THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TIÊU THỤ SẢN PHẨM Ở CÔNG TY PHÂN LÂN NUNG CHẢY VĂN ĐIỂN - Pdf 75

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TIÊU THỤ SẢN PHẨM Ở CÔNG TY
PHÂN LÂN NUNG CHẢY VĂN ĐIỂN
2.1. Khái quát tình hình sản xuất kinh doanh của công ty Phân lân nung chảy
Văn Điển
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty
 Tên giao dịch: Van Dien fused magnesium phosphate Company
 Đơn vị quản lí: Trọng tài kinh tế TP Hà Nội
 Giám đốc công ty: ông Bùi Quang Lanh
 Trụ sở: Thị trấn Văn Điển- Huyện Thanh Trì- TP Hà Nội
 Lĩch vực kinh doanh chủ yếu sản xuất: sản xuất và kinh doanh phân bón
 Vốn điều lệ: 18.000.000.000đ
 Mã số thuế: 0100103143
 Tel: (04)68844689. Fax:(04)6884277
 Email: [email protected]
 Website : www.vinachem.com.vn
Công ty Phân lân nung chảy Văn Điển ( trước đây là nhà máy phân lân Văn
Điển) là doanh nghiệp vừa và nhỏ được thành lập từ năm 1960 và đi vào sản xuất
từ năm 1963. Sản phẩm của công ty bây giờ đã có mặt khắp cả nước, phục vụ phát
triển cây trồng bền vững, cho những mùa bội thu. Phân lân nung chảy Văn Điển có
chất lượng tốt, chủng loại phong phú, sử dụng tốt cho hầu hết các loại cây trồng từ
lúa, ngô, khoai, sắn, rau đậu….đến các loại cây công ngiệp như cao su, bông, lúa,
chè…và các loại cây ăn quả, cây rừng. Phân lân Văn Điển có đặc điểm nổi bật là
thích hợp với nhiều vùng đất, từ đất chua phèn , lầy thụt đến đất đồi trọc… Sử
dụng phân lân nung chảy Văn Điển còn có tác dụng cải tạo đất. Với các đặc tính
nổi trội mà các loại phân lân khác khó có thể bì kịp, phân lân nung chảy Văn Điển
đã được tặng những giải thưởng xứng đáng: Bông lúa vàng Việt N am và 2 huy
chương vàng hội chợ nông nghiệp quốc tế. Hơn 10 năm nay, sản phẩm của công ty
đã có mặt ở thị trường nhiều nước như Nhật Bản,Australia, Malaysia… . Tập thể,
cán bộ công nhân của công ty có thể tự hào và tự tin rằng bằng sức lao động sáng
tạo không ngừng, họ có thể đứng vững và phát triển vững chắc, góp phần vào sự
nghiệp phát triển nền sản xuất nông nghiệp của nước nhà.

hàng nên nhiệm vụ của phòng là làm những thủ tục nhập khẩu, uỷ thác nhập khẩu
như xuất khẩu khi có yêu cầu. Cung cấp các thông tin chính xác khi kí kết các hợp
đồng thương mai với nước ngoài.
* Phòng tài vụ: Có nhiệm vụ tổ chức theo dõi hạch toán mọi hoạt động kinh tế
tài chính diễn ra trong công theo đũng chế độ nhà nước quy định. Huy động mọi
nguồn vốn và sử dụng vốn vào mục đích kinh doanh, thúc đẩy của công ty và thực
hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước cung cấp tài chính cho các phòng ban có
liên quan.
*Phòng kỹ thuật: có nhiệm vụ thu thập và tổng hợp, phân tích xử lý thông tin chính
xác và có hiệu quả theo yêu cầu của Giám đốc giúp Giám đốc trong việc xây dựng
đường lối chiến lược kinh doanh. Phòng có nhiệm vụ tham gia thực hiện các hợp
đồng những dự án về sản xuất
2.1.2.2. Bộ máy trực tiếp sản xuất kinh doanh
Bộ máy trực tiếp sản xuất và kinh doanh của công ty gồm các tổ:
o nguyên liệu: nhận nguyên vật liệu để tạo ra những mã hàng yều cầu
o lò cao
Máy sấyTạo hạtMáy trộn
Nguyên liệu
Làm nguội
o xử lý khí thải
o Thành phẩm
Công ty phân lân nung chảy Văn Điển là một doanh nghiệp sản xuất phân lân
nung chảy phục vụ nông nghiệp. Toàn bộ thiết bị dây chuyền công nghệ là lò đứng
hay còn goị là lò cao do Trung Quốc đầu tư, nguyên nhiên vật liệu là quặng Apatit
Lào Cai, quặng Sà Vân Thanh Hóa cỡ hạt 25-80mm. Nhiên liệu dùng để sản xuất
là than cok cục phải nhập khẩu.
Quy trình sản xuất sản phẩm của công ty là sản phẩm phức tạp kiểu liên tục,
sản phẩm được trải qua nhiều giai đoạn sản xuất kế tiếp nhau.Sau khi nguyên liệu
được tập kết cho phù hợp với công thức rồi được chuyển tới máy trộn thùng quay,
tại đây nguyên liệu được trộn đều sau đó được chuyển sang khu vực tạo hạt, từ

Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007
1. Hệ số nợ = Nợ phải trả/ tổng nguồn vốn 0,54 0,58
2. Hệ số VCSH = 1- hệ số nợ 0,46 0,42
Tình hình tài chính của công ty khá lành mạnh,mặc dù hệ số nợ lớn hơn hệ
số vốn chủ sở hữu nhưng không đáng kể, năm 2006 là 0.08 còn năm 2007 là 0.14,
do đó doanh nghiệp vẫn có khả năng trả những món nợ khi đến hạn. Mặt khác hệ
số nợ của d VNĐ. Doanh nghiệp năm 2007 có tăng so với năm 2006, hệ số nợ tăng
42,213,784,309 với tỷ lệ 29% tăng cả về ngắn hạn và dài hạn với tỷ lệ tương đương
nhau (ngắn hạn: 30%, dài hạn:28%), điều này chứng tỏ doanh nghiệp đã huy động
vốn bên ngoài để mở rộng hoạt động sản xuất, nhưng điều đó cũng có nghĩa là
doanh nghiệp đang bị gánh nặng tài chính khi sử dụng vốn vay bên ngoài đặc biệt
là vốn ngắn hạn, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn, rủi ro tài chính sẽ tăng lên nếu
doanh nghiệp không thanh toán đúng hạn các khoản nợ đến hạn
* Phân tích kết quả kinh doanh năm 2006 và 2007 (bảng 3)
Sản phẩm tiêu thụ tăng so với năm trước, doanh thu tiêu thụ tăng từ
354,417,393,147 VNĐ lên 439,267,682,283 VNĐ , tỷ lệ tăng 19% Trong khi đó,
chi phí quản lí doanh nghiệp giảm rất lớn giảm 76.19%, chi phí bán hàng giảm
3%. Đây là một ưu điểm của công ty trong việc giảm tiết kiệm được chi phí mà
hiệu quả kinh tế không giảm đi như vậy doanh nghiệp đã thành công trong công tác
quản lý trong quá trình bán hàng và đặc biệt là trong quá trình sản xuất, không xảy
ra hiện tượng hư hỏng máy móc thiết bi, bớt xén nguyên nhiên vật liệu và lượng
cán bộ quản lý phù hợp với tình hình sản xuất và kinh doanh của công ty. Lợi
nhuận trước thuế tăng 43%, doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả và có lãi.
* Phân tích khả năng thanh toán năm 2007 (bảng 4)
Bảng 4: CÁC HỆ SỐ PHẢN ÁNH KHẢ NĂNG THANH TOÁN NĂM 2006
Chỉ tiêu Đầu năm Cuối năm
1. Hệ số khả năng thanh toán tổng quát = tổng tài
sản/nợ phải trả
1,85 1,71
2. Hệ số khả năng thanh toán hiện thời = tài sản lưu

0.21 0.29
Tỷ suất lợi nhuận doanh thu năm 2007 tăng so với năm 2006, diều này là
do trong năm 2007 có nhiều khoản chi phí giảm như chi phí tài chính (giảm 8%),
chi phí bán hàng giảm 3% và chi phí quản lý doanh nghiệp giảm 76.19 % nhưng
giá vốn hàng bán lại tăng 21% làm cho tỷ suất lợi nhuận tăng ít, nhưng tốc độ tăng
của lợi nhuận tăng nhanh hơn tốc độ của doanh thu. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ
sở hữu tăng năm 2007 là 0.29 và năm 2006 là 0.21, tỷ suất sinh lời tăng tương đối,
tăng 0.04% điều này cho thấy doanh nghiệp đã sử dụng vốn vay rất hiệu quả, kinh
doanh có lãi đảm bảo khả năng thanh toán và nếu có tốc độ tăng trưởng như hiện
nay công ty sẽ tăng trưởng và phát triển nhanh chóng trong tương lai.
* Phân tích hiệu quả sử dụng vốn và tài sản (bảng 6)
.
Bảng 6: CÁC CHỈ SỐ VỀ HOẠT ĐỘNG
Chỉ tiêu
Năm
2006
Năm
2007
Số quay vòng tồn kho = giá vốn hàng bán/hàng tồn kho bình
quân
5.03 6.76
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho = 360/số vòng quay
hàng tồn kho
71.57 53.25
Vòng quay các khoản phải thu = doanh thu (thuần)/số dư
bình quân các khoản phải thu
6.9 7.86
Kì thu tiền trung bình = 360/vòng quay các khoản phải thu 52.17 45.8
Vòng quay vốn lưu động = doanh thu thuần/vốn lưu động
bình quân

phải cung cấp chất khoáng cho nó, mà chất khoáng chứa nhiều nhất ở trong phân
bón hóa hoc. Mặt khác Việt Nam được coi là nước sử dụng phân bón nhiều nhất
trong số các nước Đông Nam á, sau đó đến Thái Lan, Philipin…Nhu cầu về phân
bón rất lớn không chỉ trong nước mà còn ở các nước trong khu vực và trên thế giới,
vì vậy mà thị trường tiêu thụ rất lớn.
- Thứ hai, đội ngũ công nhân có tay nghề cao, có bề dầy kinh nghiệm nhiều
năm sản xuất, có trách nhiệm và nhiệt tình trong công việc. Đặc biệt họ rất gắn bó
với công ty nên tạo ra một khối đoàn kết, một bầu không khí thoải mái trong công
việc, thuận lợi cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
- Thứ ba, một yêu tố quan trọng là công ty có uy tín trong kinh doanh, sau
nhiều năm hoạt động công ty thiết lập được đội ngũ các bạn hàng đáng tin cậy, gắn
bó với công ty trong nhiều năm. Nhờ những cố gắng của mình nên công ty luôn
được các khách hàng tín nhiệm.
2.2.1.2. Khó khăn
- Thứ nhất, khó khăn trước hết là sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường. Các
đối thủ cạnh tranh của công ty là các công ty Phân đạm và hóa chất Hà Bắc. Phân
lân Ninh Bình…đặc biệt là của Trung Quốc, Thái Lan….với mẫu mã đẹp, giá lại rẻ
. Tuy nhiên, sản phẩm của công ty vẫn có thể đứng vững trên thị trường do chất
lượng sản phẩm tốt, mẫu mã đẹp và có nhiều nét riêng biệt đặc trưng của phân lân
nói riêng và Việt Nam nói chung.
- Thứ hai, về nhân lực: Công ty còn thiếu những cán bộ có trình độ và nghiệp
vụ chuyên nghiệp. Kinh nghiệm cạnh tranh trên thị trường chưa nhiều.
- Thứ ba, những biến động của giá cả thị trường nguyên vật liệu đầu vào như
giá than, chí vận chuyển tăng cao gây khó khăn cho công ty trong việc định giá bán
sao cho phù hợp với thu nhập của người tiêu dùng, đảm bảo khả năng cạnh trạnh
với các doanh nghiệp khác trong ngành và kinh doanh có lãi.
- Thư tư, trong kỹ thuật sản xuất còn nhiều vấn đề phải giải quyết để nâng cao
hơn nữa năng suất lao động, hạ giá thành.
2.2.2. Đặc điểm tiêu thụ sản phẩm của công ty phân lân nung chảy Văn Điển
Là một doanh nghiệp chuyên sản xuất và bán các sản phẩm phân bón phục

Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm thực chất là việc dự đoán trước số lượng sản
phẩm sẽ được sản xuất và tiêu thụ trong kì, đơn giá bán sản phẩm trong kì kế
hoạch và doanh thu tiêu thụ sản phẩm sẽ đạt trong kì kế hoạch để doanh nghiệp
chủ động trong việc tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
- Căn cứ lập kế hoạch: để đảm bảo cho kế hoạch được chính xác và có khả
năng thực hiện được thì việc lập kế hoạch của công ty căn cứ vào các đơn đặt hàng,
các hợp đồng đã kí kết trước thời điểm lập kế hoạch và nhu cầu thị trường. Kế
hoạch tiêu thụ từng quý được lập căn cứ và kế hoạch tiêu thụ năm và được điều
chỉnh cho phù hợp tình hình phát sinh trong từng quý.
Đơn giá kế hoạch được xây dựng trên dơn giá tiêu thụ sản phẩm của sản phẩm
năm trước, có điều chỉnh theo tình hình thị trường sản xuất của năm kế hoạch.
- Thời điểm lập kế hoạch: công ty tiến hành lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm cả
năm là vào tháng 11 năm báo cáo.
Trong năm 2007 công ty sản xuất nhiều sản phẩm khác nhau và sản phẩm
được chia thành 2 loại chính: các loại phân lân đơn (Phân lân nung chảy Văn Điển
và Phân lân Supe-Tecmo) và 8 loại chính phân tổng hợp đa yếu tố
. Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm và doanh thu bán hàng của công ty được lập
như sau (bảng 7). Trong phạm vi bài chuyên đề này em chỉ xin đề cập đến kế
hoạch tiêu thụ của những sản phẩm chính, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu
tiêu thụ của công ty.
- Sản phẩm chính: Phân lân, phân supetecmô, phân đa yếu tố
- Cột số lượng tiêu thụ năm 2007 là số lượng tiêu thụ năm 2007 được tập hợp
từ “sổ chi tiết tiêu thụ” năm 2006 của công ty.
- Cột số lượng tiêu thụ trong kì được lập căn cứ vào các hợp đồng kinh tế đã
kí kết và căn cứ vào nhu cầu thị trường năm kế hoạch.
- Cột số lượng sản xuất ra trong kì được lập dựa trên kế hoạch tiêu thụ trong
năm, dựa vào số dự toán về dư đầu kì và nhu cầu đột xuất của khách hàng.
- Cột số lượng tồn cuối kì đư bằng cách lấy cột tồn đầu kì cộng cột số lượng
sản xuất trong kì trừ đi tiếp cột tiêu thụ trong kì.
- Cột đơn giá kế hoạch là do công ty dự kiến căn cứ vào đơn giá săn phẩm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status