NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI - Pdf 73

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ
BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
1.1. SỰ CẦN THIẾT CỦA KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN
HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
1.1.1. Khái niệm hàng hoá và hoạt động kinh doanh thương mại
Trong bối cảnh nền kinh tế đa phương hoá, toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế thế giới
như hiện nay, ngành thương mại dịch vụ ngày càng phát triển mạnh mẽ, mở rộng buôn
bán, trao đổi với các nước phát triển, phục vụ nhu cầu tiêu dùng và thúc đẩy nền kinh tế
trong nước phát triển. Một trong các đối tượng quan trọng của hoạt động kinh doanh
thương mại đó là hàng hoá.
Tuỳ mỗi doanh nghiệp có đặc điểm kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh và quy mô hoạt
động khác nhau mà kinh doanh các mặt hàng khác nhau. Hàng hoá trong doanh nghiệp
thương mại rất phong phú và đa dạng. Nó là những vật phẩm có hình thái vật chất hoặc
không có hình thái vật chất mà doanh nghiệp mua về để bán phục vụ cho nhu cầu sản xuất
và nhu cầu tiêu dùng để nhằm mục đích thu lợi nhuận
Xét theo từng ngành hàng thì hàng hoá bao gồm: hàng hoá vật tư, thiết bị; hàng hoá công nghệ
thực phẩm tiêu dùng; hàng hoá lương thực thực phẩm chế biến…
Hàng hoá này được mua từ nơi sản xuất, các đơn vị xuất nhập khẩu, được chuyển đến
tay người tiêu dùng thông qua hoạt động kinh doanh thương mại. Hoạt động kinh doanh
thương mại là hoạt động lưu thông, phân phối hàng hoá trên thị trường bán buôn trong
từng quốc gia hoặc giữa các quốc gia với nhau nhằm thực hiện quá trình lưu chuyển hàng
hoá từ nơi sản xuất, xuất nhập khẩu đến nơi tiêu dùng.
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh thương mại ảnh hưởng đến kế toán bán
hàng và xác định kết quả bán hàng trong doanh nghiệp thương mại
Xuất phát từ vai trò, đặc điểm của hàng hoá trong hoạt động kinh doanh thương mại
đòi hỏi phải tổ chức quản lí chặt chẽ hàng hoá cả về mặt số lượng và giá trị; tổ chức hoạt
động kinh doanh thương mại sao cho phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh và tình
hình thực tế của đơn vị mình. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh thương mại bao gồm các đặc
điểm cơ bản như sau:
Đặc điểm về lưu chuyển hàng hoá: Lưu chuyển hàng hoá là quá trình vận động khép kín
một vòng lưu chuyển hàng hoá trong doanh nghiệp thương mại. Quá trình lưu chuyển hàng hoá

cách hợp lí, hài hoà giữa ba lợi ích: lợi ích của Nhà nước thông qua nộp thuế và các khoản
phí; lợi ích của người lao động thông qua việc trả lương, thưởng, các khoản phụ cấp và các
khoản trích theo lương và lợi ích của doanh nghiệp thông qua lợi nhuận thu được.
Với nền kinh tế quốc dân: Bán hàng chính là điều kiện gắn kết giữa lưu thông hàng
hoá và lưu thông tiền tệ, thực hiện chu chuyển tiền tệ, ổn định giá trị của đồng tiền, tạo ra
việc làm và góp phần nâng cao thu nhập cho người lao động và góp phần thúc đẩy đất
nước phát triển.
Về mặt kế toán, kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng là một công cụ quản
lí đắc lực, giúp cho doanh nghiệp có thể quản lí, theo dõi tình hình tiêu thụ hàng hoá và tính
ra lãi, lỗ của hoạt động kinh doanh. Từ đó, lập các báo cáo kế toán cung cấp thông tin cần
thiết cho ban lãnh đạo của doanh nghiệp cũng như các cơ quan chủ quản và các nhà quan
tâm để căn cứ vào đó đưa ra các quyết định kinh doanh đúng đắn.
Bên cạnh với bán hàng, xác định kết quả bán hàng cũng có vai trò quan trọng. Kết
quả bán hàng là kết quả cuối cùng của hoạt động kinh tế được thực hiện trong một thời kỳ
nhất định. Kết quả bán hàng chính là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp. Thông qua xác định kết quả bán hàng, doanh nghiệp sẽ có được các thông tin về
lợi nhuận - đây là mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
hiện nay. Nó là yếu tố quan trọng nhất trong việc quyết định sự sống còn của doanh
nghiệp. Giúp cho doanh nghiệp có thể tái mở rộng sản xuất kinh doanh, góp vốn liên doanh
liên kết, tạo công ăn việc làm cho người lao động, và là nguồn để doanh nghiệp thực hiện
đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước. Cũng thông qua việc xác định kết quả sẽ giúp cho các nhà
ra quyết định có được các thông tin về quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
mình để từ đó phân tích, đánh giá và đưa ra các quyết định kinh doanh đúng đắn, đem lại
hiệu quả hoạt động kinh doanh cao nhất.
1.1.3.2. Nhiệm vụ
Bán hàng và xác định kết quả bán hàng có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng đối
với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức quản lí tốt
các nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá.
Muốn các nghiệp vụ bán hàng và xác định kết quả bán hàng hoá được quản lí tốt, kế
toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng cần thực hiện các nhiệm vụ sau:

khách hàng sẽ đến tận kho của doanh nghiệp để nhận hàng và vận chuyển hàng về. Đến
đây, hàng hoá đã được coi là tiêu thụ và ghi nhận doanh thu. Mọi chi phí và rủi ro phát sinh
trong quá trình vận chuyển hàng hoá là do khách hàng chịu.
Bán buôn qua kho theo hình thức gửi hàng: Bên bán căn cứ vào hợp đồng kinh tế,
đơn đặt hàng của khách hàng, xuất bán hàng hoá và vận chuyển hàng đến đúng địa điểm
quy định của khách hàng bằng phương tiện vận chuyển của mình hoặc thuê ngoài. Mọi chi
phí và rủi ro phát sinh trong quá trình vận chuyển hàng hoá do khách hàng hoặc do người
bán chịu tuỳ theo sự thoả thuận của hai bên ghi trong hợp đồng kinh tế. Khi khách hàng
kiểm nhận hàng hoá và chấp nhận thanh toán thì lúc này hàng hoá mới được coi là tiêu thụ.
 Phương thức bán buôn vận chuyển thẳng: Đây là phương thức doanh nghiệp mua hàng về
không nhập kho mà đem xuất bán ngay cho khách hàng. Phương thức bán hàng này cũng
bao gồm hai phương thức:
Phương thức bán buôn hàng hoá không tham gia thanh toán: Với phương thức này,
doanh nghiệp chỉ đóng vai trò là người môi giới (người thứ ba) để nhận hoa hồng môi giới
bán hàng. Doanh thu được ghi nhận là số tiền hoa hồng môi giới đó. Khách hàng sẽ thanh toán
khoản phải trả nhà nhà cung cấp.
Phương thức bán buôn hàng hoá có tham gia thanh toán (bán thẳng giao nhận trực tiếp với
nhà cung cấp và khách hàng): Theo phương thức này, doanh nghiệp phải tổ chức mua hàng, bán
hàng, thanh toán tiền hàng với nhà cung cấp và thanh toán với khách hàng.
1.2.1.2. Phương thức bán hàng đại lí, kí gửi
Là phương thức bán hàng mà doanh nghiệp (bên giao đại lí) giao hàng cho cơ sở (đại
lí) nhận bán hàng đại lí, kí gửi để cơ sở này trực tiếp bán hàng. Doanh nghiệp sẽ phải trả
cho cơ sở này một khoản được gọi là chi phí hoa hồng bán hàng và khoản này hạch toán
vào chi phí bán hàng. Số hàng giao đại lí này vẫn thuộc quyền sở hữu của bên giao đại lí,
cho đến khi bên đại lí thông báo bán được hàng hoặc thanh toán tiền hàng cho bên giao đại lí
thì mới được coi là hàng hoá tiêu thụ và ghi nhận doanh thu. Đối với bên đại lí hoa hồng bán
hàng nhận được chính là doanh thu và phải nộp thuế GTGT trên khoản hoa hồng nhận
được này.
1.2.1.3. Phương thức bán lẻ
Đây là phương thức bán hàng cho các tổ chức, cá nhân mua hàng hóa về để tiêu dùng.

hàng bán khác nhau. Phương pháp tính giá vốn hàng bán này được đăng kí với cơ quan
thuế và được áp dụng nhất quán trong một kỳ kế toán. Các phương pháp xác định giá vốn
hàng bán bao gồm:
1.2.2.1. Phương pháp giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ
Theo phương pháp này, giá vốn hàng xuất bán được tính theo giá đơn vị bình quân cả
kỳ dự trữ và được tính theo công thức sau đây:
Giá đơn vị
bình quân cả
kỳ dự trữ
=
Giá thực tế hàng tồn đầu kỳ + Giá thực tế hàng nhập trong kỳ
Số lượng hàng tồn đầu kỳ + Số lượng hàng hoá nhập trong kỳ
Ưu điểm: Đơn giản, dễ tính toán, không phụ thuộc vào số lần xuất, nhập hàng hoá
trong kì nhiều. Do vậy, phù hợp với những doanh nghiệp kinh doanh với quy mô lớn, các
nghiệp vụ kinh tế xuất, nhập hàng hoá diễn ra liên tục.
Nhược điểm: Với phương pháp này công việc tính giá vốn hàng xuất bán được dồn
hết vào cuối kì kế toán nên nhiều khi gây nên sự chồng chéo trong công việc và việc tính
giá theo phương pháp này có độ chính xác không cao.
1.2.2.2. Phương pháp giá thực tế đích danh
Theo phương pháp này khi xuất lô hàng nào thì được tính theo giá thực tế nhập kho
đích danh của lô hàng đó. Với những doanh nghiệp có điều kiện bảo quản từng lô hàng
nhập kho riêng biệt thì việc tính giá vốn hàng xuất bán theo phương thức này là rất hợp lí.
Do vậy, để áp dụng được phương pháp này một cách có hiệu quả trong việc tính giá vốn
hàng xuất bán thì doanh nghiệp phải xây dựng cơ sở vật chất, kĩ thuật, tạo điều kiện thuận
lợi cho việc bảo quản hàng hoá nhập kho theo từng lô hàng riêng biệt.
Ưu điểm: Công việc tính giá được tiến hành kịp thời, thông qua việc tính giá hàng hoá
xuất kho, kế toán có thể theo dõi được hạn bảo quản của từng lô hàng hoá. Điều này có ý
nghĩa đặc biệt đối với những hàng hoá lương thực thực phẩm.
Nhược điểm: Yêu cầu về cơ sở vật chất kho tàng bảo quản của doanh nghiệp phải tốt,
tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo quản riêng biệt từng lô hàng hoá khác nhau.

Giá hạch toán hàng hoá tồn đầu kỳ + Giá hạch toán hàng hoá nhập trong kỳ
Ưu điểm: Phương pháp này đơn giản, dễ làm, việc tính giá được tiến hành nhanh
chóng và không phụ thuộc vào số lần xuất nhập hàng hoá trong kỳ. Phương pháp này thích
hợp cho những doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng và có trình độ chuyên môn
nghiệp vụ về kế toán cao.
1.2.3. Kế toán giá vốn hàng bán
Để thuận lợi cho việc so sánh giữa cơ sở lí luận với thực trạng kế toán bán hàng và
xác định kết quả bán hàng tại Công ty TNHH Thương mại dịch vụ công nghệ thông tin –
TSI nên trong phần lí luận này em xin đề cập đến kế bán hàng và xác định kết quả bán hàng
trong doanh nghiệp áp dụng phương pháp hạch toán hàng tồn kho KKTX.
 Chứng từ kế toán sử dụng trong nghiệp vụ bán hàng bao gồm:
Hoá đơn GTGT (đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ)
Hoá đơn bán hàng thông thường (với doanh nghiệp tính thuế theo phương pháp trực tiếp
hoặc doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng không chịu thuế GTGT)
Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ
Bảng kê bán lẻ hàng hoá
Hoá đơn cước phí vận chuyển hàng hoá
Hợp đồng kinh tế
Các chứng từ phản ánh nghiệp vụ thanh toán với khách hàng
Phiếu thu, chi, giấy báo nợ, giấy báo có của ngân hàng, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu…
 Tài khoản sử dụng
Căn cứ vào chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Quyết định 15/2006/QĐ/BTC
ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì kế toán nghiệp vụ bán hàng và xác định
kết quả bán hàng nói chung và kế toán giá vốn hàng bán nói riêng sử dụng tài khoản sau
đây:
Tài khoản 632: Giá vốn hàng bán
Tài khoản này được sử dụng để phản ánh trị giá vốn thực tế hàng hoá xuất bán trong kỳ.
Tài khoản này có kết cấu như sau:
Bên nợ:
+ Giá trị hàng tồn kho thiếu, mất sau khi đã trừ đi các khoản bồi thường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status