TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 74

Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trêng §H Kinh tÕ quèc d©n
TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM)

1.1. Vài nét cơ bản về doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp
Theo luật doanh nghiệp Việt Nam, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế
có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh
doanh theo quy định của pháp luật, nhằm mục đích thực hiện một, một số
hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản
phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại doanh nghiệp như tính chịu
trách nhiệm, tư cách pháp lý của doanh nghiệp, hình thức sở hữu của doanh
nghiệp, quy mô...
Phân theo hình thức sở hữu của doanh nghiệp thì các doanh nghiệp ở
Việt Nam bao gồm: Doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, công ty liên doanh và doanh nghiệp tư
nhân.
Phân theo quy mô thì các doanh nghiệp được phân thành doanh
nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong đó, doanh nghiệp vừa và nhỏ
được hiểu là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh
theo pháp luật hiện hành, có số vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc có
số lao động hàng năm không quá 300 người.
1.1.2. Nhu cầu vay vốn Ngân hàng của các Doanh nghiệp
Khó khăn nổi bật nhất hiện nay của các doanh nghiệp này là vấn đề
về vốn. Các doanh nghiệp hầu hết đều muốn bổ sung vốn để đầu tư vào tài
sản lưu động và tài sản cố định.
 Nhu cầu vay vốn ngắn hạn:
Do nhu cầu vốn dài hạn để đầu tư vào tài sản cố định là rất lớn nên
thông thường doanh nghiệp khó có thể sử dụng nguồn vốn dài hạn để đầu
1

sở hữu hoặc phát hành cổ phiếu, trái phiếu để tài trợ cho những loại tài sản
này. Nhưng nguồn vốn chủ sở hữu có giới hạn còn phát hành cổ phiếu và
2
§Æng Ph¬ng Mai Líp: TCDN 46B
2
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trêng §H Kinh tÕ quèc d©n
trái phiếu cũng gặp nhiều khó khăn nên thông thường doanh nghiệp thường
vay vốn dài hạn ngân hàng.
Thực tế cho thấy rằng đối với các doanh nghiệp hiện nay thì phương
thức bổ sung vốn bằng cách vay từ các ngân hàng thương mại là hợp lý
nhất. Vì vậy mà các ngân hàng thương mại ngày càng có vai trò quan trọng
trong việc giúp các doanh nghiệp phát triển, mở rộng hoạt động.
1.2. Hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp tại NHTM
1.2.1. Định nghĩa cho vay.
Cho vay là một trong bốn hình thức cấp tín dụng tại NHTM, cùng
với bảo lãnh, cho thuê và chiết khấu. Trong đó, tín dụng ngân hàng là quan
hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong
một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định.
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, trong đó tổ chức tín dụng
giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn
nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi.
1.2.2. Phân loại cho vay
Dựa vào mục đích cho vay:
- Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm
và xây dựng bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công
nghiệp, thương mại và dịch vụ.
- Cho vay công nghiệp và thương mại: là loại cho vay ngắn hạn để bổ
sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp,
thương mại, dịch vụ.
- Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản

• Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho
tiền vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác.
Dựa vào phương thức cho vay:
• Cho vay thấu chi:
Là hình thức cho vay qua đó NHTM cho phép người vay được chi
trội trên số dư tiền gửi thanh toàn của mình đến một hạn mức nhất định và
trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu
chi. Cho vay thấu chi được thực hiện khi đặc điểm hoạt động thu và chi của
4
§Æng Ph¬ng Mai Líp: TCDN 46B
4
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trêng §H Kinh tÕ quèc d©n
khách hàng không phù hợp về thời gian và quy mô. Do đó hình thức cho
vay này tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng chủ động và kịp thời trong
quá trình thanh toán. Cho vay thấu chi là hình thức cho vay ngắn hạn, linh
hoạt, thủ tục cho vay đơn giản, phần lớn không cần tài sản đảm bảo. Cho
vay thấu chi có thể cấp cho cả doanh nghiệp lẫn cá nhân vài ngày trong
tháng và vài tháng trong năm với mục đích để khách hàng (doanh nghiệp)
trả lương, mua hàng và chi các khoản phải trả, phải nộp khác. Hình thức
này nhìn chung chỉ sử dụng đối với các khách hàng tin cậy và có thu nhập
đều đặn.
• Cho vay trực tiếp từng lần:
Là hình thức cho vay đối với khách hàng không có nhu cầu vay vốn
thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Chỉ khi
có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay Ngân hàng, vốn
vay của Ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kỳ
sản xuất kinh doanh. Nghiệp vụ cho vay trực tiếp từng lần tương đối đơn
giản, ngân hàng có thể kiểm soát từng món vay tách biệt. Hình thứuc cho
vay này thường phải có tài sản đảm bảo và giá trị món vay được xác định
dựa vào giá trị tài sản đảm bảo.

Người vay cam kết các khoản vay sẽ được trả cho người bán và mọi
khoản thu bán hàng đều dùng để trả vào tài khoản tiền vay trước khi được
trích trả lại tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng.
Khi vay, khách hàng chỉ cần gửi đến ngân hàng các chứng từ hoá
đơn nhập hàng và số tiền vay cần vay. Ngân hàng cho vay và trả tiền cho
người bán. Theo hình thức này, giá trị hàng hoá mua vào (có hoá đơn, hợp
pháp, hợp lệ, đúng đối tượng) đều là đối tượng được ngân hàng cho vay,
thu nhập bán hàng đều là nguồn để chi trả cho ngân hàng. Ngân hàng sẽ
cho vay theo tỷ lệ nhất định tuỳ theo đối tượng và chất lượng quan hệ nợ
nần của người vay. Các khoản phải thu và cả hàng hoá trong kho trở thành
vật đảm bảo cho khoản cho vay. Cho vay luân chuyển thường áp dụng đối
với các doanh nghiệp thương nghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kì
tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng.
6
§Æng Ph¬ng Mai Líp: TCDN 46B
6
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trêng §H Kinh tÕ quèc d©n
Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho các khách hàng. Thủ tục vay
chỉ cần thực hiện một lần cho nhiều lần vay. Khách hàng được đáp ứng nhu
cầu vốn kịp thời, vì vậy việc thanh toán cho người cung cấp sẽ nhanh gọn.
Dựa vào phương thức hoàn trả nợ vay:
• Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một
lần khi đáo hạn
• Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp
• Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà tuỳ
khả năng tài chính của mình người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào
Dựa vào đối tượng vay:
• Cho vay doanh nghiệp: Khách hàng vay là những doanh nghiệp có
nhu cầu về vốn để tích luỹ tư bản phục vụ cho hoạt động mở rộng sản xuất
kinh doanh của mình. Cho vay doanh nghiệp có tác dụng đảm bảo cho hoạt

đầy đủ vốn và lãi. Khi thực hiện một hoạt động cho vay cụ thể, ngân hàng
không dự kiến là khoản cho vay đó sẽ bị tổn thất. Tuy nhiên những khoản
cho vay đó luôn hàm chứa rủi ro do vấn đề thông tin không cân xứng xảy
ra trước và sau khi khoản vay được thực hiện. Thứ nhất, loại rủi ro về lựa
chọn đối nghịch. Ngân hàng có thể cho khách hàng không có khả năng trả
nợ vay nhưng món vay lớn và từ chối các khách hàng tiềm năng do họ chưa
chứng minh đủ các thông tin cần thiết liên quan đến phương án sử dụng
vay hay khả năng trả nợ ngân hàng. Thứ hai là rủi ro đạo đức xảy ra khi
khách hàng đã vay được vốn sau đó dùng khoản tiền vay để thực hiện sai
mục đích, gây thất thoát vốn của ngân hàng đồng thời khiến khách hàng
không trả được nợ. Ngoài ra, do các thay đổi bất thường trên thị trường
vượt quá khả năng phán đoán của ngân hàng như thay đổi lãi suất và tỷ giá,
khủng hoảng nợ dây chuyền, những thay đổi trong quyết định của Chính
phủ cũng có thể tạo ra rủi ro trong kinh doanh của người người đi vay lẫn
ngân hàng khiến hoạt động cho vay của ngân hàng sẽ gặp rủi ro lớn.
Các nguyên nhân trên khiến ngân hàng đòi hỏi các khách hàng phải
có tài sản đảm bảo đối với các khoản vay hoặc các doanh nghiệp có uy tín
và mối quan hệ thân thiết với ngân hàng.
1.2.3.2. Các nguyên tắc cho vay
8
§Æng Ph¬ng Mai Líp: TCDN 46B
8
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trêng §H Kinh tÕ quèc d©n
Việc vay vốn ngân hàng là nhu cầu tự nguyện của khách hàng và là
cơ hội để ngân hàng cấp tín dụng và thu lợi nhuận từ hoạt động của mình.
Tuy nhiên, hoạt động cho vay liên quan đến việc sử dụng vốn huy động của
khách hàng nên phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định. Nói chung,
doanh nghiệp vay vốn ngân hàng phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
• Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn (gốc) và lãi với thời gian xác
định:

tế thông qua các hình thức tài trợ khác như đầu tư, góp vốn kinh doanh.
Nếu phân chia theo hình thức huy động, nguồn vốn của ngân hàng được
chia thành tiền gửi, tiền vay và nguồn khác.
 Tiền gửi:
Chiếm khoảng 60% tổng nguồn vốn và là mục tiêu tăng trưởng hàng
năm của các ngân hàng. Do đặc tính vô danh của tiền nên ngân hàng có thể
toàn quyền sử dụng số tiền gửi của khách hàng trong thời gian khách hàng
chưa đến rút tiền để đem cho vay. Tuy nhiên, các khoản tiền gửi này phải
thanh toán với khách hàng ngay khi có yêu cầu. Đặc biệt đối với tiền gửi
ngắn hạn, thường nhạy cảm với các biến động của lãi suất, tỷ giá, chu kỳ
chi tiêu và nhiều nhân tố khác. Do đó các ngân hàng thường không biết
chính xác việc thay đổi quy mô và kết cấu của tiền gửi. Nếu ngân hàng sử
dụng một lượng lớn tiền gửi ngắn hạn để đem cho vay dài hạn sẽ rất nguy
hiểm. Nó sẽ tác động trực tiếp đến nhu cầu thanh khoản của ngân hàng.
Trong danh mục nguồn vốn của Ngân hàng thương mại, tiền gửi là
đối tượng phải trhực hiện quy chế dự trữ bắt buộc, do vậy chi phí thực tế
thường cao hơn phần lãi phải trả cho người gửi tiền.
 Tiền vay:
Các khoản vay thường là với thời hạn và quy mô xác định trước, do
đó tại thành nguồn ổn định cho ngân hàng. Tuy nhiên do phải dự phòng rủi
ro lớn hơn (cộng với mức thu nhập và các chi phí hoạt động hợp lý của
ngân hàng) nên lãi suất trả cho tiền đi vay thường lớn hơn lãi suất trả cho
tiền gửi với cùng kỳ hạn.
10
§Æng Ph¬ng Mai Líp: TCDN 46B
10
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Trêng §H Kinh tÕ quèc d©n
Các khoản vay Ngân hàng Trung ương và vay trên hệ thống liên
ngân hàng có lãi suất thấp nhưng thường là các khoản vay nóng để bảo đảm
khả năng thanh toán tức thời cho ngân hàng. Muốn mở rộng quy mô vay

• Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của
Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
1.2.5.2. Hồ sơ vay vốn
Khi có nhu cầu vay vốn, doanh nghiệp gửi cho ngân hàng giấy đề nghị
vay vốn và các tài liệu cần thiết chứng minh đủ điều kiện vay vốn. Doanh
nghiệp phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác và hợp pháp
của các tài liệu gửi cho ngân hàng. Ngân hàng hướng dẫn các loại tài liệu
cho doanh nghiệp cần gửi cho ngân hàng phù hợp với đặc điểm của từng
loại doanh nghiệp, loại cho vay và khoản vay. Thông thường, bộ hồ sơ vay
vốn gồm có:
• Giấy đề nghị vay vốn.
• Giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân của doanh nghiệp như giấy
phép thành lập, quyết định bổ nhiệm giám đốc, điều lệ hoạt động.
• Phương án sản xuất kinh doanh và kế hoạch trả nợ hoặc dự án đầu
tư.
• Báo cáo tài chính của thời kỳ gần nhất.
• Các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh nợ
vay.
• Các giấy tờ liên quan khác nếu cần thiết.
1.2.5.3. Thẩm định và quyết định cho vay
Để có căn cứ ra quyết định cho vay hay không, các NHTM đều xây
dựng quy trình xét duyệt cho vay theo nguyên tắc bảo đảm tính độc lập và
phân định rõ ràng trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm giữa khâu thẩm định và
cho vay. Khi thẩm định, ngân hàng sẽ xem xét, đánh giá tính khả thi, hiệu
quả của dự án đầu tư, phương thức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự
án đầu tư, phương án phục vụ đời sống và khả năng hoàn trả nợ vay của
doanh nghiệp để ra quyết định cho vay. Ngân hàng quy định cụ thể và niêm
yết công khai thời hạn tối đa phải thông báo quyết định cho vay hoặc
12
§Æng Ph¬ng Mai Líp: TCDN 46B


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status