Chuyên đề: Phát triển kĩ năng tiếp nhận ngôn bản cho học sinh tiểu học
MỤC LỤC
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
II. CƠ SỞ KHOA HỌC
1. Cơ sở lí luận của dạy đọc hiểu cho học sinh tiểu học
1.1. Ý nghĩa của dạy đọc hiểu
1.2. Đặc điểm của văn bản
1.3. Bản chất của quá trình đọc hiểu văn bản
1.4. Tác phẩm văn học với vấn đề đọc hiểu văn bản nghệ thuật
II. CƠ SỞ KHOA HỌC
1. Cơ sở lí luận của dạy đọc hiểu cho học sinh tiểu học
1.1. Ý nghĩa của dạy đọc hiểu
1.2. Đặc điểm của văn bản
1.3. Bản chất của quá trình đọc hiểu văn bản
1.4. Tác phẩm văn học với vấn đề đọc hiểu văn bản nghệ thuật
2. Cơ sở thực tiễn của việc dạy đọc hiểu cho học sinh tiểu học
2.1. Khảo sát chương trình SGK Tiếng Việt lớp 5
2.2. Những khó khăn mà giáo viên và học sinh thường gặp trong việc
dạy đọc hiểu văn miêu tả lớp 5.
III. NHỮNG ĐIỀU CHỈNH NHẰM GIÚP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC
HIỂU VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 5
1. Lưu ý để điều chỉnh trên một số bài văn miêu tả lớp 5
2. Bài học giúp luyện đọc hiểu văn miêu tả cho học sinh lớp 5
IV. CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
Vũ Tiến Thành – Lớp K19 – Giáo dục Tiểu học
1
Chuyên đề: Phát triển kĩ năng tiếp nhận ngôn bản cho học sinh tiểu học
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Bậc tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân. Đây
là giai đoạn trẻ chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập. Giáo dục
tiểu học được ví như nền móng của ngôi nhà, móng có vững thì nhà mới chắc
với các em học sinh lớp 4,5 các em không chỉ năm được vở âm thanh của chữ
viết mà các em cần hiểu nghĩa của nó. Tuy nhiên, hiện nay, quá trình dạy học
ở trương tiểu học, các giáo viên thường quá coi trọng việc đọc thành tiếng cho
học sinh mà xem nhẹ việc luyên đọc hiểu cho các em. Có khi giáo viên hướng
dẫn học sinh tìm hiểu bài, giáo viên nêu câu hỏi, học sinh chưa trả lời được thì
giáo viên đã trả lời giúp học sinh luôn. Dạy học như vậy dẫn đến tình trạng
học sinh có thể đọc tốt một câu văn hoặc câu thơ nhưng các em lại không hiểu
nội dung, ý nghĩa của câu đó. Hơn thế nữa, tâm lí các em học sinh tiểu học
thích đọc to, đọc đồng thanh hơn là phải đọc thầm để suy nghĩ tìm hiểu nội
dung của câu đó. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài : “ Rèn
kĩ năng đọc hiểu văn miêu tả cho học sinh lớp 5”. Chúng tôi hi vọng rằng đề
tài này sẽ góp phần nâng cao quá trình đọc hiểu của các em học sinh tiểu học.
Các em sẽ hiểu được nội dung văn bản sâu sắc hơn mà không chỉ là nắm được
vỏ âm thanh của các văn bản đó.
Vũ Tiến Thành – Lớp K19 – Giáo dục Tiểu học
3
Chuyên đề: Phát triển kĩ năng tiếp nhận ngôn bản cho học sinh tiểu học
II. CƠ SỞ KHOA HỌC
1. Cơ sở lí luận của dạy đọc hiểu cho học sinh tiểu học
Bình diện ngữ nghĩa của văn bản – cơ sở khoa học để luyện đọc hiểu
cho học sinh tiểu học
1.1. Ý nghĩa của dạy đọc hiểu
Như chúng ta đã biết, đọc không chỉ là sự “đánh vần” lên thành tiếng
theo đúng các kí hiệu chữ viết mà quan trọng hơn, đọc còn là một quá trình
nhận thức để có khả năng thông hiểu những gì được đọc. Đọc thành tiếng
không thể tách rời với việc hiểu những gì được đọc.
Chỉ khi biết cách hiểu, hiểu sâu sắc, thấu đáo các văn bản được đọc thì
HS mới có công cụ hữu hiệu để lĩnh hội những tri thức, tư tưởng, tình cảm của
người khác chứa đựng trong văn bản, có công cụ để lĩnh hội tri thức khoa học
các môn học khác của nhà trường.
văn bản.
+ Về mặt hình thức, tính chỉnh thể thể hiện ở kết cấu mạch lạc và chặt
chẽ, giữa các bộ phận trong văn bản có các hình thức liên kết và toàn văn bản
có một tên gọi.
Đọc hiểu chính là tìm hiểu bình diện ngữ nghĩa của văn bản để nắm nội
dụng văn bản. Nó chỉ được thực hiện có hiệu quả khi ta hiểu rõ tính chỉnh thể
của văn bản về mặt nội dung.
Về mặt nội dung, tính chỉnh thể của văn bản thể hiện ở hai điểm:
Thứ nhất, Tính nhất quán chủ đề thể hiện ở chỗ toàn văn bản tập trung
vào một chủ đề thống nhất, chủ đề này được triển khai qua các chủ đề bộ phận
(các tiểu chủ đề) của từng phần, từng chương, từng mục, từng đoạn. Ví dụ bài:
Mùa thảo quả (TV5 – T1).
Vũ Tiến Thành – Lớp K19 – Giáo dục Tiểu học
5
Chuyên đề: Phát triển kĩ năng tiếp nhận ngôn bản cho học sinh tiểu học
Chủ đề của văn bản này là mùa thảo quả. Các bộ phận của văn bản đều tập
trung vào chủ đề và phát triển qua 3 phần:
1. Sức lan tỏa kì diệu của hương thảo quả.
2. Sức sống mãnh liệt của cây thảo quả.
3. Màu sắc chứa lửa, chứa nắng của trái thảo quả.
Tất cả những bộ phận này của văn bản cùng cộng hưởng, phát triển tạo
nên vẻ đẹp, sức hấp dẫn diệu kì làm say mê và ấm nóng cả núi rừng của mùa
thảo quả.
Để hiểu văn bản, phải làm rõ được chủ đề này. Đây là nhiệm vụ mà
trường tiểu học thường gọi là tìm đại ý hay xác định nội dung của bài.
Văn bản (bài) được dạy đọc ở tiểu học có dung lượng không lớn nên
cấp độ dưới văn bản thường chỉ là đoạn văn, khổ thơ, Để xác đinh nội dung
của bài lại phải tìm được nội dung của đoạn.
Thứ hai, tính hướng đích – mục tiêu văn bản. Văn bản là sản phẩm của
quá trình giao tiếp. Mục đích của giao tiếp cũng chính là mục đích của văn
là nhằm tác động vào lí trí để thuyết phục hoặc là tác động vào tình cảm để
truyền cảm, hướng người đọc, người nghe đến một hành động nào đó.
Quá trình đọc hiểu văn bản chỉ được xem là hoàn thiện khi mục đích
của văn bản – điều mà người viết muốn gửi đến bạn đọc – đã được giải mã.
1.2.2. Các bình diện ngữ nghĩa của văn bản
Chính mục đích giao tiếp làm cho văn bản luôn chứa đựng nội dung
thông tin và nội dung này tạo ra các bình diện ngữ nghĩa của văn bản.
Trước hết, đó là nội dung miêu tả, hay còn gọi là nội dung sự vật, là
những hiểu biết, những nhận thức về thế giới xung quanh, về xã hội và về
chính bản thân con người. Nội dung này tạo thành nghĩa sự vật của văn bản.
Trong giờ Tập đọc, các câu hỏi: Từ này nghĩa là gì? Câu này nói gì? Bài này
nói về điều gì?... nhằm hướng đến xác định nội dung sự vật ở từng văn bản.
Vũ Tiến Thành – Lớp K19 – Giáo dục Tiểu học
7
Chuyên đề: Phát triển kĩ năng tiếp nhận ngôn bản cho học sinh tiểu học
Tiếp theo là nội dung thông tin về những cảm xúc, tình cảm, thái độ của
người viết đối với đối tượng, sự việc được đề cập đến, đối với người tham gia
hoạt động giao tiếp. Nội dung này tạo ra nghĩa liên cá nhân của văn bản.
Trong giờ Tập đọc có các câu hỏi: “Cảm xúc, tình cảm của tác giả như thế
nào?”, “Những câu, từ nào bộc lộ cảm xúc của tác giả?”. “Bài này được viết
với thái độ , tình cảm ra sao?” nhằm hướng đến xác định nội dung liên cá nhân
của văn bản.
Trong các loại văn bản khác nhau, tỉ lệ hai loại thông tin cũng khác
nhau. Các văn bản khoa học, hành chính, truyền thông thiên về loại thông tin
thứ nhất. Các văn bản nghệ thuật mang cả hai loại thông tin nhưng thông tin
về cảm xúc, tình cảm là đặc trưng cơ bản. Thông tin này chưa được chú trọng
khai thác đúng mức trong giờ Tập đọc ở tiểu học.
Xét cách thức biểu hiện các thông tin ngữ nghĩa thì cần phân biệt: thông
tin ngữ nghĩa tường minh (còn gọi là hiển ngôn) và thông tin ngữ nghĩa hàm
ẩn ( còn gọi là hàm ngôn).
trong một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể với những nhân tố giao tiếp cụ thể.
Ngược lại, trong quá trình tiếp nhận, người đọc phải hướng đến lĩnh hội nội
dung và đích của văn bản. Để đạt được mục tiêu này, họ lại phải phân tích văn
bản trên những gì đã được người viết triển khai: nghĩa của từ (cả nghĩa từ điển
và nghĩa văn cảnh, cả nghĩa biểu vật và nghĩa tình thái), nghĩa miêu tả và
nghĩa tình thái của câu, nghĩa của đoạn, nghĩa của toàn bài, rồi mới đi đến mục
đích thông báo của văn bản. Chính vì vậy, đọc hiểu là một cách đọc phân tích.
Quá trình phân tích văn bản trong đọc hiểu diễn ra theo hai cách ngược
nhau. Người đọc chon cách phân tích nào tùy thuộc vào vốn sống, trình độ văn
hóa và kĩ năng đọc. Người đọc có trình độ văn hóa cao và có nhiều kinh
nghiệm sống thường chọn cách phân tích đi từ nghĩa chung (nội dung tổng
thể) của văn bản đến nghĩa của từng bộ phận trong văn bản rồi từ đó khái quát
Vũ Tiến Thành – Lớp K19 – Giáo dục Tiểu học
9
Chuyên đề: Phát triển kĩ năng tiếp nhận ngôn bản cho học sinh tiểu học
lên chủ đề, tư tưởng của văn bản. Trong khi đó, người đọc chưa có kinh
nghiệm, vốn sống chưa nhiều thường chọn cách phân tích đi từ nghĩa của bộ
phận nhỏ (từ, câu, đoạn) đến nghĩa chung của văn bản (đại ý, chủ đề, đích văn
bản)… Mặc dầu vậy, dù chọn cách phân tích nào thì để hiểu văn bản, người
đọc vẫn phải biết nghĩa của các bộ phận nhỏ trong văn bản và lấy đó làm căn
cứ để xác định chủ đề, đích của văn bản. Việc đọc hiểu của người có trình độ
cao nhanh hơn người có trình độ thấp là do họ đã vượt qua được giai đoạn đọc
từng từ, từng chữ.
Khả năng đọc và vốn sống của học sinh tiểu học còn bị hạn chế nên về
cơ bản, dạy đọc ở tiểu học nên theo cách phân tích văn bản đi từ hiểu nghĩa
của bộ phận nhỏ đến hiểu nội dung và đích của toàn văn bản. Song trong một
số bài tập đọc, nhất là ở phần cuối của lớp 4 và lớp 5, cần phối hợp dạy theo
cả hai cách phân tích nói trên nhằm làm cho học sinh bắt đầu làm quen với kĩ
năng quan sát toàn bài để đọc lướt, đọc quét, đọc đoán nghĩa. Lựa chọn văn
bản rất quan trọng trong việc thực hiện chương trình dạy đọc. Một bài đọc
- Kĩ năng nhận ra các câu khó hiểu, các câu quan trọng.
- Kĩ năng nhận ra các đoạn ý của văn bản: kĩ năng nhận biết cấu trúc
của văn bản, nhận ra mối quan hệ giữa các bộ phận trong bài, những chỗ được
đánh dấu, nhận biết những phương tiện liên kết văn bản (phép thế, phép nối,
phép liên tưởng…) thành một thể thống nhất, nhận biết được kiểu cấu trúc của
đoạn (diễn dịch, qui nạp, tổng hợp, song song…).
- Kĩ năng nhận ra đề tài văn bản:
+ Kĩ năng quan sát tên bài, chú ý dựa vào tên bài, các hình vẽ minh họa,
sơ đồ (nếu có) để phỏng đoán về nội dung văn bản.
Vũ Tiến Thành – Lớp K19 – Giáo dục Tiểu học
11
Chuyên đề: Phát triển kĩ năng tiếp nhận ngôn bản cho học sinh tiểu học
+ Kĩ năng phán đoán nội dung bài đọc dựa vào kiến thức vốn có về chủ
điểm.
* Kĩ năng làm rõ nghĩa văn bản gồm:
- Kĩ năng làm rõ nghĩa từ: bằng ngữ cảnh, bằng trực quan, bằng đồng
nghĩa…
- Kĩ năng làm rõ nội dung thông báo của câu.
- Kĩ năng làm rõ ý của đoạn.
- Kĩ năng làm rõ ý chính của văn bản:
+ Kĩ năng đọc lướt tìm ý chung của bài, của đoạn để có thể xử lí bài đọc
như một chỉnh thể trọn vẹn trước khi đi vào chi tiết.
+ Kĩ năng khái quát hóa, tóm tắt nội dung đã đọc.
- Kĩ năng làm rõ mục đích của người viết gửi vào văn bản, kĩ năng nhận
biết những ẩn ý của tác giả.
* Kĩ năng hồi đáp văn bản gồm:
- Kĩ năng phản hồi, đánh giá tính đúng đắn, tính thuyết phục, hiệu quả
của nội dung văn bản.
- Kĩ năng phản hồi bằng hành động:
+ Liên hệ của cá nhân sau khi tiếp nhận nội dung văn bản.
cảm nhận hình tượng trong sự toàn vẹn của các chi tiết, các liên hệ.
- Người đọc tiếp xúc với ý đồ sáng tạo của người nghệ sĩ, thâm nhập
vào hệ thống hình tượng như là sự kết tinh sâu sắc tư tưởng và tình cảm của
tác giả.
- Người đọc đưa hình tượng vào đời sống và kinh nghiệm riêng của
mình để thể nghiệm, đồng cảm. Cuối cùng nâng cấp lí giải tác phẩm lên cấp
quan niệm và tính hệ thống, hiểu được vị trí tác phẩm trong lịch sử văn hóa, tư
tưởng, đời sống và truyền thống nghệ thuật.
Vũ Tiến Thành – Lớp K19 – Giáo dục Tiểu học
13
Chuyên đề: Phát triển kĩ năng tiếp nhận ngôn bản cho học sinh tiểu học
Ba cấp độ trên có điểm tương đồng với ba bước trong quá trình đọc hiểu
văn bản và như vậy hiểu văn bản nghệ thuật là hiểu một kiểu văn bản. Tách
việc hiểu văn bản nghệ thuật ra khỏi cái chung, khỏi hiểu văn bản là không
hợp lí. Đồng thời những đặc trưng của văn bản nghệ thuật cũng cho ta thấy
muốn hiểu nó, ngoài bước đi chung còn phải nắm bắt được các đặc điểm riêng
của loại văn bản này. Vậy văn bản nghệ thuật là gì và chúng có đặc điểm nào?
Văn bản văn học là một tổ chức nghệ thuật gồm từ, câu, đoạn tạo thành
một thế giới nghệ thuật mang tính khái quát nhằm phản ánh đời sống và biểu
hiện sự cảm nhận trước đời sống của tác giả, nhằm thức tỉnh những thái độ,
tình cảm nhất định đối với thực tại đời sống thông qua việc xây dựng nhân vật,
không gian, thời gian, qua việc sắp xếp các chi tiết để tạo thành bức tranh đời
sống sinh động nhằm biểu hiện quan niệm nghệ thuật về con người của tác
giả.
Giữa văn bản nghệ thuật và văn bản có những điểm giống nhau: cả hai
cùng có tính hoàn chỉnh trên cơ sở liên kết nội dung và hình thức; cả hai cùng
nhằm mục đích thông tin; cả hai cùng dùng ngôn ngữ làm phương tiện biểu
đạt. Nhưng trên cả ba điểm giống nhau này, giữa hai loại văn bản cũng có chỗ
khác nhau: về nội dung thông tin, thông tin trong các văn bản nói chung là
thông tin sự vật, hiển ngôn, còn trong văn bản nghệ thuật, tác giả phải tổ chức
cảm, thái độ của nhà văn trước hiện thực. Không chú ý đến đặc trưng này,
nhiều giáo viên đã dạy đọc hiểu văn chương như dạy một bài khoa học thường
thức. Họ đem đến cho học sinh cỏ cây, rừng núi, còn nhân vật con người, lòng
yêu cỏ cây, vạn vật của họ dường như chẳng bao giờ được động chạm đến. Có
cô giáo đã củng cố dặn dò sau khi học bài “Đầm sen” (TV3): “Bài Đầm sen
cho ta thấy sen là một thứ cây có nhiều ích lợi: nấu chè, ướp trà, gói cốm nên
các em phải biết sử dụng và bảo vệ nó”. Học bài Hành trình của bầy ong (TV5
Vũ Tiến Thành – Lớp K19 – Giáo dục Tiểu học
15