chăm sóc dẫn lưu kerh sau phẫu thuật sỏi ống mật chủ tại khoa ngoại tổng hợp bệnh viện đa khoa tỉnh phú thọ - Pdf 75

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

LƯƠNG BÌNH NGUYÊN

CHĂM SÓC DẪN LƯU KERH SAU PHẪU THUẬT
SỎI ỐNG MẬT CHỦ TẠI KHOA NGOẠI TỔNG HỢP BVĐK
TỈNH PHÚ THỌ- 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2019

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

NAM ĐỊNH - 2019


BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

LƯƠNG BÌNH NGUYÊN

CHĂM SÓC DẪN LƯU KERH SAU PHẪU THUẬT
SỎI ỐNG MẬT CHỦ TẠI KHOA NGOẠI TỔNG HỢP BVĐK
TỈNH PHÚ THỌ - 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2019
Chuyênngành : Ngoại người lớn

BÁO CAÓ CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : TS VŨ VĂN ĐẨU

NAM ĐỊNH - 2019

KẾT LUẬN ........................................................... Error! Bookmark not defined.7
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................


ii

LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và hoàn thành khóa luận, tơi đã nhận được sự
giúp đỡ tận tình của các thầy cơ giáo, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Đảng ủy, Ban Giám hiệu, phòng Đào
tạo sau đại học, cùng tồn thể các thầy cơ giáo trường Đại học điều dưỡng Nam
Định đã truyền đạt những kiến thức quý giá, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong
thời gian học tập tại trường.
Tơi xin tỏ lịng biết ơn sâu sắc tới TS VŨ VĂN ĐẨU đã trực tiếp giúp đỡ và
hướng dẫn tơi rất tận tình trong suốt thời gian tơi học tập và hồn thành chun đề
này.
Tơi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, các khoa, phòng của Bệnh viện đa
khoa tỉnh Phú đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian tôi học tập tại
bệnh viện.
Tôi xin được cảm ơn Sở Y tế tỉnh Phú Thọ, Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ,
bạn bè đồng nghiệp đã động viên, tạo điều kiện tốt nhất trong quãng thời gian tôi đi
học và giúp đỡ tơi thu thập thơng tin để hồn thành chun đề tốt nghiệp.
Các bạn trong lớp Chuyên khoa I - khóa 6 đã cùng kề vai sát cánh với tơi
hồn thành chuyên đề này.
Những người bệnh - gia đình người bệnh đã cảm thông và tạo điều kiện cho
tôi thăm khám - tiếp xúc, lắng nghe và thực hiện nghiêm túc những lời khuyên dành
cho họ.
Xin chân thành cảm ơn mọi người.
Nam Định, năm 2019
Học viên



5

ĐẶT VẤN ĐỀ
Sỏi mật là một bệnh bệnh lý về đường tiêu hóa thường hay gặp nhất với tỷ lệ mắc
dao động từ 0,1 – 61,5% trên toàn thế giới, số người bị sỏi mật chiếm 10,7% dân số, gặp
chủ yếu ở nữ giới, đặc biệt là phụ nữ tiền mãn kinh.
Ở châu Âu – Mỹ: sỏi ống mật chủ hình thành phần lớn là do sỏi túi mật di chuyển
xuống, thành phần chủ yếu là Cholesterol. Tính chất của sỏi: cứng, màu vàng nâu, mặt gồ
ghề. Tỷ lệ nữ nhiều hơn nam gấp 4 lần, thường xảy ra trên những người phụ nữ béo ít vận
động.
Ở Châu Á: sỏi đường mật phần lớn do giun chui lên đường mật gây nhiễm khuẩn
đường mật, sỏi mật ở châu Á chủ yếu là sỏi ở ống mật chủ và sỏi ở trong gan. Sỏi có màu
nâu đen dễ vỡ, tỷ lệ nam và nữ tương đương; gặp ở mọi lớp người, lứa tuổi hay gặp là
trung niên.
Ở Việt Nam, theo Giáo sư Tôn Thất Tùng: Sỏi túi mật chiếm 10,8% - 11,4%, sỏi
ống mật chủ và sỏi trong gan chiếm sấp xỉ 80%, ngược lại ở Châu Âu sỏi túi mật chiếm
63,8%. (7)
Sỏi ống mật chủ trường hợp không gây tắc, nhiễm trùng sẽ khơng có triệu chứng,
tuy nhiên khi bị tắc và gây nhiễm trùng thường rất nặng nề nếu khơng được điều trị kịp
thời dễ có những biến chứng có thể gây tử vong.
Hiện nay điều trị sỏi ống mật chủ có nhiều phương pháp khác nhau được áp dụng
như : dùng thuốc làm tan sỏi(với sỏi có thành phần cấu tạo là cholesteron),tán sỏi ngoài
cơ thể,lấy sỏi theo đường hầm xuyên qua da,phẫu thuật nội soi lấy sỏi mật..
Tuy nhiên phương pháp mở ống mật chủ lấy sỏi – đặt dẫn lưu Kehr là phẫu thuật
kinh điển vẫn đang giữ vai trò chủ yếu và chiếm tỷ lệ nhiều nhất ở Việt Nam nhằm mục
đích lấy hết sỏi đường mật, tạo lưu thông tốt cho mật ruột. Trong thời đại khoa học kỹ
thuật tiên tiến hiện nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của phẫu thuật nội soi, phẫu
thuật ít xâm hại đã được áp dụng nhiều trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Phương pháp


CƠ SƠ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
I. CƠ SƠ LÝ LUẬN
1. Giải phẫu gan và đường mật
1.1. Gan
Gan người trưởng thành thường nặng 1,4 - 1,6 kilơgam, mềm, có màu đỏ sẫm. Gan
là một cơ quan nội tạng lớn nhất và đồng thời là tuyến tiêu hóa lớn nhất trong cơ thể. Gan
nằm ngay dưới cơ hoành ở phần trên, bên phải của ổ bụng. Gan nằm về phía bên phải của
dạ dày và tạo nên giường túi mật.
Gan được cung cấp máu bởi hai mạch chính ở thùy phải: động mạch gan và tĩnh
mạch cửa (tĩnh mạch gánh). Động mạch gan thường bắt nguồn từ động mạch thân tạng.
Tĩnh mạch cửa dẫn lưu máu từ lách, tụy và tiểu tràng nhờ đó mà gan có thể tiếp cận được
nguồn dinh dưỡng cũng như các sản phẩm phụ của quá trình tiêu hóa thức ăn. Các tĩnh
mạch gan dẫn lưu máu từ gan và đổ trực tiếp vào tĩnh mạch chủ dưới.
1.2. Đường mật
Đường dẫn mật ngồi gan được tính từ ống gan chung nơi hội tụ của ống gan phải
và ống gan trái đến cơ vòng Oddi.Ống gan chung là sự tập hợp của ống gan phải và ống
gan trái.Ống gan phải nhận mật ở nửa gan phải,ống gan trái nhận mật ở nửa gan trái.Hai
ống đi từ trong gan ra rồi nối tiếp nhau thành ống gan chung ở trước chỗ chia đôi của tĩnh
mạch cửa hoặc hơi chếch sang phải.Ống gan chung chạy dọc bờ phải của mạc nối nhỏ
xuống dưới và hơi chếch sang trái có đường kính 4-5mm,dài 2-4mm thay đổi theo từng
người.Khi tới bờ trên của khúc I tá tràng thì ống gan chung nhận ống túi mật để hình
thành ống mật chủ
Ống mật chủ tiếp theo ống gan chung đi ra phía sau khúc I tá tràng rồi đi sau đầu
tụy để dổ vào bóng gan – tụy(bóng Valte) và đổ vào khúc II tá tràng cùng với ống tụy
chính.Ống mật chủ dài khoảng 5-6cm,đường kính khoảng 5-6mm,chỗ hẹp nhất là ở bóng
Valte và chỗ rộng nhất là ở sau tá tràng.
Túi mật hình bầu dục nằm trong rãnh dọc phải ở mặt dưới gan dài 8-10cm,rộng
3cm,túi mật chia thành 3 vùng:vùng đáy,vùng thân và vùng cổ.Vùng cổ túi mật phình ở
giữa một bể nhỏ(bể Hartman) là nơi sỏi thường dừng lại.

Sỏi mật ở Việt Nam chủ yếu là sỏi sắc tố mật,được tạo thành thường có hai nguyên nhân
cần lưu ý:
- Nhiễm ký sinh trùng đường mật, giun đũa từ ruột chui lên đường mật, trứng giun hay
xác giun làm nòng cốt rồi sắc tố mật, Canxi Bilrubinat bám vào, cùng với sự ứ đọng của
các tế bào niêm mạc đường ruột hoại tử bong ra là cơ sở hình thành sỏi ở ống mật chủ và
ở trong gan.
- Nhiễm khuẩn: các vi khuẩn chủ yếu theo giun từ ruột chui lên đường mật gây viêm
nhiễm, làm đường mật giãn to và ứ mật. Thành niêm mạc chui lên đường mật gây viêm
nhiễm và phù nề. Tế bào thành ống mật bị hoại tử bong ra hòa vào mật, các muối canxi
cùng các tổ chức hoại tử và mật kết tủa tạo thành sỏi hay bùn mật. Yếu tố ảnh hưởng đến
việc tạo sỏi ống mật chủ.
4 . Yếu tố ảnh hưởng đến tạo sỏi ống mật chủ
Ngồi hai chất chính cholesterol gây sỏi cholesterol và sắc tố bilirubin gây sỏi
đường mật có một số yếu tố ảnh hưởng đến việc tạo sỏi mật nhất là sỏi mật choleterol
như:


10

- Mập phì: là nguy cơ đáng ngại cho sỏi mật nhất là phụ nữ. Người ta giả định rằng mập
phì có khuynh hướng làm giảm số lượng muối mật bài tiết, do đó cũng làm tăng hàm
lượng cholesterol. Mập phì cũng làm giảm sự tổng xuất túi mật.
- Estrogen: lượng estrogen thặng dư do thai nghén, do uống thuốc kích thích tố, hay do
uống thuốc ngừa thai cũng được giả định làm tăng lượng cholesterol trong máu và làm
giảm chuyển động của túi mật. Cả hai điều kiện này đều dễ gây nên sỏi mật.
- Chủng tộc: người Mỹ thổ dân trong cơ thể chứa di thể có khuynh hướng làm tiết nhiều
cholesterol trong mật.Tỷ lệ người bị sỏi mật cao nhất là những người này.
- Giới tính: đàn bà thường bị sỏi mật nhiều hơn. Số đàn bà độ tuổi từ 20 đến 60 có nhiều
triển vọng bị sỏi mật nhiều hơn đàn ông.
- Tuổi tác: những người trên 60 tuổi dễ bị sỏi mật hơn.

- Khi sỏi mật đã gây biến chứng có biểu hiện nhiễm trùng, nhiễm độc: môi khô, lưỡi bẩn,
hơi thở hôi, người mệt mỏi, chán ăn, da vàng sạm, đái ít, vết ngứa trên da.
- Có thể có các dấu hiệu của suy thận như : đái ít,vơ niệu trong trường hợp nhiễm khuẩn
mật nặng.
5.4. Triệu chứng cận lâm sàng:
- Xét nghiệm huyết học: số lượng bạch cầu tăng,tốc độ máu lắng tăng
-Sinh hóa máu:Bilirrubin tăng, Phosphataza kiềm tăng, thời gian Quick tăng,Men
gan(SGOT và SGPT tăng),trường hợp nhiễm khuẩn nặng có suy thận thì Ure và Creatinin
máu tăng cao.
-Đông máu cơ bản: Prothrombin giảm làm cho thời gian đông máu kéo dài.
- Xét nghiệm nước tiểu : có nhiều sắc tố mật và muối mật.
- X quang:
+ Chụp bụng khơng chuẩn bị thấy bóng gan, bóng túi mật to.
+ Chụp đường mật qua da, chụp đường mật ngược dòng qua soi tá tràng xác định số
lượng sỏi, vị trí sỏi.
Siêu âm, chụp CT Scanner: xác định số lượng, vị trí sỏi, hình sỏi.


12

Hình 3 : Vị trí sỏi ống mật chủ
6.Biến chứng:
- Thấm mật phúc mạc: do thành ống mật chủ giãn, túi mật căng to làm thành túi mỏng,
nước mật đem theo cả vi khuẩn thấm vào ổ bụng.
- Viêm phúc mạc mật: vi khuẩn ở nước dịch mật vào ổ bụng gây viêm phúc mạc.
- Viêm đường mật có mủ và áp xe gan đường mật: tắc mật gây ứ đọng mật và nhiễm
khuẩn, trên mặt gan có nhiều ổ áp xe nhỏ rải rác, mủ thối, vi khuẩn thường gặp là Ecoli,
trực khuẩn mủ xanh.
- Viêm mủ túi mật hoại tử: thủng túi mật các tạng xung quanh hoặc mạc nối dính chặt tạo
thành đám cứng ở hạ sườn phải, hoặc bục ra gây viêm phúc mạc.


Dẫn lưu qua ống gan



Dẫn lưu túi mật
Thông thường, sau khi giải quyết lấy sỏi và dị vật ở đường mật thì phải tiến hành khâu

ống mật chủ. Nhằm đảm bảo an toàn cho đường khâu ống mật chủ, các bác sĩ thường sử
dụng sonde Kehr để dẫn lưu dịch mật.
8. Chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật sỏi mật có dẫn lưu Kerh( Quy trình được
trích dẫn từ cuốn Quy trình chăm sóc khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú
Thọ- năm 2016)
8.1. Chăm sóc sau mổ thường quy của phẫu thuật ổ bụng
* Chăm sóc 24 giờ đầu: mục đích là theo dõi để phát hiện và xử trí kịp thời các biến
chứng trong giai đoạn giữa mê và tỉnh.Điều dưỡng viên cần:
+Để người bệnh trong phịng thống mát về mùa hè,ấm về mùa đơng,khơng được
để q lạnh hoặc q nóng,đặc biệt ở người già và trẻ em.
+Tránh tụt lưỡi: đặt ống Mayo
+Tránh tắc đờm rãi: nếu người bệnh có dấu hiệu thở khị khè thì phải hút sạch đờm
rãi.


14

+Tránh trào ngược dịch dạ dày vào khí quản: để người bệnh nằm thẳng,nghiêng
đầu,theo dõi ống sonde dạ dày.
+Theo dõi mạch,nhiệt độ,huyết áp, nhịp thở và các ống dẫn lưu ổ bụng để phát
hiện sớm các biến chứng: suy hô hấp,chảy máu trong ổ bụng.
+Thực hiện thuốc theo y lệnh

+Ống Kerh được nối dẫn vào túi hoặc chai vô trùng, túi hoặc chai phải thấp hơn vị
trí đường mật để tránh trào ngược dịch mật vào trong đường mật.
+Đầu ngoài ống Kerh thường được quấn một vòng quanh một cuộn băng mềm sau
đó cố định cuộn băng vào thành bụng.
+Ống dẫn lưu Kerh phải thơng,ghi chính xác số lượng,màu sắc,tính chất của dịch
mật trong túi dẫn lưu hàng ngày.Trung bình dịch chảy qua Kerh khoảng 300-500ml/24
giờ trong những ngày đầu.Khi có trung tiện(3-4 ngày sau mổ) một phần dịch mật xuống tá
tràng,dịch mật qua Kerh khoảng 150-200ml/24 giờ.Nếu số lượng nhiều hơn 500ml thì có
thể do cịn sót sỏi gây tắc tại Oddi,cần báo Bác sỹ để có chỉ định bơm rửa Kerh.
+Dịch chảy qua ống Kerh thường có màu xanh ánh hoặc vàng trong.Trong trường
hợp có nhiều bùn mật,cặn sỏi hoặc dịch mật có mủ cần bơm rửa thường xuyên tránh tắc
Kerh.Nếu dịch mật có máu cần báo Bác sỹ ngay.
-Kỹ thuật bơm rửa Kerh
.Chuẩn bị dụng cụ: găng vô khuẩn,pank,gạc,thuốc sát khuẩn,dịch rửa ấm(thường
dùng huyết thanh mặn đẳng trương).Trường hợp chảy máu đường mật dùng huyết thanh
nóng 40°c,bơm tiêm 20ml và kim,khay quả đậu.
.Thao tác :
+Tháo ống Kerh khỏi ống nối,để đầu ngoài vào khay quả đậu
+Kẹp ống Kerh cách da 10cm.
+Bơm 10ml dịch rửa đoạn ngoài
+Bơm 10ml dịch rửa đoạn trong
+Mở kẹp kiểm tra ống có thơng khơng nếu mục địch là thơng ống Kerh.Nếu mục
đích là rửa đường mật khi dịch mật có nhiều bùn mật hoặc chảy máu đường mật thì tiếp
tục thao tác cho đến khi dịch mật chảy ra trong thì dừng lại
+Nối ống Kerh vào túi dẫn lưu mới
+Ghi nhận xét vào hồ sơ
+Thu dọn và lau rửa dụng cụ


16


Năm 1890Luwig Courvoisier là người đầu tiên phẫu thuật mở ống mật chủ lấy sỏi.

-

Năm 1896 Kehr là người đầu tiên đề xuất đặt dẫn lưu vào đường mật sau khi mở
đường mật lấy sỏi và đã chế tạo ra dẫn lưu mang tên ống dẫn lưu Kehr.

-

Năm 1897 Quenu là người đầu tiên thực hiện phẫu thuật mở ống mật chủ lấy sỏi có
đặt dẫn lưu Kehr.

B. Ở Việt nam :
1- Chămsóc người bệnh sau tán sỏi
Có nhiều phương pháp lấy sỏi sót sau mổ: mổ lại, lấy sỏi qua đường hầm Kehr, lấy
sỏi qua mật tuỵ ngược dòng và cắt cơ vòng, lấy sỏi qua da.Lấy sỏi qua đường hầm Kehr
là phương pháp nhẹ nhàng nhất, có thể làm nhiều lần, ít tai biến và biến chứng.
1.1- Ưu điểm
- Hình ảnh đường mật được nhìn thấy trực tiếp trên màn hình, rõ ràng giúp chúng ta xác
định sỏi dễ dàng. Phân biệt ảnh giả do khí, giả mạc…
- Vào sâu trong các ống mật để lấy sỏi.Kết hợp tán sỏi.Bơm rửa hiệu quả.
- Có thể làm nhiều lần cho đến khi sạch sỏi.
1.2- Tai biến và biến chứng: rách đường hầm, chảy máu nhẹ, tụ dịch dưới hoành, tụt ống
dẫn lưu, mất đường hầm trong quá trình lấy sỏi.
1.3- Kỹ thuật:Chẩn đốn sỏi sót bằng chụp mật qua Kehr và siêu âm. Lưu Kehr 3 tuần sau
mổ.Chụp đường mật và siêu âm lại.
- Chuẩn bị người bệnh: Nhịn ăn trước thủ thuật 6 giờ.
- Thực hiện tán sỏi ở phòng thủ thuật hoặc phòng mổ.
- Tiền mê (Dolargan, Pethidine, Hypnovel…).

Đánh giá mức độ đau theo thang điểm đau, vị trí đau. Nếu người bệnh đau lan lên
vai thì nên cho người bệnh nằm tư thế Fowler hay ngồi dậy.Giải thích cho người bệnh yên
tâm.Nếu người bệnh đau vết mổ nên hướng dẫn người bệnh dùng gối tỳ vào bụng khi
ngồi dậy để giảm đau.
Khuyến khích người bệnh ngồi dậy đi lại sớm giúp người bệnh dễ chịu hơn.
2.2.2. Hệ thống dẫn lưu Kehr không đạt hiệu quả, gây loét da và đặt lâu ngày
- Sau khi mổ sỏi đường mật, phẫu thuật viên thường đặt Kehr để giải áp đường mật,
theo dõi (màu sắc, lượng mật ra hàng ngày, chảy máu đường mật...), làm nòng (nong ống
mật chủ bị hẹp), điều trị (bơm rửa ống mật chủ, tán sỏi sót sau mổ), tán sỏi sau mổ.


19

- Dẫn lưu Kehr ln được chảy ra ngồi liên tục ngay sau mổ. Quan sát chân dẫn lưu có
thấm dịch mật không? Điều dưỡng nên thay băng ngay nếu thấm dịch qua băng, nếu số
lượng dịch xì rị qua chân dẫn lưu quá nhiều nên đặt túi dán cho người bệnh hoặc nếu cần
thì đặt máy hút qua chân dẫn lưu, đồng thời ngừa rơm lở da tích cực cho người bệnh.
Theo dõi hệ thống dẫn lưu có hoạt động tốt hay không, tránh đè lên dẫn lưu.Túi chứa dẫn
lưu luôn thấp hơn chân dẫn lưu 60cm.
2.2.3- Theo dõi tính chất mật:
- Chú ý khơng được giơ cao bình hứng dịch khi quan sát, tránh dịch từ ngoài chảy vào
trong ống mật chủ. Bình thường mật vàng trong, óng ánh. Nếu mật lợn cợn có máu cục,
điều dưỡng theo dõi chảy máu. Nếu mật màu trắng đục điều dưỡng theo dõi có mủ, nếu
mật nâu lợn cợn theo dõi cịn sỏi khơng.
- Bơm rửa đường mật là do cịn sỏi hay mủ: Điều dưỡng bơm với nước muối sinh lý ấm,
áp lực nhẹ, khoảng 10–20ml lần bơm (tuỳ tính chất dịch mật). Bơm rửa 5–7 ngày liên tiếp
dịch mật sẽ trong.
2.2.4- Điều kiện rút Kehr: thời gian 7–8 ngày sau mổ, người bệnh hết đau, hết sốt, ăn
uống tốt, nước mật giảm, vàng trong, siêu âm hết sỏi, X quang có thuốc cản quang qua
Kehr kiểm tra thấy đường mật thơng.

2.6. Người bệnh vàng da niêm, ngứa do sắc tố mật ngấm qua da
Cho người bệnh uống nhiều nước, vệ sinh da sạch, tránh trầy da do gãi ngứa, cắt
ngắn móng tay. Thực hiện thuốc kháng dị ứng, theo dõi xét nghiệm Bilirubin. Người bệnh
vàng da thì nước tiểu sẽ vàng do nước tiểu có bilirubin; do đó người bệnh sẽ ngứa và
nguy cơ nhiễm trùng cao. Điều dưỡng chăm sóc bộ phận sinh dục sau khi đi tiểu như rửa
sạch, lau khơ ngay, thay quần lót thường xuyên, tránh mặc quần quá dày hay quá chật.
2.7. Bệnh lý làm người bệnh ăn kém ngon
Người bệnh nên vệ sinh răng miệng sạch sẽ, hạn chế thức ăn béo, nhiều dầu mỡ
trong thời gian đầu sau mổ. Cho người bệnh uống nhiều nước.Theo dõi các dấu hiệu đau
bụng, khó tiêu, nặng bụng. Vệ sinh trong ăn uống, uống thuốc kháng giun.
3. Theo dõi biến chứng sau mổ
3.1. Chảy máu sau mổ: qua dẫn lưu, thường dẫn lưu khơng có máu. Nếu trong trường hợp
có máu thì theo dõi chảy máu sau mổ. Điều dưỡng theo dõi dấu chứng sinh tồn, số lượng
máu, da xanh niêm mạc xanh nhợt, báo phẫu thuật viên ngay.


21

3.2. Sốc nhiễm trùng: theo dõi nhiệt độ thường xuyên, thực hiện kháng sinh theo y lệnh,
phát hiện sớm và hồi sức người bệnh. Thực hiện các kỹ thuật chăm sóc vơ trùng. Rửa tay
trước và sau khi chăm sóc người bệnh.
3.3. Rò mật, mật tràn ra thành bụng: chân dẫn lưu chảy dịch mật liên tục, điều dưỡng
chăm sóc da ngừa rôm lở da. Điều dưỡng đặt túi dán hay hút dịch qua chân dẫn lưu, theo
dõi số lượng dịch mật, giúp người bệnh sạch sẽ.
3.4. Viêm phúc mạc mật: người bệnh sốt cao, bụng gồng cứng, có các triệu chứng viêm
phúc mạc. Điều dưỡng chăm sóc hồi sức người bệnh, thực hiện bù nước, điện giải, hạ sốt,
thở oxy, tư thế giảm đau, thực hiện kháng sinh và chuẩn bị trước mổ để mổ cấp cứu.
3.5. Viêm tuỵ cấp: sau mổ sỏi mật người bệnh có nguy cơ viêm tuỵ cấp. Điều dưỡng theo
dõi đau bụng vùng thượng vị, đau dữ dội, nơn ói, Amilase máu tăng cao. Điều dưỡng hút
liên tục dẫn lưu dạ dày, không cho người bệnh ăn uống và chuẩn bị người bệnh trước mổ

Dấu hiệu sinh tồn được theo dõi tùy theo tình trạng người bệnh, giai đoạn bệnh,
tùy vào loại phẫu thuật. Người điều dưỡng theo dõi dấu hiệu sinh tồn trong ngày đầu 3060phút/ lần và thời gian theo dõi có thể 12 giờ hoặc 24 giờ sau phẫu thuật. Những ngày
tiếp theo nếu dấu hiệu sinh tồn bình thường theo dõi ngày 2 lần.
- Ở chuyên đề này tôi nhận thấy dấu hiệu sinh tồn của người bệnh thực sự chưa được
theo dõi đúng quy định. Trong 12 giờ đầu dấu hiệu sinh tồn được theo dõi đầy đủ các chỉ
số về huyết áp, mạch, nhịp thở, nhiệt độ. Tuy nhiên những ngày sau dấu hiệu sinh tồn
được theo dõi ngày 01 lần,và khi người bệnh có diễn biến bất thường như đau,sốt chỉ
được theo dõi các chỉ số về huyết áp và nhiệt độ, còn chỉ số mạch, nhịp thở không được
theo dõi.
-Các chỉ số sinh tồn người điều dưỡng chưa thực hiện đúng quy trình như thông báo và
để người bệnh nghỉ 15 phút trước khi thực hiện quy trình ảnh hưởng đến độ chính xác
của các chỉ số.
1.2- Chăm sóc dẫn lưu :
1.2.1- Chăm sóc ốngdẫn lưu Kehr



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status