Giám sát sự lưu hành của virus cúm type A/H5N1 - Pdf 74

Phần I
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăn nuôi là ngành không thể thiếu được trong nền nông nghiệp của
nước ta. Trong nhiều năm qua, ngành chăn nuôi đã phát triển rất đa dạng với
nhiều hình thức chăn nuôi và loài chăn nuôi khác nhau góp phần tăng thu nhập
cho bà con nông dân. Một trong số đó không thể không nhắc tới chăn nuôi gia
cầm. Hằng năm ngành chăn nuôi gia cầm của nước ta đã cung cấp khối lượng
thực phẩm đứng thứ hai sau chăn nuôi lợn, chiếm 17% tổng thịt hơi các loại.
Theo số liệu thống kê năm 2008 nước ta có tới 247,3 triệu con gia cầm so với
năm 2007 tăng 21,3 triệu con, với năm 2006 tăng 32,7 triệu con.(Tổng cục
thống kê. 24/4/2010).
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn
nuôi gia cầm nói riêng đã gặp không ít khó khăn. Nhiều dịch bệnh đã xảy ra
buộc phải tiêu hủy toàn đàn gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi và nền kinh
tế nước nhà. Nhiều dịch bệnh không chỉ xảy ra trên vật nuôi mà còn lây sang
con người gây tử vong. Một trong số đó là bệnh Cúm gia cầm.
Khi mới xuất hiện ở Việt Nam vào năm 2003, bệnh đã thể hiện là một căn
bệnh có tính lây lan nhanh và gây hậu quả nghiêm trọng. Thời gian đầu của
dịch bệnh từ ngày 27/12/2003 đến 30/04/2004, chỉ trong vòng hơn 4 tháng dịch
đã làm cho 2574 xã/phường thuộc 381 huyện/thị trấn của 57 tỉnh/thành phố mắc
bệnh. Tổng số gia cầm bị chết do bệnh và tiêu hủy lên tới 43,9 triệu con. Trong
thời gian gần đây, mặc dầu chúng ta đã có nhiều biện pháp phòng chống dịch
nhưng bệnh vẫn đang xảy ra trên phạm vi rộng và ngày càng nguy hiểm hơn,
đặc biệt là số lượng người mắc và tử vong ngày càng tăng. Năm 2003 ở Việt
1
Nam chỉ có 3 người nhiễm và cả 3 người đều tử vong, trên thế giới có 4 người
nhiễm và cả 4 người đều tử vong. Nhưng đến năm 2009, ở Việt Nam có tới 111
người nhiễm trong đó có 56 người tử vong, trên thế giới có 423 người nhiễm
trong đó có 258 người tử vong. Với đặc điểm của căn bệnh là có nhiều subtype
khác nhau và khả năng tổ hợp biến chủng đã làm cho căn bệnh ngày càng trở

2.2.1. Tình hình thế giới
Bệnh đã được mô tả đầu tiên ở Italya vào năm 1878 và nó được nhìn nhận
là một bệnh quan trọng và nguy hiểm. Năm 1955 virus gây bệnh mới được xác
định thuộc type A thông qua kháng nguyên bề mặt H7N1

và H7N7 gây chết
nhiều gà, gà tây và các loại chim khác.
Vào năm 1971 bệnh đã được mô tả kỹ qua đợt dịch cúm khá lớn trên gà tây
ở Mỹ. Các năm tiếp theo bệnh được phát hiện ở Nam Mỹ, Bắc Mỹ, Nam Phi.
Đặc biệt năm 1983 – 1984 ở Mỹ, dịch cúm gia cầm do chủng H5N2 ở bang
Pensylvania, Virginia, Newtersey làm chết và tiêu hủy hơn 19 triệu con gà.
Cũng trong thời gian này tại Irelan người ta phải tiêu hủy 270000 con vịt, tuy
3
không có triệu chứng lâm sàng nhưng đã phân lập được virus H5N8 và bệnh đã
được loại trừ một cách nhanh chóng.
Đến năm 2004, bệnh Cúm gia cầm đã xảy với quy mô lớn và với tốc độ
bùng phát nhanh ở các nước châu Á với tổng số 11 quốc gia. Dịch xuất hiện đầu
tiên ở Hàn Quốc từ đầu tháng 12/2003, sau đó dịch xảy ra nhiều nước khác với
diễn biến khá phức tạp. Đến cuối tháng 2/2004 đã có 10 nước công bố dịch là
Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, Trung Quốc,
Hồng Kông, Đài Loan và Pakistan. Chủng virus độc lực cao đã được phân lập
và định type là H5N1 đây là type chủ yếu, bên cạnh đó còn có H5N2 ở Đài
Loan và H7N3, H9N2 ở Pakistan. Ngoài ra, tại một số nước khác đã phân lập
được một số chủng khác như H6 ở Nam Phi, chủng H10N7 ở Ai Cập, H7N3 ở
Canada, H7N2 ở Hoa Kì. Trong đợt dịch này khoảng 120 triệu gia cầm gồm:
gà, gà tây, gà sao, gà lôi, vịt, ngan, ngỗng, chim cút, bồ câu và một số chim
hoang dã đã bị nhiễm bệnh và nằm trong vùng dịch phải tiêu hủy. Cùng với
diễn biến bệnh trên gia cầm, hàng trăm người cũng đã bị lây nhiễm, trong đó có
trên 20 người bị chết (Hội nghị cúm gia cấm tại thành phố Hồ Chí Minh).
Dịch cúm gia cầm ngày càng lan rộng. Tại Thái Lan, đợt dịch thứ nhất

14,76 triệu con chim cút và các loại chim khác bị chết và tiêu hủy (Nguyễn Tuấn
Anh, 2006).
Đến đầu tháng 2/2004, bệnh Cúm gia cầm đã lan ra hầu như khắp cả nước
với diễn biến phức tạp. Trung bình 1 ngày có khoảng 13 – 230 xã, 15 – 20
huyện phát sinh ổ dịch mới trong cả nước. Số gia cầm phải tiêu hủy lên tới 2 – 3
triệu con/ngày, ngày cao điểm lên tới 4 triệu con. Số lượng các ổ dịch cao nhất
vào ngày 6/2/2004. Sau ngày 29/2/2004 không có thông báo về các ổ dịch mới,
không còn gia cầm bị tiêu hủy và ngày 30/3/2004 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn đã công bố hết dịch cúm gia cầm trên toàn quốc.
Như vây, trong đợt dịch đầu tiên này có 57/61 tỉnh/thành trong cả nước có
dịch. Có 4 tỉnh không có dịch là Tuyên Quang, Phú Yên, Khánh Hòa và Bình
Thuận. Hầu hết ở các tỉnh có dịch đều có trên 10% số xã có dịch. Theo thống kê
cho đến đợt dịch cuối, đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là
những khu vực có tỷ lệ gia cầm mắc bệnh cao nhất.
Đ ợt dịch thứ 2: từ tháng 4 đến tháng 11 năm 2004
Các ổ dịch Cúm gia cầm thể độc lực cao đã tái xuất hiện vào giữa tháng
4/2004 ở một số tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long.
Trong đợt dịch tái lại này, bệnh xuất hiện chủ yếu ở các hộ chăn nuôi nhỏ
lẻ và hầu như không có trại chăn nuôi quy mô lớn nào bị nhiễm bệnh. Như vậy
ta thấy dịch có khuynh hướng xuất hiện ở những vùng chăn nuôi nhiều thủy cầm
và dịch đã xuất hiện ở 46 phường/xã tại 32 quận/huyện thuộc 17 tỉnh/thành.
Thời gian cao điểm nhất là tháng 7 sau đó giảm dần, đến tháng 11 cả nước chỉ
có 1 điểm phát dịch. Tổng số gia cầm bị tiêu hủy trong đợt này là 84000 con,
trong đó có gần 56000 gà, hơn 8000 vịt và gần 20000 chim cút (Nguyễn Lan
Anh, ‘Hội nghị quốc tế lần thứ hai về cúm gia cầm ở Châu Á’.12/4/2005.)
6
Đợt dịch thứ 3: từ tháng 12/2004 đến tháng 5/2005
Trong đợt này bệnh Cúm gia cầm thể độc lực cao đã xuất hiện ở 670 xã
tại 182 huyện thuộc 36 tỉnh/thành phố trong đó có 15 tỉnh phía Bắc và 21 tỉnh
phía Nam. Thời điểm xuất hiện nhiều ổ dịch nhất là vào tháng 1/2005 với 143 ổ

dịch đã xảy ra trên 80 phường/xã thuộc 57 huyện/thị trấn của 27 tỉnh. Tổng số
gia cầm mắc bệnh là 13007 con và tổng số gia cầm tiêu hủy là 106058 con
(Phòng dịch tễ,’ Báo cáo tổng kết công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia
cầm năm 2009 và phương hướng năm 2010’, Cục thú y, trang 1 – 4).
Dịch bệnh năm 2009
Tính từ đầu năm 2009 đến ngày 22/12/2009 cả nước đã có 129 ổ dịch tại
71 xã/phường của 35 huyện/thị xã thuộc 17 tỉnh/thành phố phát dịch cúm gia
cầm là: Bạc Liêu, Bắc Ninh, Cà Mau, Điện Biên, Đồng Tháp, Hậu Giang,
Khánh Hòa, Nghệ An và một số tỉnh khác. Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và
tiêu huỷ là 105.601 con, trong đó gà 23733 con (chiếm 22,51 %), vịt 79138 con
(chiếm 74,94 %) và ngan 2690 con (chiếm 2,55 %). Trong năm 2009 dịch bệnh
đã diễn ra trên 72 xã/phường thuộc 18 huyện/thị trấn của 18 tỉnh. Tổng số gia
cầm mắc bệnh 68463 con, tổng số gia cầm chết và tiêu hủy là 105601 con
((Phòng dịch tễ,’ Báo cáo tổng kết công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia
cầm năm 2009 và phương hướng năm 2010’, Cục thú y, trang 1 – 4).
Qua những số liệu trên ta thấy năm 2009 dịch bệnh đã giảm về phạm vi
(số phường, xã) tuy nhiên số lượng gia cầm chết và tiêu hủy năm 2009 tương
đương năm 2008 và bằng 1/3 so với năm 2007. Tình hình dịch cúm gia cầm
trong 3 năm 2007, 2008, 2009 được thể hiện ở bảng 2.2.
8
Bảng 2.2. Tình hình dịch cúm gia cầm trong 3 năm (2007 – 2009)
Giai đoạn Số tỉnh
Số huyện
có dịch
Số
xã/phường
có dịch
Số gia cầm
mắc bệnh
(con)

Hình 2.1. Cấu trúc bên ngoài của virus cúm gia cầm
Capsid bên ngoài nhân của virus được cấu tạo từ Protein, cấu trúc đối xứng
xoắn, độ dài 130 – 150 nm, đường kính 9 – 15 nm tạo thành giới hạn vòm của
mỗi phân đoạn và liên kết với nhau một cách riêng biệt.
Cùng với virus cúm A thuộc họ Orthromyxoviridae còn có 3 nhóm khác là:
Virus cúm type B chỉ gây bệnh cho người
Virus cúm type C chỉ gây bệnh cho người và lợn
Virus nhóm Thogovirus
10
2.3.2. Nét đặc trưng về cấu trúc hệ gen
Hệ gen của virus cúm chứa duy nhất axit ribonucleic (RNA) một sợi. Sợi
RNA có độ dài 10.000 – 15.000 nucleotide tùy loại virus, chúng không được nối
với nhau tạo thành một sợi RNA hoàn chỉnh mà được chia thành 7 – 8 phân
đọan, mỗi một phân đoạn chịu trách nhiệm mã hóa cho các Protein khác nhau.
Các phân đoạn 1, 2 và 3 là những phân đoạn mã hóa tổng hợp các enzyme
trong phức hợp polymerase (RNA transcriptase) của virus, có độ dài ổn định và
có tính bảo tồn cao, bao gồm:
- Phân đoạn 1 (gen PB2) có kích thước 2431 bp, mã hóa tổng hợp protein
enzyme PB2, là tiểu đơn vị thành phần trong phức hợp enzyme polymerase của
virus, chịu trách nhiệm khởi đầu phiên mã RNA virus. Protein PB2 có khối
lượng phân tử theo tính toán khoảng 84000

Dalton
- Phân đoạn 2 (gen PB1) cũng có kích thước 2431 bp, mã hóa tổng hợp
enzyme PB1 - tiểu đơn vị xúc tác của phức hợp enzym polymerase trong quá
trình tổng hợp RNA virus, chịu trách nhiệm gắn mũ RNA.
- Phân đoạn 3 (gen PA) có kích thước 2233 bp, là phân đoạn gen bảo tồn
cao, mã hóa tổng hợp protein enzyme PA có khối lượng phân tử theo tính toán
khoảng 83000


nhau. Đặc trưng biến đổi của gen NA trong virus cúm A là hiện tượng đột biến
trượt - xóa một đoạn gen là 57 nucleotide, rồi sau đó là 60 nucleotide, làm cho
độ dài vốn có trước đây của NA(N1) là 1410 bp còn 1350 bp.
Các phân đoạn gen M, NP và NS mã hóa tổng hợp các protein chức năng
khác nhau của virus, có độ dài tương đối ổn định giữa các chủng virus cúm A,
bao gồm:
- Phân đoạn 5 (gen NP) kích thước khoảng 1556 bp, mã hóa tổng hợp
nucleoprotein (NP) - thành phần của phức hệ phiên mã, chịu trách nhiệm vận
chuyển RNA giữa nhân và bào tương tế bào chủ.
- Phân đoạn 7 (gen M) có kích thước khoảng 1027 bp, mã hóa cho
protein đệm (matrix protein - M) của virus (gồm hai tiểu phần là M1 và M2
12
được tạo ra bởi những khung đọc mở khác nhau của cùng một phân đoạn
RNA), cùng với HA và NA có khoảng 3000 phân tử MP trên bề mặt capsid của
virus cúm A, có mối quan hệ tương tác bề mặt với hemagglutinin. Protein M1 là
một protein nền, là thành phần chính của virus có chức năng bao bọc RNA tạo
nên phức hợp RNP và tham gia vào quá trình “nảy chồi” của virus. Protein M2
là chuỗi polypeptide bé, có khối lượng phân tử theo tính toán là 11000

Dalton,
là protein chuyển màng - kênh ion (ion channel) cần thiết cho khả năng lây
nhiễm của virus, chịu trách nhiệm “cởi áo” virus trình diện hệ gen ở bào tương
tế bào chủ trong quá trình xâm nhiễm trên vật chủ.
- Phân đoạn 8 (gen NS), là gen mã hóa protein không cấu trúc, có độ dài
ổn định nhất trong hệ gen của virus cúm A, kích thước khoảng 890 bp, mã hóa
tổng hợp hai protein là NS1 và NS2 (còn gọi là NEP, nuclear export protein), có
vai trò bảo vệ hệ gen của virus nếu thiếu chúng virus sinh ra sẽ bị thiểu năng.
NS1 có khối lượng phân tử theo tính toán là 27000

Dalton chịu trách nhiệm vận

sialic acid tận cùng khỏi phân tử carbonhydrate của tế bào và virus, từ đó ngăn
cản quá trình kết hợp của virus và cho phép giải phóng các hạt virus ra khỏi tế
bào bị nhiễm.
Nguy hiểm nhất về kháng nguyên virus cúm type A là chúng có khả năng
tổ hợp biến chủng dẫn đến sự biến đổi liên tục về tính kháng nguyên. Chúng có
hai khả năng đột biến:
- Đột biến điểm (còn gọi là đột biến ngẫu nhiên hoặc hiện tượng trôi trượt,
lệch lạc về kháng nguyên – antigenic drift). Đây là kiểu đột biến xảy ra thường
xuyên, đặc biệt là đối với kháng nguyên H và kháng nguyên N tạo ra những thay
đổi nhỏ về trình tự Nucleotide của gen mã hóa cho kháng nguyên H và kháng
nguyên N. Nếu quá trình dập tắt dịch không triệt để, virus vẫn còn tồn tại thì hiện
tượng đột biến này sẽ xảy ra. Kết quả là sẽ tạo ra type Cúm hoàn toàn mới.
- Đột biến do tái tổ hợp di truyền (còn gọi là đột biến thay đổi bản chất
kháng nguyên – antigenic shift). Đột biến này là sự tái tổ hợp di truyền xảy ra
định kỳ trong đó có sự sắp xếp lại các Nucleotide do sự trộn lẫn 2 bộ gen của
virus khác nhau. Điều này đã tạo nên những sai khác cơ bản về bộ gen của virus
đời con so với đời bố mẹ.
14
Chính khả năng tổ hợp biến chủng này đã gây ra nhiều tai họa không chỉ
trên gia cầm mà còn trên con người. Năm 1918 ở Tây Ban Nha do biến chủng
H1N1 làm chết 20 – 40 triệu người, năm 1957 ở châu Á do chủng H2N2, năm
1968 dịch cúm ở Hồng Kông do H3N2, dịch cúm năm 1977 ở Nga do H1N1.
Hầu như tất cả các biến chủng virus cúm type A gây ra đều là sản phẩm tái tổ
hợp của subtype có nguồn gốc từ động vật trước hết là chim và gia cầm. Do
trên người có một số chủng virus gây bệnh cúm thông thường, nó sẽ là một
nhân tố trong quá trình trao đổi gen giữa virus cúm thông thường trên người và
virus cúm trên gia cầm tạo nên tổ hợp biến chủng mới. Và tổ hợp biến chủng
này sẽ thích ứng trên người nên chúng rất nguy hiểm cho nhân loại.
2.3.4. Độc lực của virus
Để đánh giá độc lực của virus cúm người ta sử dụng phương pháp gây

phóng hệ gen của virus vào trong bào tương của tế bào nhiễm (Hình 2.3).
Hình 2.3. Quá trình xâm nhập và nhân lên của virus trong tế bào vật chủ
16
- Quá trình nhân lên của RNA virus cúm A chỉ xảy ra trong nhân của tế
bào, đây là đặc điểm khác biệt so với các virus khác (quá trình này xảy ra trong
nguyên sinh chất), và cuối cùng là giải phóng các hạt virus ra khỏi tế bào nhiễm
nhờ vai trò của enzyme neuraminidase. Thời gian một chu trình xâm nhiễm và
giải phóng các hạt virus mới của virus cúm chỉ khoảng vài giờ (trung bình 6h).
Sự tạo thành các hạt virus mới không phá tan tế bào nhiễm, nhưng các tế bào
này bị rối loạn hệ thống tổng hợp các đại phân tử, và rơi vào quá trình chết theo
chương trình (apoptosis) làm tổn thương mô của cơ thể vật chủ.
- Sau khi được giải phóng vào trong bào tương tế bào nhiễm, hệ gen của virus
sử dụng bộ máy sinh học của tế bào tổng hợp các protein của virus và các RNA vận
chuyển phụ thuộc RNA (RNA-dependent RNA transcription). Phức hợp protein –
RNA của virus được vận chuyển vào trong nhân tế bào.
- Trong nhân tế bào các RNA hệ gen của virus tổng hợp nên các sợi
dương từ khuôn là sợi âm của hệ gen virus, từ các sợi dương này chúng tổng
hợp nên RNA hệ gen của virus mới nhờ RNA-polymerase. Các sợi này không
được Adenine hóa (gắn thêm các Adenine - gắn mũ) ở đầu 5’- và 3’-, chúng kết
hợp với nucleoprotein (NP) tạo thành phức hợp ribonucleoprotein (RNP) hoàn
chỉnh và được vận chuyển ra bào tương tế bào. Đồng thời, các RNA thông tin
của virus cũng sao chép nhờ hệ thống enzyme ở từng phân đoạn gen của virus,
và được enzyme PB2 gắn thêm 10 - 12 nucleotide Adenin ở đầu 5’-, sau đó
được vận chuyển ra bào tương và dịch mã tại lưới nội bào có hạt để tổng hợp
nên các protein của virus.
- Các phân tử NA và HA của virus sau khi tổng hợp được vận chuyển
gắn lên mặt ngoài của màng tế bào nhiễm nhờ bộ máy Golgi, gọi là hiện tượng
“nảy chồi” của virus. NP sau khi tổng hợp được vận chuyển trở lại nhân tế bào
để kết hợp với RNA thành RNP của virus. Sau cùng các RNP của virus được
hợp nhất với vùng “nảy chồi”, tạo thành các “chồi” virus gắn chặt vào màng tế

cả con người.
Mỗi một loại kí chủ có vai trò khác nhau trong việc lưu trữ, phân tán và
lây bệnh. Có 3 loại kí chủ:
18
- Kí chủ lưu trữ hay mang mầm bệnh: đây là kí chủ thường nhiễm virus
nhưng không phát bệnh hoặc phát bệnh rất nhẹ hoặc con non mắc bệnh còn con
trưởng thành có thể tạo miễn dịch. Trong trường hợp này, các loại thủy cầm
được coi là kí chủ mắc bệnh tuy nhiên còn phụ thuộc vào độc lực của virus.
- Kí chủ hứng chịu: đây là loại kí chủ mẫn cảm với virus cúm và đào thải
virus ra môi trường ngoài. Loại kí chủ này khi bị nhiễm thường phát bệnh rất
nặng và các loại gà (gà, gà tây, gà lôi, đà điểu...) thường được coi là kí chủ
hứng chịu.
- Ký chủ lệch: là loại động vật hiếm khi bị nhiễm virus. Khi bị nhiễm
bệnh nặng thì không hoặc bài thải rất ít virus ra môi trường bên ngoài.
2.4.2. Sự truyền lây bệnh
Khi gia cầm bị nhiễm virus cúm, virus được nhân lên trong đường hô hấp
và đường tiêu hóa. Sự truyền lây bệnh được thực hiện theo hai phương thức
trực tiếp và gián tiếp.
- Lây trực tiếp do vật mẫn cảm tiếp xúc với con vật mắc bệnh thông qua
các hạt khí dung được bài tiết từ đường hô hấp hoặc qua phân, thức ăn, nước
uống bị nhiễm.
- Lây gián tiếp qua các hạt khí dung trong không khí với khoảng cách gần
hoặc những công cụ chứa virus do gia cầm mắc bệnh bài thải qua phân hoặc lây
qua chim thú, thức ăn, nước uống, lồng nhốt, quần áo, xe vận chuyển. Có thể
nói đây là phương thức lây truyền chủ yếu.
Như vậy virus cúm dễ lây truyền tới những vùng khác do con người,
phương tiện vận chuyển, dụng cụ chăn nuôi... Đối với các virus gây bệnh cúm
truyền nhiễm cao ở gia cầm thì sự lây truyền chủ yếu qua phân, đường miệng.
19
2.5. TRIỆU CHỨNG, BỆNH TÍCH

 Da chân xung huyết, đỏ sẫm.
 Dạ dày cơ xuất huyết, đôi khi xuất huyết dạ dày tuyến như ở Newcastle
 Niêm mạc khí quản, niêm mạc đường tiêu hóa viêm cata và viêm tơ huyết.
 Khí quản phù, chứa nhiều dịch nhầy. Dịch nhầy có thể đông đặc như
phomat.
 Các cơ quan nội tạng như màng bao tim, màng gan, màng ruột... viêm tơ
huyết.
 Ruột viêm cata và xuất huyết. Hạch ruột sưng.
 Lách, gan, thận, phổi sưng to, hoại tử màu vàng, màu xám.
 Mỡ vành tim xuất huyết. Với gà trống xuất huyết bên trong dịch hoàn.
 Gà mái đẻ viêm ống dẫn trứng, vỡ trứng non.
 Tuyến tụy xuất huyết và hoại tử. Tuyến tụy chuyển sang màu vàng có vết sẫm.
2.6. CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN
Việc chẩn đoán cúm gia cầm do nhiễm virus cúm type A chủ yếu phải
phân lập và định danh virus kết hợp với chẩn đoán dựa trên triệu chứng lâm
sàng, bệnh tích đại thể, dịch tễ học và một số phản ứng huyết thanh.
2.6.1.Dựa vào dịch tễ.
• Bệnh cúm gia cầm có tính lây truyền nhanh và mạnh.
• Loài mắc bệnh thường là gia cầm và chim. Chim hoang dã là nguồn
truyền lây bệnh.
• Một số động vật có vú cũng có thể mắc bệnh: người, lợn, ngựa...
21
2.6.2. Dựa vào triệu chứng, bệnh tích
2.6.2.1. Dựa vào triệu chứng
• Gia cầm bị bệnh thường bị xù lông, ũ rũ, bỏ ăn, giảm đẻ.
• Đầu, mặt sưng, phù quanh mắt. Mào yếm sưng, xuất huyết.
• Mắt bị viêm kết mạc và có thể bị xuất huyết.
• Chân giữa vùng bàn và khuỷu bị xuất huyết.
• Có các triệu chứng ở đường hô hấp.
• Nếu virus có độc lực cao thì gà có thể chết nhanh, gà thường chết

bề mặt của virus khá phức tạp. Do vậy, để phòng bệnh và ngăn chặn bệnh xảy
ra thì các biện pháp vệ sinh thú y tổng hợp như: vệ sinh chuồng trại, khu vực
chăn nuôi, thiết bị cho ăn uống....phải được áp dụng định kỳ ở những vùng chưa
có dịch. Đối với những vùng nguy cơ có dịch, vùng có dịch thì phải được áp
dụng một cách thường xuyên và nghiêm ngặt.
2.7.1.2. Phòng bệnh đối với những địa phương chưa có dịch xảy ra hoặc nguy
cơ có dịch.
Trong thời gian xảy ra dịch ở các địa phương khác thì các trại chăn nuôi
gia cầm giống áp dụng các biện pháp an toàn sinh học nhằm ngăn cản mầm
bệnh đưa vào. Dụng cụ chăn nuôi, xe chuyên chở, dụng cụ bảo hộ lao động và
con người ra vào trại phải được vệ sinh, khử trùng. Thức ăn, nước uống, chất
độn chuồng phải đảm bảo không chứa mầm bệnh.
Trên các trục đường giao thông chính thành lập các chốt kiểm dịch tạm
thời nhằm ngăn chặn việc dịch chuyển gia cầm, sản phẩm gia cầm từ các địa
23
phương có dịch vào. Các phương tiện giao thông ra vào phải được tiêu độc.
Tăng cường kiểm tra, giám sát phát hiện bệnh và tiêu hủy tất cả gia cầm,
sản phẩm gia cầm có nguồn gốc từ các địa phương đang có dịch. Đồng thời tiến
hành tổ chức dập dịch nhanh chóng khi còn ở diện hẹp.
2.7.1.3. Khống chế dịch ở các địa phương đang có dịch xảy ra.
Là bệnh có tính lây lan nhanh, do vậy chúng ta cần tiến hành chẩn đoán
phát hiện bệnh một cách nhanh chóng và chính xác dựa trên triệu chứng, bệnh
tích điển hình. Đồng thời tiến hành lấy mẫu xét nghiệm.
Cúm gia cầm là một bệnh truyền nhiễm, do vậy sự bùng phát của bệnh
vẫn tuân theo những quy luật chung của quá trình sinh dịch. Do vậy khống chế
bệnh chính là tác động vào các khâu của quá trình sinh dịch nhằm phá vỡ vòng
truyền lây tác nhân gây bệnh, đó là 3 yếu tố: nguồn bệnh, động vật cảm thụ, yếu
tố truyền lây bệnh truyền nhiễm nói chung. Theo khuyến cáo của OIE thì đó là
các hoạt động:
• Loại trừ tác nhân gây bệnh: tiêu hủy gia cầm, sản phẩm gia cầm

gây bệnh trên thực địa.
Vacxin vô hoạt dị chủng (heterologous vaccine) là vacxin sử dụng các
chủng virus có kháng nguyên HA giống chủng virus trên thực địa, nhưng có
kháng nguyên NA dị chủng.
 Vacxin thế hệ mới hay vacxin công nghệ gen: là loại vacxin được sản
xuất dựa trên sử dụng kỹ thuật gen loại bỏ các vùng “gen độc” đang
được nghiên cứu và đưa vào sử dụng phổ biến, bao gồm:
• Vacxin tái tổ hợp có vector đậu gia cầm dẫn truyền: sử dụng virus
25

Trích đoạn PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phương pháp tiến hành phản ứng Realtime RT – PCR TỶ LỆ NHIỄM CÁC GEN CÚM GIA CẦM TYPE A/H5N1 CỦA TỈNH SO SÁNH SỐ MẪU DƯƠNG TÍNH VỚI CÁC GEN M, H5, N ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ LỆ TIÊM PHÒNG VACXIN TỚI SỰ LƯU
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status