HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN THÀNH PHẨM TIÊU
THỤ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH Ở CÔNG TY BÁNH KẸO
HẢI CHÂU.
2.1. Nhận xét, đánh giá thực trạng tổ chức kế toán thành phẩm, tiêu thụ thành
phẩm và xác định kết quả kinh doanh ở công ty bánh kẹo Hải Châu.
2.1.1. Những thành tích và ưu điểm cơ bản.
Trong cơ chế thị trường hiện nay, mục tiêu cuối cùng của tất cả các doanh nghiệp
là tối đa hoá lợi nhuận và ngày càng nâng cao lợi ích kinh tế xã hội. Để đạt được
mục đích này bên cạnh các biện pháp kĩ thuật như nâng cao chất lượng sản phẩm,
hạ giá thành, các biện pháp tổ chức quản lí sản xuất khoa học và hiệu quả để không
ngừng nâng cao năng suất lao động thì việc quản lí chặt chẽ thành phẩm và tổ
chức công tác tiêu thụ thành phẩm có ý nghĩa rất quan trọng với công ty. Đây là
khâu cuối cùng và của quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty và quyết
định đến lợi nhuận của công ty. Bởi vậy việc tăng cường quản lí và hoàn thiện
công tác kế toán thành phẩm, tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh là vấn đề đã
và đang được ban lãnh đạo công ty đặc biệt quan tâm.
Trải qua hơn 30 năm xây dựng và phát triển, từ lúc cơ sở vật chất ban đầu
chỉ có 2 phân xưởng, trang thiết bị lạc hậu cho đến nay công ty đã phát triển không
ngừng cả về chiều rộng và chiều sau. Với kinh nghiệm và trình độ quản lí giỏi, đội
ngũ công nhân lành nghề, công nghệ chế biến ngày càng đổi mới và hiện đại hoá
công ty đã tìm được chỗ đứng vững chắc trên thương trường và ngày càng phát
triển. Cùng với sự trưởng thành và lớn mạnh của công ty công tác quản lí nói
chung và công tác kế toán nói riêng, đặc biệt là khâu kế toán thành phẩm, tiêu thụ
thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh đã không ngừng hoàn thiện đáp ứng
được nhu cầu ngày càng cao của hoạt động sản xuất kinh doanh. Với tình hình tổ
chức kế toán tập chung như hiện nay, công ty đã đảm bảo được sự thống nhất , tập
chung tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân công công việc chuyên môn hoá và
nâng cao trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán.
Hệ thống sổ sách kế toán và chứng từ gốc nói chung đều tuân thủ theo chế độ kế
toán . Các chứng từ gốc được công ty trực tiếp mua từ Bộ tài chính. Cùng với việc
hạch toán trên các sổ tổng hợp ,kế toán còn mở thêm các sổ chi tiết , các bản kê để
Tóm lại, công tác thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh
ở công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu nhìn chung đã đáp ứng được nhu cầu sản
xuất kinh doanh của công ty một cách kịp thời, cung cấp được các thông tin cần
thiết cho lãnh đạo công ty.
Bên cạnh những thành tích mà công tác hạch toán thành phẩm , tieu thụ
thành phẩm đạt được, việc hạch toán này còn 1 số tồn tại nhất định.
2.1.2. Những hạn chế và nhược điểm cần hoàn thiện.
Về việc đánh giá thành phẩm : công ty tính giá thực tế TP xuất kho theo
phương pháp bình quân gia quyền. Chính vì vậy mà cho đến cuối tháng, sau khi
tính được giá thành của các thành phẩm nhập kho mới tính được giá thực tế của TP
xuất kho. Tức là đến cuối tháng mới vào được Nhật ký chung của nghiệp vụ nhập ,
xuất kho trong tháng mà theo hình thức Nhật ký chung thì các nghiệp vụ kinh tế
phát sinh phải phản ánh hàng ngày cho nên công việc của kế toán tập chung dồn
vào những ngày đầu tháng sau nhiều .
Về việc theo dõi chi tiết thành phẩm : Công ty sử dụng phương pháp thẻ
song song để hạch toán chi tiêt TP . Tuy nhiên trên thực tế phương pháp này chỉ
phù hợp với các doanh nghiệp có ít chủng loại TP trong khi chủng loại TP của
công ty rất đa dạng và phong phú ( trên 70 loại khác nhau) .Mặt khác theo phương
pháp thẻ song song thì cả phòng kế toán , phòng kế hoạch vật tư và thủ kho đều
theo dõi sỗ lượng nhập , xuất, tồn kho thành phẩm gây ra sự trùng lặp không cần
thiết .
Về chứng từ sổ sách : kết cấu của Nhật ký chung mà công ty đang sử dụng
chưa đúng mẫu của chế độ kế toán do Bộ tài chinh ban hành .
Công ty không sử dụng nhật ký chuyên dùng như nhật ký thu tiền nên tất cả
các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều được định khoản vào nhật ký chugn , do đó số
liệu trên Nhật ky chung rất dày đặc và khó theo dõi .
Về hạch toán tiêu thụ thành phẩm : hiện nay , khách hàng của công ty thực
chất là nhứng đại lý thanh toán sau.Trong khi đó công ty vẫn để khách hàng chiếm
dụng vốn khá lớn từ đó làm giảm hiệu qủa sử dụng vốn của công ty. Bên cạnh đó,
vì các đại lý là các khách hàng thanh toán sau nên công ty không trả hoa hồng cho
28 Xuất kho bán thành phẩm 632A 1.778.716.280
155A 1.778.716.280
28 Xuất kho bán thành phẩm 632X 186.328.032
155X 186.328.032
…
Cộng cuối trang
Cộng luỹ kế từ đầu sổ
để giảm bớt công việc ghi chép các nghiệp vụ xuất bán cho khách hàng trả tiền
ngay vào Nhật ký chung và Sổ cái , kế toán nên mở sổ “ Nhật ký thu tiền “ để vào
những khách hàng đã trực tiếp trả tiền mặt , trả séc . Cuối tháng hoặc định kỳ năm