năng thoả mãn nhu cầu đã nêu hoặc tiềm ẩn.
Có thể nói, chất lượng sản phẩm sẽ là nhân tố đắc lực để nâng cao khả năng
cạnh tranh của sản phẩm và hiệu quả kinh tế chung của toàn doanh nghiệp .
2. Nguyên lý về chất lượng.
Xuất phát từ thực tiễn SXKD, để thành công trong quản lý chất lượng hiện
đại, các nhà sản xuất cần có những quan điểm về chất lượng sản phẩm trên cơ sở
một số nguyên lý sau:
a. Chất lượng là đạo đức, là lòng tự trọng.
Thực chất đây là cách suy nghĩ, thái độ của nhà sản xuất đối với sản phẩm
bộ phận của doanh nghiệp.
Để đảm bảo chất lượng cần thiết phải nhìn nhận khách hàng và người cung
ứng là một trong những bộ phận của quá trình sản xuất. Việc xây dựng mối quan
hệ cộng tác lâu dài trên cơ sở hiểu lẫn nhau giữa nhà sản xuất - người cung ứng -
khách hàng sẽ giúp cho nhà sản xuất duy trì uy tín của mình. Đối với khách hàng,
nhà sản xuất coi chất lượng là mức độ thoả mãn. Đối với người cung ứng cần thiết
phải coi đó là một bộ phận quan trọng của yếu tố đầu vào trong doanh nghiệp. Để
đảm bảo chất lượng sản phẩm, doanh nghiệp cần thiết phải mở rộng hệ thống kiểm
soát chất lượng sang cơ sở cung ứng và thầu phụ của mình.
g. Chất lượng đòi hỏi khả năng và tinh thần trách nhiệm tự kiểm soát của mỗi
thành viên.
Cho đến nay hầu hết các doanh nghiệp có các chức năng sản xuất, phục vụ và
chức năng kiểm tra giám sát chất lượng thường được thực hiện bởi hai bộ phận
khác nhau: Người kiểm tra - người bị kiểm tra. Nhưng xoá đi hàng rào ngăn cách
thì bản thân mỗi người công nhân cần cảm thấy phải có trách nhiệm hơn đối với
công việc của mình. Hơn thế nữa họ cần phải thay đổi phương pháp làm việc của
mình để làm sao đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất.
Nói tóm lại, mặc dù có nhiều trường phái, nhiều cách tiếp cận khác nhau về
nguyên lý chất lượng, nhưng nói chung việc nhìn nhận những nguyên lý trên thực
chất sẽ dẫn đến quan điểm đúng đắn, cơ bản để tìm ra những giải pháp cho các
chiến lược về chất lượng sản phẩm trong doanh nghiệp nhằm đối phó cho những
khó khăn trong việc tự khẳng định mình bằng chất lượng sản phẩm trên thị trường.
3. Nhũng chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm
Khi nói đến chất lượng phải xem xét thông qua những chỉ tiêu đặc trưng mới
khách quan và chính xác được. Mỗi sản phẩm được đặc trưng bởi các tính chất đặc
điểm là những đặc tính khách quan của sản phẩm thể hiện trong quá trình hình
thành và sử dụng sản phẩm đó. Những đặc tính khách quan này phụ thuộc rất lứon
vào trình độ thiết kế quy định cho sản phẩm đó. Mỗi tính chất được biểu thị bởi các
chỉ tiêu cơ lý hoá nhất định có thể đo lường đánh giá được. Vì vậy, nói đến chất
lượng sản phẩm phải đánh giá thông qua hệ thống các chỉ tiêu, tiêu chuẩn cụ thể.
phải nắm vững nhu cầu thị trường cả về mặt không gian, thời gian, số lượng và
chất lượng.
Từ những năm 50 trở về trước các doanh nghiệp đã không quan tâm chú ý đến
vấn đề chất lượng cho nên hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp không cao. Chủ yếu
do các nguyên nhân:
- Tỷ lệ phế phẩm và thứ phẩm chiếm phần lớn so với số hàng hoá sản xuất ra,
kéo rheo các chi phí do kiểm tra chất lượng là quá lớn.
- Thường xuyên vắng mặt công nhân dẫn đến tình trạng sản xuất bị trì trệ.
Bên cạnh đó điều kiện làm việc không tốt ảnh hưởng sức khoẻ của công nhân,
không có sự khuyến khích khen thưởng cho công nhân có sáng kiến mới...
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của chất lượng các doanh nghiệp đã tìm
hiểu và áp dụng các biện pháp để nâng cao chất lượng sản phẩm trong doanh
nghiệp của mình. Vì thế lợi ích của việc tham gia áp dụng hệ thống chất lượng đạt
được là:
- Về kỹ thuật: Tỷ lệ phế phẩm giảm, ít sai sót sản phẩm làm ra đúng kế hoạch
đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
- Về phía doanh nghiệp: Tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển và làm
chủ mọi hoạt động trên thương trường, luôn có những phản ứng nhanh nhạy kịp
thời, nâng cao uy tín của doanh nghiệp, công nhân yên tâm làm việc... Từ đó doanh
nghiệp giảm được khoản chi phí, tăng mức thoả mãn nhu cầu của khách hàng làm
tăng khả năng cạnh tranh trên thương trường.
Tăng khả năng cạnh tranh tạo điều kiện cho việc tiêu thụ sản phẩm diễn ra
nhanh hơn, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận từ đó doanh nghiệp mở rộng sản xuất,
đầu tư và nâng cao chất lượng sản phẩm mở rộng quy mô toàn doanh nghiệp.
Giá trị của một sản phẩm trên thị trường bị tác động bởi chất lượng thiết kế
của sản phẩm đó. Do đó những cải tiến ứng với sự thích nghi của khách hàng sẽ
tạo ấn tượng cho sản phẩm của doanh nghiệp so với sản phẩm cùng loại của đối
thủ cạnh tranh sẽ làm tăng tiếng tăm về chất lượng của doanh nghiệp và tăng giá trị
thực của sản phẩm.
Điều này cho phép doanh nghiệp đặt giá cao sao cho đạt được thị phần lớn
trường khác. Điều đó đòi hỏi phải tiến hành nghiêm túc, thận trọng công tác điều
tra nghiên cứu nhu cầu thị trường, phân tích môi trường kinh tế xã hội, xác định
chính xác nhận thức của khách hàng, thói quen, truyền thống, phong tục, tập quán,
văn hoá nhằm đưa ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu của từng phân đoạn thị
trường.
Thông thường khi mức sống xã hội còn thấp, sản phẩm khan hiến thì yêu cầu
của người tiêu dùng chưa cao thi người ta chưa quan tâm tới chất lượng sản phẩm
cao. Nhưng khi đời sống xã hội tăng lên thì đòi hỏi của khách hàng sẽ tăng lên cả
về tính năng sử dụng và giá trị thẩm mỹ... Khách hàng sẵn sàng mua giá cao với
điều kiện chất lượng sản phẩm phải thật tốt. Trên cơ sở đó lựa chọn mức chất
lượng phải phù hợp sẽ làm tiền đề cho sự phát triển chung của xã hội.
3. Khả năng về công nghệ máy móc, thiết bị của doanh nghiệp.
Đối với mỗi doanh nghiệp công nghệ luôn luôn là một trong những yếu tố cơ
bản có tác dụng mạnh mẽ nhất đến chất lượng sản phẩm. Mức độ chất lượng sản
phẩm trong mỗi doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào trình độ hiện đại, cơ cấu, tính
đồng bộ, tình hình bảo dưỡng duy trì khả năng làm việc theo thời gian của máy
móc, thiết bị công nghệ , đặc biệt là những doanh nghiệp có trình độ tự động hoá
cao, dây chuyền và tính chất sản xuất hàng loạt. Trình độ công nghệ của các doanh
nghiệp không thể tách rời trình độ công nghệ trên thế giới. Muốn sản phẩm chất
lượng đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường, đặc biệt là thị trường quốc tế thì mỗi
doanh nghiệp có một chính sách công nghệ phù hợp cho phép sử dụng những thành
tựu khoa học công nghệ ở thế giới, đồng thời khai thác tối đa nguồn công nghệ
nhằm tạo ra sản phẩm chất lượng cao với chi phí hợp lý.
4. Chất lượng nguyên vật liệu
Nguyên liệu là một yếu tố tham gia trực tiếp vào cấu thành nên sản phẩm.
Những đặc tính của nguyên liệu sẽ được đưa vào sản phẩm. Vì vậy chất lượng
nguyên liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm sản xuất ra. Không thể
có chất lượng sản phẩm cao từ nguyên liệu có chất lượng không tốt. Chủng loại, cơ
cấu, tính đồng bộ và chất lượng nguyên liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng
sản phẩm . Ngoài ra chất lượng hoạt động của doanh nghiệp còn phụ thuộc rất lớn
CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM.
1. Khái niệm ISO9000
ISO là chữ viết tắt của từ International Organization for Standardization là
một tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá.
ISO là một tổ chức phi chính phủ, ra đời và hoạt động từ 23/12/1946 trên
nhiều lĩnh vực: Văn hoá, Khoa học, kỹ thuật, kinh tế ... Trong đó điều quan trọng
chủ yếu của tổ chức này góp phần vào việc thúc đẩy và đảm bảo cho việc trao đổi
hàng hoá giữa các nước thành viên thông qua việc thống nhất hoá các tiêu chuẩn,
các yêu cầu đối với hàng hoá và dịch vụ trao đổi trên thị trường quốc tế.
Trụ sở chính của ISO đặt tại Geneve - Thuỵ Sĩ. Ngôn ngữ sử dụng chính là
tiếng Anh, Pháp, Tây ban Nha.
Để duy trì được chất lượng hiệu quả kinh tế cao các doanh nghiệp cần triển
khai các hệ thống chất lượng và áp dụng có hiệu quả. Các hệ thống này phải giúp
cho doanh nghiệp liên tục cải tiến chất lượng và thoả mãn khách hàng.
ISO9000 là một sự kế thừa của các tiêu chuẩn đã tồn tại và được sử dụng rộng
rãi trước tiên là lĩnh vực quốc phòng như tiêu chuẩn quốc phòng của Mỹ (MIL-Q-
9058A) của khối NATO (AQAPI). Năm 1979, viện tiêu chuẩn Anh BSI đã ban
hành tiêu chuẩn BS5750 về đảm bảo chất lượng, sử dụng trong dân sự, để phục vụ
cho nhu cầu giao lưu thương mại quốc tế, tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO đã
thành lập ban kỹ thuật tiêu chuẩn 176 để soạn thảo bộ tiêu chuẩn về quản lý chất
lượng. Những tiêu chuẩn đầu tiên của bộ tiêu chuẩn này được ban hành vào năm
1987.
ISO9000 đề cập đến những vấn đề chủ yếu trong quản lý chất lượng như:
Chính sách chất lượng và chỉ đạo về chất lượng, nghiên cứu thị trường , thiết kế
triển khai sản phẩm và quá trình cung ứng, kiểm soát quá trình, bao gói, phân phối,
dịch vụ sau khi bán, xem xét đánh giá nội bộ, kiểm soát tài liệu, đào tạo... ISO9000
là tập hợp các kinh nghiệm chất lượng tốt nhất đã được thực thi trong nhiều quốc
gia và khu vực nó được chấp nhân thành tiêu chuẩn quốc gia của nhiều nước.
2. Kết cấu cấu bộ tiêu chuẩn ISO9000.
Kết cấu cấu bộ tiêu chuẩn ISO9000.
bảo chất lượng để công ty biểu thi
năng lực của mình và là căn cứ cho
việc đánh giá của bên ngoài.
ISO 9003-1994 Hệ thống chất lượng
- mô hình để đảm
bảo chất lượng trong
kiểm tra và thử
nghiệm cuối cùng
- Các yêu cầu của hệ thống chất
lượng để sử dụng khi công ty muốn
biểu thị năng lực của mình trong
việc phát hiện và kiểm soát việc xử
lý mọi sự không phù hợp được phát
hiện trong quá trình kiểm tra và thử
nghiệm cuối cùng.
2. Các hướng dẫn chung về đảm bảo chất lượng
Tiêu chuẩn Tiêu đề Tóm tắt nội dung
ISO 9000-1:1994 Quản lý chất lượng
và các tiêu chuẩn về
đảm bảo chất lượng
Phần 1: Hướng dẫn
lựa chọn và sử dụng
- Cung cấp các hướng dẫn về lựa
chọn và sử dụng bộ tiêu chuẩn
ISO9000. Giải thích các khái niệm
cơ bản liên quan đến chất lượng,
nội dung cơ bản và mối liên quan
giữa các tiêu chuẩn để áp dụng có
hiệu quả bộ tiêu chuẩn này. Có thể
đây là tấm bản đồ về “Thành phố