Hoàn thiện kế toán Nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI
CÔNG TY CP XI MĂNG BỈM SƠN
2.1. Tổng quan về công ty Cổ phần xi măng Bỉm sơn
2.1.1. Lịch sử hình thành, phát triển và chức năng, nhiệm vụ kinh
doanh của Công ty CP xi măng Bỉm Sơn
Công ty Xi măng Bỉm Sơn tiền thân là Nhà máy Xi măng Bỉm Sơn có trụ
sở chính tại Bỉm Sơn - Thanh Hoá, nằm gần vùng núi đá vôi, đất sét có trữ
lượng dồi dào và chất lượng tốt, đây là hai nguồn nguyên liệu chủ yếu để sản
xuất xi măng chất lượng cao. Để đáp ứng nhu cầu của đất nước lúc bấy giờ về
vật liệu xây dựng đặc biệt là xi măng, công ty xi măng Bỉm Sơn đã được
thành lập. Hơn 20 năm đi vào hoạt động, công ty xi măng Bỉm Sơn đã góp
phần không nhỏ vào sản xuất, cung cấp vật liệu xây dựng và đặc biệt vào sự
tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Ngay khi có chủ trương xây dựng Nhà máy xi măng Bỉm Sơn, chức năng
chính của Nhà máy là sản xuất xi măng bao PC30 và PC40 với các thông số
kỹ thuật theo tiêu chuẩn của Nhà nước, hàm lượng thạch cao SO3 trong xi
măng đạt 1,3% - 3%. Đồng thời sản xuất Clinker để sản xuất ra xi măng theo
tiêu chuẩn ISO 9002.
Nhiệm vụ của Công ty là sản xuất, tiêu thụ và cung cấp xi măng cho các
công trình trong nước cũng như đáp ứng được nhu cầu cho việc xuất khẩu
sang thị trường nước ngoài ( mà chủ yếu là thị trường của Lào). Ngoài ra,
Công ty còn có nhiệm vụ cung cấp xi măng cho địa bàn theo sự điều hành của
Tổng Công ty xi măng Việt Nam để tham gia vào việc bình ổn giá cả trên thị
trường.
Công ty CP xi măng Bỉm Sơn là một doanh nghiệp có quy mô sản xuất
lớn, và để đáp ứng được nhu cầu thì khối lượng và chất lượng của sản phẩm
sản xuất ra không ngừng được nâng cao. Điều này đồng nghĩa với việc nhu
Nguyễn Ngọc Yến Viện ĐH Mở Hà Nội
1
1
công trình trọng điểm quốc gia. Hiện nay, sản phẩm của Công ty với nhãn
hiệu “Con voi” đó có mặt khắp cả nước, ngoài ra sản phẩm còn được cung
cấp cho thị trường các nước Đông Dương và Đông Nam Á. Đồng nghĩa với
thị trường tiêu thụ được mở rộng, nhu cầu tiêu thụ ngày một tăng là quy mô
sản xuất cũng tăng theo. Thể hiện ở các chỉ tiêu như sản lượng sản xuất, công
suất…
Với mục tiêu mở rộng thị trường, đáp ứng được nhu cầu trong và ngoài
nước, trong những năm gần đây sản lượng tiêu thụ của Công ty không ngừng
tăng lên. Do đó sản lượng sản xuất cũng phải tăng để đáp ứng được nhu cầu.
Tình hình kinh doanh của Công ty có nhiều lợi thế và có nhiều thành tựu. Với
sự cố gắng ngay từ khi bắt đầu xây dựng nhà máy, và trong suốt quá trình
phát triển hiện nay Công ty CP xi măng Bỉm Sơn là một trong những doanh
nghiệp đầu ngành của ngành công nghiệp sản xuất xi măng. Chiếm tỷ trọng
lớn trong tổng giá trị tiêu thụ của Tổng Công ty xi măng VN.
Doanh thu của Công ty liên tục tăng trong những năm gần đây và lợi
nhuận thì cũng không ngừng tăng lên.
Chỉ tiêu ĐVT Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Doanh
thu thuần
Đồng
1.578.502.780.79
1
1.539.701.700.803 1.579.919.194.207
LN
thuần
Đồng 80.970.014.557 104.726.391.328 116.659.397.004
Với quy mô và tình hình kinh doanh có nhiều thuận lợi, trong tương lai
Công ty sẽ tiếp tục phát huy và duy trì những lợi thế của mình. Quy mô sản
xuất lớn và tình hình kinh doanh khả quan cũng có ảnh hưởng nhất định tới
Nguyễn Ngọc Yến Viện ĐH Mở Hà Nội
đơn vị. Bên cạnh đó Công ty còn sử dụng kế toán thủ công trong việc tính
toán lương công nhân viên của phần hành tiền lương.
Về tổ chức bộ máy kế toán: Đứng đầu là kế toán trưởng, có 2 phó phòng
giúp công việc quản lý của Kế toán trưởng được dễ dàng hơn, và có các tổ kế
toán phân theo nhiệm vụ riêng gồm có: Tổ kế toán tài chính, tổ kế toán vật tư,
tổ kế toán tổng hợp và tính giá, tổ kế toán tiêu thụ sản phẩm, tổ kế toán nhà
ăn. Ở mỗi tổ có 1 trưởng phòng và 1 phó phòng làm nhiệm vụ quản lý việc
thực hiện công việc của tổ mình.
Nguyễn Ngọc Yến Viện ĐH Mở Hà Nội
5
5
Kế toán trưởng
Phó phòng Phó phòng
Tổ kế toán Tài chínhTổ kế toán vật tưTổ kế toán tổng hợp và tính giá
Tổ kế toán tiêu thụ sản phẩm
Hoàn thiện kế toán Nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn
Sơ đồ 1.2: Mô hình bộ máy kế toán Công ty CP xi măng Bỉm Sơn
Chế độ kế toán của Công ty
Chế độ kê toán của Công ty áp dụng theo Luật kế toán, tuân thủ Chuẩn
mực kế toán và Chế độ kế toán hiện hành
Niên độ kế toán của Công ty bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31
tháng 12 hàng năm.
Để thấy rõ hơn chế độ kế toán mà Công ty đang áp dụng có thể nêu ra
một số chính sách kế toán áp dụng là nền tảng và là cở sở trong công tác kế
toán NVL tại Công ty:
- Hàng tồn kho được ghi nhận theo giá thực tế, được hạch toán theo phương
pháp kê khai thường xuyên
- Giá trị hàng tồn kho cuối kỳ được xác định theo phương pháp bình quân gia
quyền theo từng tháng.
♦ TK 152 “Nguyên liệu, vật liệu”
TK này được dùng để ghi chép số hiện có và tình hình tăng, giảm
nguyên, vật liệu theo giá thực tế.
TK 152 tại Công ty CP xi măng Bỉm Sơn được chi tiết thành 7 Tài khoản
cấp 2 theo quy định. Mỗi tài khoản cấp 2 lại được chi tiết thành các tài khoản
cấp 3. Và để đáp ứng được yêu cầu hạch toán một cách chi tiết, đầy đủ và
chính xác thì TK 152 được chi tiết tới cấp 4.
VD:
Tài khoản Tên tài khoản TK mẹ Bậc TK
152 Nguyên liệu, vật liệu 1
… … … …
Nguyễn Ngọc Yến Viện ĐH Mở Hà Nội
7
7
Hoàn thiện kế toán Nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn
1522 Vật liệu phụ 152 2
152211 Vật liệu nổ 1522 3
1522111 Thuốc nổ 152211 4
1522112 Vật liệu nổ khác 152211 4
152212 Nhớt máy 1522 3
… … … …
Các chế độ kế toán khác bao gồm: chế độ chứng từ, chế độ tài khoản, chế
độ Báo cáo tài chính đều được lập theo quy định chung của Bộ tài chính. Và
theo quyết định 15/2006/QĐ-BTC ngày 20 tháng 3 năm 2006 của Bộ tài
chính. Và để phù hợp với yêu cầu hạch toán cũng như quản lý Công ty đó vận
dụng quy định chung để thiết kế thêm trong hệ thống chứng từ, mở rộng hệ
thống tài khoản và lập các báo cáo Quản trị phục vụ cho quản lý và ra quyết
định của các nhà quản lý.
VD: Để quản lý tốt và hạch toán được thuận lợi TK 152 “Nguyên liệu,
vật liệu” được chi tiết tới cấp 4
Công ty được đặt sát ngay vùng nguyên vật liệu chính (đá vôi và đất sét) với
trữ lượng lớn. Để phục vụ sản xuất Công ty khai thác đá vôi và đất sét ngay
tại các mỏ cách nhà máy 3 km với khối lượng lớn không qua nhập kho. Đây
là một đặc thù riêng nên tổ chức công tác kế toán có nhiều khác biệt. So với
các khu vực khác, đá vôi và đất sét được khai thác và sử dụng tại Công ty
được đánh giá có chất lượng tốt. Đây rõ ràng là một lợi thế của Công ty, giảm
được chi phí so với việc mua nguyên vật liệu đồng thời lại được sử dụng NVL
với chất lượng tốt do đó giảm được giá thành có lợi trong cạnh tranh.
Ngoài nguyên vật liệu chính là đá vôi và đất sét được khai thác ở mỏ.
Các nguyên vật liệu chính khác như: thạch cao, xỉ pirit, quặng, đá bazan…
được nhập kho dự trữ với khối lượng lớn. Quá trình xuất kho để sản xuất sản
phẩm cũng diễn ra thường xuyên và liên tục và số lượng NVL xuất kho tuân
thủ theo các định mức kỹ thuật. Các NVL phụ như Bi đạn, gạch chịu lửa, nhớt
máy, mỡ máy…nhiều và phong phú chủng loại. Các phụ tùng thay thế, nhiên
liệu rất đa dạng…. Bên cạnh đó còn có hàng nghìn các loại NVL khác phục
vụ cho quá trình sản xuất đòi hỏi Công ty phải xây dựng một hệ thống kho
Nguyễn Ngọc Yến Viện ĐH Mở Hà Nội
9
9
Hoàn thiện kế toán Nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn
tàng đầy đủ theo quy định, đảm bảo tiêu chuẩn bảo quản và quản lý các loại
NVL giúp phục vụ sản xuất liên tục không bị gián đoạn và bị ảnh hưởng.
Chi phí nguyên vật liệu là một trong những thành phần của chỉ tiêu giá
thành sản phẩm. Đặc biệt chi phí NVL luôn chiếm tỷ trọng lớn trong chỉ tiêu
giá thành xi măng của Công ty. Với mục tiêu quan trọng là hạ giá thành, nâng
cao lợi nhuận thì việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm mà vẫn đảm bảo chất lượng
sản phẩm dựa trên các định mức kỹ thuật đó được tính toán và dự toán chi phí
có ý nghĩa quyết định trong việc thực hiện mục tiêu này. Trong suốt các giai
đoạn từ khâu thu mua, khai thác, bảo quản, quản lý, xuất kho để phục vụ cho
sản xuất sản phẩm đều phải được đảm bảo chất lượng, tuân thủ quy định
NVL để hạch toán thuận lợi và nâng cao hiệu quả quản lý.
Căn cứ vào nội dụng kinh tế và yêu cầu quản trị của Công ty, NVL được
chia thành các loại sau:
- Nguyên, vật liệu chính: Là đối tượng lao động chính cấu thành nên thực thể
sản phẩm như: Đá vôi, đất sét là nguyên liệu do Công ty tự khai thác tại mỏ
đá và mỏ sét; Thạch cao, quặng sắt, xỷ pirit, đá bazan, các loại phụ gia,
nguyên vật liệu chính khác do Công ty mua từ bên ngoài.
- Vật liệu phụ: Tuy không trực tiếp cấu thành nên thực thể sản phẩm nhưng
được kết hợp với nguyên vật liệu chính để hoàn thiện sản phẩm như vỏ bao.
Và các loại vật liệu phụ để đảm bảo cho quá trình sản xuất cũng như các máy
móc hoạt động bình thường và phục vụ cho nhu cầu kỹ thuật. Gồm có: Vật
liệu nổ, nhớt máy, mỡ máy, bi đạn, sắt thép kim khí các loại, gạch chịu lửa,
hoá chất và vật liệu phụ khác…
- Nhiên liệu: Đây là những vật liệu quan trọng nó gồm có các loại tạo nhiệt
năng trong quá trình sản xuất xi măng. Bao gồm: Than ( than cám, than Na
dương); Dầu ma Zút, Dầu diezel, xăng, nhiên liệu động lực khác.
- Phụ tùng thay thế: Là các loại phụ tùng, chi tiết được sử dụng để thay thế, sửa
chữa máy móc. Bao gồm: phụ tùng thay thế, phụ tùng điện, phụ tùng ô tô,
máy xúc, bu lông các loại…
Nguyễn Ngọc Yến Viện ĐH Mở Hà Nội
11
11
Hoàn thiện kế toán Nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn
- Thiết bị xây dựng cơ bản: Bao gồm các loại thiết bị phục vụ cho hoạt động
xây dựng, xây lắp
- Vật liệu khác: Là các loại chưa được xếp vào các loại trên. Gồm có các bán
thành phẩm mua ngoài, các phế liệu.
Với cách phân loại nói trên đã đáp ứng được yêu cầu hạch toán. Và để
thuận tiện tránh nhầm lẫn trong công tác quản lý và hạch toán. Trên cơ sở
phân loại như trên, Công ty đã phân loại chi tiết hơn các loại NVL bằng cách
2111.113802.00
1
2111.113802.00
1
Đá vôi Tấn 152111
2112.129999.00
1
2111.129999.00
1
Đất sét Tấn 152111
.... .... ... ... .....
2113.060401.00
1
2113.060401.00
1
Xỉ pirit Tấn 152113
2113.060401.00
2
2113.060401.00
2
Quặng quăcrit Tấn 152113
2115.060501.00
1
2115.060501.00
1
Thạch cao Tấn 152115
2114.060501.00
2
2114.060501.00
2
13
Hoàn thiện kế toán Nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn
Để hạch toán được chính xác, và để đạt hiệu quả cao trong quản lý thì
việc lựa chọn phương pháp tính giá thích hợp đối với NVL nhập và xuất kho
là công việc hết sức quan trọng.
2.2.3. Tính giá NVL tại Công ty CP xi măng Bỉm Sơn
2.2.3.1. Tính giá NVL nhập kho
Khâu đầu tiên trong quá trình thu mua NVL đó là lập kế hoạch nhu cầu
thu mua. Căn cứ vào kế hoạch sản xuất trong năm của toàn Công ty, các phân
xưởng, phòng ban xây dựng kế hoạch sản xuất cho bộ phận mình từ đó lập ra
các nhu cầu về NVL. Các nhu cầu ở các bộ phận sẽ được tập hợp thành nhu
cầu của toàn Công ty. Nhu cầu này được các phòng ban chức năng rà soát,
tính toán. Kết quả này được giám đốc duyệt và trở thành nhu cầu NVL trong
năm thực hiện.
Tại Công ty xi măng Bỉm Sơn NVL chủ yếu nhập kho từ mua ngoài,
NVL chính bao gồm đá vôi và đất sét thì được khai thác tại các mỏ của Công
ty.
Đối với các loại NVL mua ngoài, căn cứ vào nhu cầu trong năm theo
từng tháng, từng quý, phòng vật tư đi tham khảo giá thị trường của các loại
NVL nhằm tìm được đối tác có khả năng cung cấp.
Theo quy định của Tổng Công ty xi măng Việt Nam các loại NVL có giá
trị từ 500 triệu trở lên thì phải mở thầu. Sau khi đó xác định được các đối tác
tham gia đấu thầu đủ yêu cầu và với mỗi loại NVL cần có từ 3 đối tác trở lên,
lúc đó Công ty sẽ tiến hành mở thầu. Công ty yêu cầu về quy cách, chất
lượng, số lượng… đơn vị nào đưa ra đơn giá thấp nhất mà vẫn đảm bảo bảo
được các yêu cầu của Công ty thì sẽ trúng thầu. Công ty sẽ ký hợp đồng kinh
tế với đơn vị này. Và đơn vị đó phải chịu toàn bộ về mặt kinh tế và luật pháp.
Hình thức mở thầu này thường được sử dụng cho các NVL chính như thạch
cao, xỷ quặng…
Nguyễn Ngọc Yến Viện ĐH Mở Hà Nội
được tập hợp để tính ra giá vốn nhập trong tháng đó.
Nguyễn Ngọc Yến Viện ĐH Mở Hà Nội
15
15
Trị giá vốn thực tếNVL xuất kho
Giá bình quân của 1đơn vị NVL
Số lượng NVL xuất kho
=
Hoàn thiện kế toán Nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn
VD: Lô hàng mua nhập kho Đá bazan ngày 31/03/2008 giá trị thực tế
nhập kho của lô hàng là : 144 837 903 đồng ( giá trị không bao gồm thuế
GTGT)
* Tính giá NVL xuất kho
Công ty lựa chọn phương pháp bình quân gia quyền để tính trị giá vốn
thực tế NVL xuất kho.Áp dụng phương pháp tính giá này phù hợp với đặc
điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty ( trong điều kiện công ty áp
dụng kế toán máy trong công tác kế toán). Do đặc điểm nghiệp vụ xuất kho
đối với từng danh điểm NVL trong ngày và trong kỳ hạch toán diễn ra thường
xuyên liên tục. Vì vậy Công ty đã áp dụng phương pháp bình quân gia quyền
cố định theo tháng để giảm bớt khối lượng tính toán.
Theo phương pháp này, căn cứ vào giá thực tế của NVL tồn đầu kỳ và
nhập trong kỳ, kế toán sẽ xác định được giá bình quân một đơn vị. Và căn cứ
vào lượng NVL xuất trong kỳ và giá đơn vị bình quân để xác định giá thực tế
xuất trong kỳ.
Trong đó Đơn giá bình quân 1 đơn vị NVL được tính theo công thức :
VD: Ta có bảng kê lượng hàng nhập tháng 3/2008 của thạch cao NVL chính.
ĐVT: Tấn
Chỉ tiêu Số lượng (Tấn) Giá trị
Tồn đầu tháng 16 700 7 622 962 440
Nhập trong tháng 2 703,9 1 241 090 100
sản xuất không qua nhập kho nên khối lượng xuất được tính vào cuối tháng
và nó được tính ngược từ khối lượng clinker sản xuất trong tháng theo tỷ lệ
của đá vôi và đất sét trong clinker. Để tính được thì phải dựa vào định mức
kỹ thuật : để sản xuất ra 1 tấn clinker phải tốn 1,280 tấn đá vôi và 1,290 tấn
đất sét. Cuối tháng, phòng kỹ thuật dựa vào báo cáo sản xuất clinker để tính ra
lượng đá vôi và đất sét đã xuất dùng sau đó chuyển số liệu xuống phòng kế
toán. Kế toán phòng vật tư có nhiệm vụ tính ra đơn giá bình quân và trị giá
xuất trong kỳ của đá vôi và đất sét làm cơ sở để tính ra chi phí NVL xuất
dùng trong kỳ.
Như vậy về cơ bản cách xác định đơn giá bình quân theo phương pháp
bình quân gia quyền là giống nhau và thống nhất cho tất cả các NVL tại Công
ty CP xi măng Bỉm Sơn. Nhưng do đặc điểm sản xuất của Công ty là tự khai
thác đá vôi và đất sét nên khi xác định trị giá thực tế xuất kho trong kỳ của 2
loại NVL này có sự khác biệt với các loại NVL khác. Đây là một nét đặc
Nguyễn Ngọc Yến Viện ĐH Mở Hà Nội
17
17
Hoàn thiện kế toán Nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn
trưng rất riêng biệt trong công tác kế toán NVL tại Công ty CP xi măng Bỉm
Sơn.
2.2.4. Kế toán NVL tại Công ty CP xi măng Bỉm Sơn
Để tiến hành công tác kế toán thuận lợi và đầy đủ chính xác trước hết cần
tuân thủ theo các thủ tục nhập kho của NVL. NVL nhập xuất kho phải được
thực hiện theo những thủ tục này để đảm bảo được tính đúng đắn, thống nhất,
hợp pháp và đối với yêu cầu quản lý theo một trỡnh tự nhất định giúp tránh
được những sai sút, sai phạm trong quá trình nhập xuất vật tư.
2.2.4.1. Thủ tục nhập xuất kho NVL.
2.2.4.1.1. Thủ tục nhập kho NVL.
Khi có nhu cầu về NVL cho kỳ tới, phòng vật tư sẽ đề nghị phê duyệt
trong “Tờ trình mua vật tư”. Sau khi được giám đốc duyệt, phòng vật tư đi
- Một nhân viên phòng kỹ thuật hoặc phòng KCS
- Một nhân viên phòng kế toán đại diện cho phòng Kế toán thống kê tài chính
- Một thủ kho của kho vật tư
Những căn cứ pháp lý để Hội đồng kiểm nghiệm căn cứ vào đó đưa ra
kết luận kiểm nghiệm
- Hợp đồng kinh tế
- Hoá đơn GTGT
- Phiếu báo kết quả phân tích chất lượng
Nhiệm vụ của Hội đồng kiểm nghiệm là kiểm tra lại các chứng từ gốc.
Tiến hành các phương pháp như cân, đong, đo… để xác định chính xác lại số
lượng NVL thực tế. Và tiến hành đối chiếu số liệu này với các chứng từ. Nếu
không có sự sai lệch giữa chứng từ và thực tế thì viết “Biên bản kiểm
nghiệm”, các bên tham gia kiểm nghiệm ký tên vào biên bản.
Sau khi lập biên bản kiểm nghiệm, tiến hành làm thủ tục nhập kho và
viết phiếu nhập kho căn cứ vào số lượng NVL thực nhập, hợp đồng kinh tế,
hoá đơn GTGT và biên bản kiểm nghiệm. Bộ phận thống kê của tổng kho
kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ, hợp lý của các chứng từ, sau đó viết phiếu
Nguyễn Ngọc Yến Viện ĐH Mở Hà Nội
19
19
Hoàn thiện kế toán Nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn
nhập kho theo đúng quy định về biểu mẫu, nội dụng, phương pháp… và có
đầy đủ chữ ký của người có liên quan.
Sau đây là các VD thông qua các biểu mẫu thể hiện thủ tục nhập kho
NVL
Thủ tục nhập kho NVL chính là Đá bazan
Trước hết, phòng cung ứng VTTB căn cứ vào tình hình thực hiện sản
xuất và kế hoạch lập “Tờ trình mua vật tư”( Biểu số 01) để Giám đốc duyệt.
Sau khi được sự phê duyệt của giám đốc về trình mua vật tư. Phòng
CUVTTB gửi “Bảng đề nghị mức giá mua vật tư hàng hoá”( Biểu số 02) cho