LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ KẾ TOÁN CHO VAY TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG - Pdf 73

Lý luận cơ bản về tín dụng ngân hàng và kế
toán cho vay trong hoạt động kinh doanh
ngân hàng
I/ Tín dụng ngân hàng và vai trò của tín dụng ngân
hàng trong nền kinh tế
1)Khái niệm tín dụng ngân hàng.
Trong quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, xuất phát từ nhu cầu cho
vay và đi vay của những ngời thiếu vốn và những ngời thừa vốn trong cùng một
thời điểm đã hình thành nên quan hệ vay mợn lẫn nhau trong xã hội và trên cơ sở
đó hoạt động tín dụng ra đời.
Thuật ngữ "Tín dụng" xuất phát từ gốc Latinh Creditium có nghĩa là một sự
tin tởng tín nhiệm lẫn nhau, hay nói cách khác đó là lòng tin. Theo ngôn ngữ dân
gian Việt Nam thì tín dụng là quan hệ vay mợn lẫn nhau trên cơ sở coa hoàn trả cả
gốc và lãi.
Theo Mác, tín dụng là sự chuyển nhợng tạm thời một lợng giá trị từ ngời sở
hữu sang ngời sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về với một lợng giá
trị lớn hơn giá trị ban đầu. Theo quan điểm này, phạm trù tín dụng có ba nội dung
chủ yếu đó là: tính chuyển nhợng tạm thời một lợng giá trị, tính thời hạn và tính
hoàn trả.
Nh vậy, tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa ngời cho vay và ngời đi vay
thông qua sự vận động của giá trị, vốn tín dụng đựơc biểu hiện dới hình thức tiền
tệ hoặc hàng hoá. Quá trình đó thể hiện qua ba giai đoạn sau:
-Thứ nhất: Phân phối tín dụng dới hình thức cho vay, ở giai đoạn này giá trị
vốn tín dụng đợc chuyển sang ngời đi vay, ở đây chỉ có một bên nhận giá trị và
cũng chỉ có một bên nhợng đi giá trị.
-Thứ hai: sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất. Ngời đi vay sau
khi nhận đợc vốn tín dụng, họ đợc chuyển sử dụng giá trị đó để thoã mãn nhu cầu
sản xuất hoặc tiêu dùng của mình. Tuy nhiên ngời đi vay chỉ đợc sử dụng trong
một thời gian nhất định mà không đợc quyền sở hữu giá trị đó.
-Thứ ba: đây là giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng. Sau khi
vốn tín dụng đã hoàn thanh một chu kỳ sản xuất để trở về hình thái tiền tệ thì vốn

cha đến hạn trả; khoản tiền tích luỹ để tái sản xuất mở rộng nhng cha đủ điều kiện
để đầu t.... Các khoản tiền tệ trên đây luôn đợc các doanh nghiệp tìm cách đầu t
kiếm lời. Ngoài ra còn có các khoản tiền để dành của dân c, khi cha có nhu cầu sử
dụng, họ cũng muốn đầu t để kiếm lời. Tất cả tạo thành nguồn vốn tiềm tàng trong
nền kinh tế. Trong khi đó có một số doanh nghiệp, cá nhân thiếu vốn để phục vụ
cho nhu cầu kinh doanh của mình; một số cá nhân trong xã hội cần vốn để cải
thiện sinh hoạt hoặc đối phó với những rủi ro trong cuộc sống; Ngân sách Nhà nớc
bị thâm hụt, Nhà nớc cần vốn để bù đắp sự thâm hụt đó đảm bảo cân đối thu chi cho
nền kinh tế.
Nh vậy, ta thẩy trong xã hội luôn có một số ngời thừa vốn cần đầu t và một
số ngời thiếu vốn muốn đi vay. Song những ngời này khó có thể trực tiếp gặp
nhau, hoặc có thể gặp nhau thì chi phí rất cao và không kịp thời. Hoạt động tín
dụng của các ngân hàng thơng mại đã thoả mãn những lo lắng của những ngời có
vốn và đáp ứng nhu cầu của ngời cần vốn, có nghĩa là các ngân hàng thơng mại
đứng ra làm trung gian nhận tiền gửi từ tất cả các thành phần kinh tế và cho vay
lại các đơn vị, cá nhân trong nền kinh tế. Hay nói cách khác: "tín dụng ngân hàng
là chiếc cầu nối để những ngời có vốn và những ngời cần vốn gặp nhau"
2.2)Tín dụng ngân hàng là công cụ mạnh mẽ để thúc đẩy quá trình tập trung
và điều hoà vốn trong nền kinh tế.
Nh trên đã trình bày, thông qua hoạt động "đi vay để cho vay" tín dụng ngân
hàng đã làm nhiệm vụ đa vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu. Điều này đợc thể hiện
ở việc tín dụng thu hút các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức, cá
nhân để cho vay đầu t phát triển kinh tế.
Bằng các hình thức huy động vốn ngày càng đa dạng và phong phú cúng với
việc thoả mãn thích đáng nhu cầu lợi ích, nhu cầu tiền đột xuất của ngời gửi tiên
fma các Ngân hàng thơng mại đã thu hút đợc hầu hết các nguồn tiền nhàn rỗi dù
là rất nhỏ từ trong dân chúng tập trung về tay mình và từ đó đáp ứng đợc nhu cầu
về vốn ngày càng tăng của nền kinh tế, hay nói cách khác hoạt động tín dụng đã
làm nhiệm vụ thông đòng để vốn chảy từ nơi thừa đến nơi thiếu thông qua việc
thực hiện hoạt động đi vay và cho vay. Nhờ đó đã góp phần cung ứng và điều hoà

Thông qua hoạt động tín dụng, khối lợng tiền trong lu thông sẽ tăng lên khi
thực hiện hoạt động cho vay và ngợc lại sẽ giảm xuống khi thực hiện hoạt động
thu nợ, do đó sẽ góp phần điều tiết khối lợng tiền trong toàn bộ nền kinh tế. Ngân
hàng sử dụng công cụ lãi suất, hạn mức tín dụng để làm thay đổi khối lợng tiền
vay, từ đó điều tiết đợc khối lợng tiền trong nền kinh tế và kiểm soát đợc lạm phát,
bởi vì tín dụng ngân hàng khi điều tiết đợc khối lợng tiền tức là khống chế đợc
khối lợng tiền cần thiết cho nhu cầu trao đổi và lu thông hàng hoá, nhờ kiểm soát
đợc giá cả. Hay nói cách khác ,việc đa tiền vào lu thông qua tín dụng ngân hàng là
con đờng hữu hiệu nhất bởi vì khối lợng tiền này đã đợc đảm bảo bằng một lợng
giá trị vật t hàng hoá và tránh đợc lạm phát tiền tệ.
Mặt khác, chúng ta cũng biết rằng Ngân hàng trung ơng là cơ quan quản lý
vĩ mô đối với các Ngân hàng thơng mại và các tổ chức tín dụng khác, có nhiệm vụ
kiểm tra, khảo sát mọi hoạt động của các tổ chức này nhằm đảm bảo cho nền kinh
tế hoạt động an toàn và có hiệu quả. Thông qua hoạt động tín dụng các Ngân hàng
thơng mại, Ngân hàng trung ơng có thể biết đợc phạm vi, phơng hớng đầu t, hiệu
quả đầu t vào cá ngành kinh tế từ đó có chính sách tiền tệ thích hợp. Nếu nền kinh
tế có dấu hiệu tăng trởng, hiệu quả đầu t vào cá ngành trong nền kinh tế cao thì Ngân
hàng trung ơng sẽ thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng tức là bơm thêm tiền vào lu
thông. Ngợc lại, nếu nền kinh tế có dấu hiệu suy thoái thì Ngân hàng trung ơng sẽ
thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt tức là rút bớt tiền từ lu thông về. Nh vậy bằng
các công cụ nh hạn mức tín dụng, lãi suất tín dụng Ngân hàng trung ơng có thể kiểm
soát, điều tiết lu thông tiền tệ đảm bảo khối lợng tiền cần thiết cho lu thông nhằm ổn
định giá trị đồng tiền, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển.
2.5) Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện để phát triển kinh tế với các nớc.
Mỗi một quốc gia muốn phát triển nền kinh tế của mình thì không thể chỉ
dựa vào tiềm năng của đất nớc mà còn phải mở rộng quan hệ kinh tế ra bên ngoài,
tham gia vào nền kinh tế thế giới, bởi lẽ không có một nớc nào lại có thể hội tụ
đầy đủ các tiềm năng để phát triển kinh tế mọi mặt, mà các nớc đều chỉ có lợi thế
so sánh của mình, do đó nó thờng phát sinh quan hệ vay mợn lẫn nhau mà chủ
yếu là vốn đầu t. Vì vậy, tín dụng ngân hàng đã trở thành một trong những phơng

Kế toán là công cụ quan trọng để quản lý nền kinh tế vì nó có tác dụng to lớn
trong việc kiểm tra thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch, việc sử dụng vốn tiền tệ, bảo
vệ an toàn tài sản, củng cố và tăng cờng chế độ hạch toán kinh tế.
Kế toán ngân hàng là một bộ phận trong hệ thống kế toán của nền kinh tế
nên nó cũng phát huy vai trò của kế toán nói chung. Tuy nhiên, xuất phát từ những
đặc điểm của hoạt động ngân hàng nên vai trò của kế toán ngân hàng có khác với
vai trò của các ngành khác.
+ Cung cấp thông tin tổng hợp để phục vụ quản lý nền kinh tế: kế toán ngân
hàng có quan hệ mật thiết với hoạt động của nền kinh tế. Mọi hoạt động về kinh
tế, tài chính của doanh nghiệp đều đợc phản ánh thông qua các tài khoản mở tại
ngân hàng. Vì vậy số liệu ghi chép của kế toán vừa phản ánh đợc hoạt động
nghiệp vụ của ngành, vừa phản ánh đợc hoạt động của các ngành khác về tình
hình kinh tế, tài chính, sự biến động của vật t, lao động, tiền vốn,thu nhập, chi phí,
lợi nhuận...từ đó các đơn vị có đầy đủ thông tin để ra quyết định điều hành kịp
thời, góp phần nâng cao chất lợng hiệu quẩn xuất kinh doanh. Mặt khác, các cơ
quan quản lý Nhà nớc trong lĩnh vực tài chính, kế toán, thống kê cũng cần đợc
cung cấp thông tin kế toán ngân hàng để xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch, xây
dựng chế độ quản lý tài chính. Do khái niệm phản ánh một cách tổng hợp nên kế
toán ngân hàng đã giúp Đảng và Nhà nớc nắm đợc tình hình hoạt động của nền
kinh tế, từ đó đề ra đợc phơng hớng phát triển nền kinh tế một cách sát thực và
đúng đắn.
+ Bảo vệ an toàn tài sản: bảo vệ tài sản là trách nhiệm chung của kế toán bất
kỳ ngành nào, song kế toán ngân hàng có vai trò quan trọng hơn vì ngoại việc bảo
vệ an toàn tài sản của bản thân ngân hàng còn phải bảo vệ tài sản của Nhà nớc,
của khách hàng gửi tại ngân hàng. Do đó, kế toán ngân hàng phải ghi chép, kiểm
soát một cách chặt chẽ mọi loại tài sản để tránh mất mát, thiếu hụt về mặt số lợng
và nâng cao hiệu quả mọi tài sản trong quá trình sử dụng.
+ Đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo, quản trị ngân hàng: kế toán đợc tiến
hành trên cơ sở hoạt động của các mặt nghiệp vụ nh: nghiệp vụ tiền tệ, tín dụng,
thanh toán...do vậy số liệu của kế toán đã phản ánh đợc kết quả các mặt hoạt động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status